Bước tới nội dung

Gustav Mahler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Gustav Mahler
Tập tin:Photo of Gustav Mahler by Moritz Nähr 01.jpg
Gustav Mahler vào năm 1907
Sinh(1860-07-07)7 tháng 7, 1860
Bohemia
Mất18 tháng 5, 1911(1911-05-18) (50 tuổi)
Viên, Đế quốc Áo-Hung
Nơi an nghỉNghĩa trang Grinzich, Viên
Nghề nghiệp
  • Nhà soạn nhạc
  • nhạc trưởng
Chữ ký

Gustav Mahler (tiếng Đức: [ˈɡʊstaf ˈmaːlɐ] Tập âm thanh "De-Gustav Mahler.ogg" không có sẵn; 7 tháng 7 năm 1860 – 18 tháng 5 năm 1911) là một nhà soạn nhạc thuộc trường phái Lãng mạn người Áo gốc Bohemia, đồng thời là một trong những nhạc trưởng hàng đầu trong thế hệ của ông. Là một nhà soạn nhạc, ông đóng vai trò như một cầu nối giữa truyền thống âm nhạc Áo-Đức thế kỷ 19 và âm nhạc hiện đại của đầu thế kỷ 20. Trong khi sinh thời vị thế nhạc trưởng của ông được khẳng định vững chắc và không thể tranh cãi, thì âm nhạc của ông lại chỉ thực sự trở nên phổ biến rộng rãi sau những giai đoạn bị tương đối lãng quên—trong đó bao gồm cả lệnh cấm biểu diễn tại phần lớn châu Âu dưới thời Đức Quốc xã. Sau năm 1945, các tác phẩm của ông đã được một thế hệ thính giả mới khám phá trở lại. Kể từ đó, Mahler trở thành một trong những nhà soạn nhạc có tác phẩm được biểu diễn và thu âm nhiều nhất cho đến thế kỷ XXI.

Sinh ra tại Bohemia trong một gia đình Do Thái có xuất thân bình dân, Mahler đã bộc lộ thiên bẩm âm nhạc của mình ngay từ nhỏ. Sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Viên vào năm 1878, ông liên tiếp đảm nhiệm các vị trí chỉ huy dàn nhạc với tầm quan trọng ngày càng cao tại các nhà hát opera trên khắp châu Âu; đỉnh cao trong sự nghiệp của ông là việc được bổ nhiệm làm Giám đốc Nhà hát Opera Hoàng gia Viên (Hopofer) vào năm 1897. Trong mười năm sống tại Viên—nơi ông đã cải đạo sang Công giáo để có thể nhận chức vụ này—Mahler thường phải đối mặt với sự phản đối và thù địch từ giới báo chí bài Do Thái. Tuy nhiên, những dàn dựng tiên phong và sự quyết duy trì các tiêu chuẩn biểu diễn ở mức cao nhất đã giúp ông khẳng định danh tiếng là một trong những nhạc trưởng opera vĩ đại nhất, đặc biệt là trong vai trò người diễn giải các tác phẩm sân khấu của Wagner, Mozart, và Tchaikovsky. Đến cuối đời, ông từng có thời gian ngắn giữ chức Giám đốc Metropolitan Opera tại New York và Dàn nhạc Philharmonic New York.

Danh sách tác phẩm của Mahler tương đối hạn chế; trong phần lớn cuộc đời, việc sáng tác chỉ là hoạt động bán thời gian trong khi ông mưu sinh bằng nghề chỉ huy dàn nhạc. Ngoại trừ những tác phẩm thời kỳ đầu—chẳng hạn như một chương trong bản Tứ tấu dương cầm được sáng tác khi ông còn là sinh viên tại Viên, các tác phẩm của Mahler nhìn chung đều được viết cho dàn nhạc quy mô lớn, dàn hợp xướng giao hưởng và các giọng ca đơn ca opera. Những tác phẩm này thường gây tranh cãi khi được công diễn lần đầu và phải mất nhiều thời gian để một số tác phẩm nhận được sự tán thưởng từ giới phê bình cũng như công chúng; những ngoại lệ nổi bật gồm bản Giao hưởng số 2 của ông, và buổi công diễn ra mắt thành công bản Giao hưởng số 8 vào năm 1910. Một số người kế tục sự nghiệp âm nhạc của Mahler sau này bao gồm các nhà soạn nhạc thuộc Trường phái Viên thứ hai, tiêu biểu là Arnold Schoenberg, Alban BergAnton Webern. Dmitri ShostakovichBenjamin Britten là những nhà soạn nhạc thuộc giai đoạn sau của thế kỷ XX đã bày tỏ sự ngưỡng mộ và chịu sự ảnh hưởng từ Mahler. Hội Gustav Mahler Quốc tế được thành lập vào năm 1955 nhằm tôn vinh cuộc đời và những thành tựu của nhà soạn nhạc này.

Tiểu sử

Đầu đời

Gia thế

View of a street of old buildings, the largest of which is a tall clock tower with an archway
Jihlava, thành phố nơi Mahler lớn lên

Gia đình Mahler có nguồn gốc từ miền đông Bohemia, nay thuộc Cộng hòa Séc, và có hoàn cảnh khiêm tốn; bà nội của nhà soạn nhạc từng là một người bán hàng rong.[1] Vào thời điểm đó, Bohemia là một phần của Đế quốc Áo; gia đình Mahler thuộc về một nhóm thiểu số nói tiếng Đức trong cộng đồng người Bohemia, đồng thời mang dòng máu Do Thái. Chính từ hoàn cảnh này mà ngay từ nhỏ, Mahler đã hình thành một cảm thức thường trực về sự lưu lạc, cảm giác rằng mình "luôn là kẻ ngoại lai, chẳng bao giờ được chào đón".[2] Bernhard Mahler, con trai của bà bán hàng rong và cha của nhà soạn nhạc, đã vươn lên tầng lớp tiểu tư sản nhờ nghề đánh xe ngựa, và sau đó trở thành chủ của một nhà nghỉ.[3] Ông mua một ngôi nhà nhỏ tại ngôi làng Kaliště (tiếng Đức: Kalischt), và vào năm 1857, ông kết hôn với Marie Herrmann, cô con gái 19 tuổi của một nhà sản xuất xà phòng tại địa phương. Một năm sau đó, Marie hạ sinh người con đầu lòng trong số 14 người con của cặp đôi này: một bé trai tên là Isidor, đã qua đời khi còn rất nhỏ. Hai năm sau, vào ngày 7 tháng 7 năm 1860, người con trai thứ hai của họ là Gustav đã chào đời.[4]

Thời thơ ấu

Tháng 12 năm 1860, Bernhard Mahler cùng vợ và cậu con trai chuyển đến thành phố Jihlava (tiếng Đức: Iglau);[4] tại đây, Bernhard đã gây dựng được một cơ sở kinh doanh nhà máy chưng cất rượu và một vài quán rượu thành đạt.[5] Gia đình ông phát triển nhanh chóng, tuy nhiên, trong số 12 người con chào đời tại thành phố này, chỉ có sáu người sống qua tuổi trưởng thành.[4] Khi ấy, Jihlava là một thành phố thương mại sầm uất với dân số 20.000 người; tại đây, Gustav bắt đầu làm quen với âm nhạc qua những bài hát đường phố thịnh hành thời bấy giờ, qua các điệu nhạc khiêu vũ, những giai điệu dân gian, cũng như tiếng kèn hiệu và các bản hành khúc của ban nhạc quân đội địa phương.[6] Tất cả những yếu tố này về sau góp phần định hình vốn ngôn ngữ âm nhạc hoàn thiện của ông.[3]

Năm bốn tuổi, Gustav tình cờ phát hiện cây đàn dương cầm của ông bà và ngay lập tức tỏ ra hứng thú với nhạc cụ.[7] Cậu trau dồi kỹ năng biểu diễn đủ để coi là một thần đồng địa phương và cậu có buổi biểu diễn công khai đầu tiên tại nhà hát thị trấn năm mười tuổi.[3] Mặc dù Gustav thích sáng tác âm nhạc, nhưng các bản báo cáo học tập từ trường Trung học Jihlava lại mô tả cậu là một học sinh hay lơ đãng và thiếu nghiêm túc trong học tập.[7] Năm 1871, với hy vọng cải thiện kết quả học tập của cậu con trai, cha cậu đã gửi cậu đến học tại trường Trung học New Town ở Praha; tuy nhiên, Gustav cảm thấy không hạnh phúc tại ngôi trường này và chẳng bao lâu sau cậu được đưa về Jihlava.[8] Vào ngày 13 tháng 4 năm 1875, cậu phải gánh chịu nỗi đau mất mát cá nhân lớn khi người em trai Ernst (sinh ngày 18 tháng 3 năm 1862) qua đời sau một thời gian dài lâm bệnh. Mahler đã tìm cách gửi gắm những cảm xúc của mình vào âm nhạc: nhờ sự giúp đỡ của một người bạn tên là Josef Steiner, cậu bắt tay vào sáng tác một vở opera mang tựa đề Herzog Ernst von Schwaben ("Công tước Ernest xứ Swabia") nhằm tưởng nhớ người em trai đã khuất. Cả phần âm nhạc lẫn phần lời của tác phẩm này đều không còn sót lại.[7]

Thời học sinh

Bernhard Mahler ủng hộ khát vọng theo đuổi sự nghiệp âm nhạc của con trai mình và đồng ý cho cậu thi thử vào Nhạc viện Vienna.[9] Mahler được nghệ sĩ dương cầm danh tiếng Julius Epstein đánh giá năng lực và được nhận vào học niên khóa 1875–1876.[8] Ông đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc học piano dưới sự hướng dẫn của Epstein và giành giải thưởng vào cuối mỗi năm trong hai năm đầu tiên. Trong năm học cuối (1877–1878), ông tập trung vào sáng tác và hòa âm dưới sự chỉ dẫn của Robert FuchsFranz Krenn.[10][11] Chỉ có một số ít các tác phẩm thời sinh viên của Mahler còn tồn tại; phần lớn đã bị xóa bỏ khi ông không còn hài lòng với chúng. Ông đã tiêu hủy một chương giao hưởng được chuẩn bị cho cuộc thi cuối kỳ sau khi bị giám đốc độc đoán Joseph Hellmesberger bác bỏ một cách khinh miệt với lý do có lỗi sao chép.[12] Mahler có thể đã tích lũy những kinh nghiệm chỉ huy đầu tiên cùng dàn nhạc sinh viên của Nhạc viện, thông qua các buổi tập và biểu diễn, mặc dù vai trò chính của ông trong dàn nhạc này có vẻ là nghệ sĩ bộ gõ.[13]

Man wearing a cloak and an outsized bow tie, facing to the right with a severe expression
Là một học sinh, Mahler chịu sự ảnh hưởng của Richard Wagner và trở thành người diễn giải hàng đầu các vở opera của Wagner sau này.

Trong số các bạn học cùng lớp với Mahler tại Nhạc viện có nhà soạn nhạc tương lai Hugo Wolf, giữa hai người đã hình thành một tình bạn thắm thiết. Vì Wolf không thể tuân thủ kỷ luật nghiêm khắc của Nhạc viện nên đã bị cho thôi học. Mahler, dù đôi lúc cũng có tính cách nổi loạn, đã tránh được số phận tương tự nhờ việc viết một bức thư bày tỏ sự ăn năn tới Hellmesberger.[12] Ông thỉnh thoảng tham dự các bài giảng của Anton Bruckner; mặc dù chưa bao giờ chính thức là học trò của ông, nhưng Mahler vẫn chịu ảnh hưởng từ ông. Vào ngày 16 tháng 12 năm 1877, ông có mặt tại buổi công diễn đầy thảm họa của Bản giao hưởng số 3 của Bruckner, nơi nhà soạn nhạc bị khán giả la ó, và phần lớn người nghe bỏ về giữa chừng. Sau đó, Mahler cùng một số bạn học cảm thông khác đã soạn một bản chuyển soạn của tác phẩm cho dương cầm và dành tặng ông.[13] Như nhiều sinh viên âm nhạc cùng thời, Mahler đã hoàn toàn bị cuốn hút bởi Richard Wagner, mặc dù mối quan tâm chính của ông nằm ở âm thanh của bản nhạc hơn là phần dàn dựng sân khấu. Hiện chưa rõ liệu ông đã xem bất kỳ vở opera nào của Wagner trong thời sinh viên.[14]

Mahler rời nhạc viện vào năm 1878 với một tấm bằng tốt nghiệp, nhưng không nhận được huy chương bạc vốn được trao tặng cho những thành tích xuất sắc.[15] Sau đó, ông theo học tại Đại học Viên (theo sự thúc ép của cha, ông vất vả đỗ kỳ thi Matura, một kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông vô cùng khắt khe và là điều kiện tiên quyết để được vào đại học), đồng thời theo học các khóa học phản ánh mối quan tâm ngày càng sâu sắc của ông đối với văn học và triết học.[16] Sau khi rời trường đại học vào năm 1879, Mahler tiếp tục sáng tác và kiếm sống bằng nghề dạy piano. Năm 1880, ông hoàn thành một bản cantata kịch tính mang tên Das klagende Lied ("Bài ca than thở"). Đây là tác phẩm quy mô lớn đầu tiên của ông, mang đậm ảnh hưởng từ phong cách của Wagner và Bruckner, song vẫn chứa nhiều yếu tố âm nhạc mà nhà âm nhạc học Deryck Cooke mô tả là "mang tính Mahler thuần túy".[17] Buổi công diễn đầu tiên của tác phẩm này đã bị trì hoãn cho đến tận năm 1901, khi nó được trình diễn dưới một phiên bản đã qua chỉnh sửa và rút gọn.[18]

Mahler bắt đầu quan tâm đến triết học Đức và được người bạn Siegfried Lipiner giới thiệu các tác phẩm của Arthur Schopenhauer, Friedrich Nietzsche, Gustav FechnerHermann Lotze. Những nhà tư tưởng này tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc đến Mahler và âm nhạc của ông, ngay cả khi thời sinh viên của ông đã khép lại từ lâu. Jonathan Carr—người viết tiểu sử về Mahler—nhận định rằng tâm trí của nhà soạn nhạc "không chỉ tràn ngập âm thanh của các ban nhạc Bohemia, tiếng kèn trumpet vang vọng hay những bản hành khúc, những khúc hợp xướng của Bruckner và các bản sonata của Schubert, mà còn luôn sôi sục với những vấn đề thuộc về triết học và siêu hình học mà ông đã dày công mổ xẻ, đặc biệt là cùng với Lipiner."[19]

1880–1888: Sự nghiệp chỉ huy ban đầu

Những vị trí đầu tiên

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1880, Mahler đảm nhận công việc chỉ huy chuyên nghiệp đầu tiên của mình tại một nhà hát gỗ nhỏ ở thị trấn nghỉ dưỡng Bad Hall, phía nam Linz.[15] Tiết mục biểu diễn tại đây hoàn toàn là operetta; theo lời Carr, đó là "một công việc nhỏ và ảm đạm" mà Mahler chỉ chấp nhận sau khi được Julius Epstein bảo rằng ông sẽ sớm thăng tiến trong sự nghiệp.[19] Năm 1881, ông ký hợp đồng làm việc trong sáu tháng (từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau) tại Nhà hát Landestheater ở Laibach (nay là Ljubljana thuộc Slovenia). Đoàn nghệ thuật tại đây tuy nhỏ nhưng tháo vát sẵn sàng thử sức với những tác phẩm đồ sộ và đầy tham vọng hơn. Tại đây, Mahler chỉ huy vở opera quy mô hoàn chỉnh đầu tiên trong sự nghiệp của mình–vở Il trovatore của Verdi–một trong mười vở opera cùng nhiều vở operetta khác mà ông đã trình diễn trong thời gian tại Laibach.[20] Sau khi kết thúc hợp đồng, Mahler trở về Viên và làm việc chỉ huy hợp xướng bán thời gian tại Nhà hát Carltheater tại đó.[21]

Từ đầu tháng 1 năm 1883, Mahler đảm nhận vị trí nhạc trưởng tại Nhà hát Hoàng gia Thành phố ở Olmütz (nay là Olomouc) thuộc vùng Morava.[20] Sau này ông viết rằng: "Ngay từ khoảnh khắc bước qua ngưỡng cửa của nhà hát Olmütz, tôi đã cảm thấy mình đang chờ đợi cơn thịnh nộ của Chúa."[22] Bất chấp mối quan hệ không mấy tốt đẹp với dàn nhạc, Mahler vẫn đưa chín vở opera lên sân khấu nhà hát, trong đó có vở Carmen của Bizet, và đã chinh phục được giới báo chí ban đầu tỏ ra hoài nghi về tài năng của ông.[22] Sau một tuần thử việc tại Nhà hát Hoàng gia ở thị trấn Kassel thuộc bang Hessen, Mahler chính thức trở thành "Giám đốc Âm nhạc và Hợp xướng" của nhà hát kể từ tháng 8 năm 1883.[21] Danh hiệu này che giấu một thực tế rằng Mahler chỉ là cấp dưới của giám đốc âm nhạc (Kapellmeister) tại nhà hát là Wilhelm Treiber, vốn không thích Mahler (và ngược lại), và đã tìm mọi cách để khiến cuộc sống của ông trở nên khốn khổ.[23] Bất chấp bầu không khí khó chịu, Mahler vẫn có được những khoảnh khắc thành công tại Kassel. Ông đã chỉ huy dàn nhạc trình diễn vở opera yêu thích của mình, vở Der Freischütz của Weber,[24]cùng 25 vở opera khác. Vào ngày 23 tháng 6 năm 1884, ông chỉ huy phần nhạc nền do ông sáng tác cho vở kịch Der Trompeter von Säckingen ("Người thổi kèn ở Säckingen") của Joseph Victor von Scheffel; đây là buổi công diễn chuyên nghiệp đầu tiên trước công chúng đối với một tác phẩm của Mahler.[gc 1] Một mối tình nồng nhiệt nhưng cuối cùng là dang dở với nữ ca sĩ giọng soprano Johanna Richter đã thôi thúc Mahler viết một loạt bài thơ tình; những bài thơ này về sau trở thành phần lời cho chuỗi ca khúc Lieder eines fahrenden Gesellen ("Những bài ca của người lữ hành") của ông.[23]

Vào tháng 1 năm 1884, nhạc trưởng danh tiếng Hans von Bülow đưa Dàn nhạc Hoàng gia Meiningen đến Kassel và tổ chức hai buổi hòa nhạc. Với hy vọng thoát khỏi công việc tại nhà hát, Mahler đã xin làm trợ lý thường trực cho Bülow nhưng không thành. Nhưng vào năm sau, nỗ lực tìm việc làm mới của ông đã mang lại một bản hợp đồng sáu năm với Nhà hát Opera Leipzig danh tiếng, bắt đầu từ tháng 8 năm 1886. Vì không muốn ở lại Kassel thêm một năm, Mahler nộp đơn xin từ chức vào ngày 22 tháng 6 năm 1885; ông sau đó ứng tuyển một công việc mới; nhờ may mắn, ông được mời nhận vị trí nhạc trưởng dự khuyết tại Nhà hát Hoàng gia Neues Deutsches ở Praha dưới sự bổ nhiệm của tân giám đốc nhà hát Angelo Neumann.[25]

Praha và Leipzig

Light-coloured two-storey stone building with an ornamental ledge below the roof. There are rows of five windows at ground level and the floor above, with a balcony at the middle upper window.
Căn nhà của Mahler tại Leipzig, nơi ông viết bản Giao hưởng số 1

Tại Praha, sự trỗi dậy của Phong trào Phục hưng Dân tộc Séc đã gia tăng độ phổ biến cũng như tầm quan trọng của Nhà hát Quốc gia Séc mới, đồng thời dẫn đến sự suy thoái của Nhà hát Đức mới. Nhiệm vụ của Mahler là giúp ngăn chặn đà suy thoái này bằng cách phục dựng những vở opera tiếng Đức với chất lượng nghệ thuật cao.[26] Ông gặt hái thành công ban đầu khi trình diễn các tác phẩm của Mozart và Wagner, những nhà soạn nhạc đặc biệt gắn liền với tên tuổi của ông trong suốt sự nghiệp của mình,[24] nhưng phong cách chỉ huy đầy cá tính và ngày càng độc đoán của ông đã gây ra xích mích, dẫn đến sự rạn nứt mối quan hệ với đồng nghiệp Ludwig Slansky giàu kinh nghiệm hơn.[26] Trong 12 tháng ở Praha, ông đã chỉ huy 68 buổi biểu diễn cho 14 vở opera (trong đó có 12 tác phẩm mới mẻ đối với vốn tiết mục của ông) và ông cũng chỉ huy bản Giao hưởng số 9 của Beethoven lần đầu tiên trong đời mình. Vào cuối mùa diễn, tháng 7 năm 1886, Mahler rời Praha để nhận nhiệm vụ tại Nhà hát Thành phố mới ở Leipzig; tại đây, cuộc cạnh tranh với người đồng nghiệp cấp trên là Arthur Nikisch đã nổ ra gần như ngay lập tức. Xung đột này chủ yếu xoay quanh việc hai người sẽ phân chia trách nhiệm chỉ huy như thế nào đối với loạt tác phẩm mới của nhà hát: chu trình Ring của Wagner. Việc Nikisch lâm bệnh từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1887 đã khiến Mahler phải đảm nhận việc chỉ huy toàn bộ chu trình này (ngoại trừ vở Götterdämmerung), và ông đã gặt hái thành công vang dội trước công chúng. Tuy nhiên, thành công này không giúp ông có được thiện cảm từ phía dàn nhạc vốn bất mãn trước phong thái độc đoán cũng như lịch trình tập luyện dày đặc mà ông áp đặt cho họ.[27][28]

Tại Leipzig, Mahler kết thân với Đại úy Carl von Weber [de] (1849–1897), cháu nội của nhà soạn nhạc cùng tên, và đồng ý biên soạn một phiên bản biểu diễn cho vở opera Die drei Pintos (Ba con ngựa khoang) còn dang dở của Carl Maria von Weber. Mahler đã chuyển soạn và phối khí lại các bản thảo âm nhạc hiện có, sử dụng thêm một số đoạn trích từ các tác phẩm khác của Weber, đồng thời bổ sung một vài đoạn nhạc của mình vào đó.[29] Buổi công diễn ra mắt tại Nhà hát Opera Hamburg vào ngày 20 tháng 1 năm 1888 là một sự kiện trọng đại, với sự xuất hiện của nhiều giám đốc đến từ các nhà hát opera trên khắp nước Đức. (Nhà soạn nhạc người Nga Tchaikovsky cũng đã tham dự buổi biểu diễn thứ ba vào ngày 29 tháng 1).[30] Tác phẩm này nhận được sự đón nhận nồng nhiệt; thành công của nó góp phần to lớn vào việc nâng cao danh tiếng của Mahler trước công chúng, đồng thời mang lại cho ông những khoản danh thu đáng kể.[29] Mối quan hệ giữa Mahler và gia đình Weber trở nên phức tạp bởi những đồn đoán về tình cảm mà Mahler dành cho Marion Mathilde (1857–1931)—vợ của Carl von Weber. Mối tình này, dù được cho là vô cùng mãnh liệt từ cả hai phía—theo lời đồn của một số nhân vật đương thời như nhà soạn nhạc người Anh Ethel Smyth—cuối cùng lại chẳng đi đến đâu. Trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1888, Mahler đã phác thảo và hoàn thiện bản Giao hưởng số 1, khi ấy gồm năm chương. Cũng trong khoảng thời gian đó, Mahler tình cờ khám phá ra tuyển tập thơ ca dân gian Đức mang tên Des Knaben Wunderhorn ("Chiếc sừng thần kỳ của chàng trai trẻ"), một tác phẩm văn học mà sẽ trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo, chi phối phần lớn các sáng tác của ông trong suốt 12 năm sau.[31][gc 2]

Ngày 17 tháng 5 năm 1888, Mahler đột ngột từ chức vị trí tại Leipzig sau xung đột với trưởng bộ phận dàn dựng sân khấu của Nhà hát Thành phố (Stadttheater) Albert Goldberg.[33] Tuy nhiên, trước đó Mahler đã âm thầm nhận được lời mời từ Angelo Neumann tại Prague (và ông đã chấp thuận) để chỉ huy buổi công diễn ra mắt tác phẩm Die drei Pintos "của chính ông"; ông sau đó cũng được mời dàn dựng vở Der Barbier von Bagdad của Peter Cornelius. Giai đoạn lưu lại ngắn ngủi này (từ tháng 7 đến tháng 9) khép lại một cách không mấy suôn sẻ, khi Mahler bị sa thải sau một lần nổi nóng ngay trong buổi diễn tập. Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực vận động của một người bạn cũ tại Viên là Guido Adler cùng nghệ sĩ cello David Popper, Mahler đã được đề cử vào vị trí giám đốc tiềm năng của Nhà hát Opera Hoàng gia Hungary tại Budapest. Ông được phỏng vấn, để lại ấn tượng tốt đẹp, và được đề nghị đảm nhiệm chức vụ này kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1888. Ông chấp nhận lời đề nghị này, mặc dù có chút đắn đo.[34]

Nhà soạn nhạc tập sự

Young dark-haired man wearing a loose necktie with a white shirt and a dark jacket
Mahler năm 1892
Tập tin:Gustav Mahler Symphony no. 1 2nd movement excerpt.mp3
Trích dẫn chương II của Giao hưởng số 1

Trong những năm đầu của sự nghiệp chỉ huy, sáng tác là một hoạt động lúc Mahler rảnh rỗi . Giữa thời gian làm việc tại Laibach và Olmütz, ông đã phổ nhạc cho những vần thơ của Richard LeanderTirso de Molina; các tác phẩm này về sau được tập hợp thành Tập I của bộ Lieder und Gesänge ("Các bài hát và Khúc ca").[35] Chu kỳ ca khúc cho dàn nhạc đầu tiên của Mahler là Lieder eines fahrenden Gesellen, được sáng tác tại Kassel và dựa trên chính những vần thơ do ông tự viết, mặc dù bài thơ mở đầu mang tên "Wenn mein Schatz Hochzeit macht" ("Khi người tình của tôi trở thành cô dâu") lại bám sát nguyên bản của một bài thơ trong tuyển tập Wunderhorn.[32] Giai điệu của bài hát thứ hai và thứ tư trong chu kỳ này sau đó đã được đưa vào Bản giao hưởng số 1, được Mahler hoàn thiện vào năm 1888, vào thời điểm mối quan hệ giữa ông và Marion von Weber đang ở giai đoạn nồng nàn nhất. Cường độ mãnh liệt trong tình cảm của Mahler được phản ánh rõ nét qua âm nhạc của tác phẩm này; ban đầu, nó được viết dưới hình thức một bản giao hưởng thơ gồm năm chương, đi kèm với một chương trình nội dung mang tính tự sự. Một trong số các chương đó—chương "Blumine" (Hoa nở), vốn sau này đã bị loại bỏ—được xây dựng dựa trên một đoạn nhạc trích từ tác phẩm trước đó của ông là Der Trompeter von Säckingen.[36][29] Sau khi hoàn tất bản giao hưởng nói trên, Mahler tiếp tục sáng tác một bản giao hưởng thơ dài 20 phút mang tựa đề Totenfeier ("Lễ tang"), về sau trở thành chương đầu của bản Giao hưởng số 2 của ông.[37]

Đã xuất hiện nhiều đồn đoán xoay quanh những tác phẩm bị thất lạc hoặc bị hủy hoại từ giai đoạn đầu sự nghiệp của Mahler.[38] Nhạc trưởng người Hà Lan Willem Mengelberg từng nhận định rằng Bản giao hưởng số 1 quá hoàn thiện để được gọi là tác phẩm giao hưởng đầu tay, và chắc chắn phải có những tác phẩm được viết trước đó. Năm 1938, Mengelberg đã tiết lộ về sự tồn tại của cái gọi là "kho lưu trữ Dresden", tập hợp các bản thảo hiện đang nằm trong tay góa phụ Marion von Weber.[39] Theo nhà sử học chuyên về Mahler là Donald Mitchell, những bản thảo quan trọng thuộc các tác phẩm giao hưởng thời kỳ đầu của Mahler khả năng cao đã từng được lưu giữ tại Dresden;[39] nếu tồn tại kho lưu trữ này thì rất có thể nó đã bị phá hủy trong đợt ném bom xuống Dresden năm 1945.[29]

1888–1897: Budapest và Hamburg

Nhà hát Opera Hoàng gia, Budapest

Tập tin:Gustav Mahler 1896.jpg
Mahler năm 1896

Khi đến Budapest vào tháng 10 năm 1888, Mahler đã chứng kiến sự xung đột văn hóa giữa phe chủ nghĩa dân tộc Hungary bảo thủ, những người ủng hộ chính sách Magyar hóa, và phe cấp tiến với mong muốn duy trì và phát triển các truyền thống văn hóa Áo-Đức của đất nước. Tại nhà hát opera, dưới sự lãnh đạo của Giám đốc âm nhạc Sándor Erkel, nhóm bảo thủ chiếm ưu thế duy trì một danh mục biểu diễn khá hạn hẹp, chủ yếu bao gồm các vở opera mang tính lịch sử và dân gian. Vào thời điểm Mahler bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ, phe cấp tiến đã giành được thế thượng phong sau khi ông Ferenc von Beniczky—một người có tư tưởng tự do—được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành nhà hát.[40] Trước tình thế nhạy cảm này, Mahler đã hành động thận trọng; ông trì hoãn lần xuất hiện đầu tiên trên bục chỉ huy cho đến tận tháng 1 năm 1889, khi ông chỉ huy các buổi biểu diễn bằng tiếng Hungary hai vở opera Das RheingoldDie Walküre của Wagner trước sự tán dương nồng nhiệt từ công chúng.[41] Tuy nhiên, thành công ban đầu của ông sớm bị lu mờ khi kế hoạch dàn dựng phần còn lại của chu trình Ring cũng như các vở opera Đức khác bị cản trở bởi sự trỗi dậy của phe bảo thủ vốn thiên về chương trình biểu diễn mang đậm tính "Hungary" truyền thống hơn.[41] Nhằm tìm kiếm các vở opera không thuộc dòng Đức để mở rộng danh mục biểu diễn, vào mùa xuân năm 1890, Mahler đã tới Ý; tại đây, trong số các tác phẩm mà ông khám phá ra có vở Cavalleria rusticana của Mascagni—một hiện tượng mới nổi vào thời điểm đó (vở diễn này đã ra mắt khán giả Budapest lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 12 năm 1890).[42]

Ngày 18 tháng 2 năm 1889, Bernhard Mahler qua đời;, theo sau là cái chết của cả em gái Leopoldine (ngày 27 tháng 9) lẫn mẹ của Mahler (ngày 11 tháng 10).[43] Kể từ tháng 10 năm 1889, Mahler đảm nhận việc chăm sóc bốn người em (Alois, Otto, Justine và Emma). Họ chuyển đến sinh sống tại một căn hộ thuê ở Viên. Bản thân Mahler cũng gặp vấn đề về sức khỏe, thường xuyên mắc bệnh trĩ, đau nửa đầu và chứng viêm họng nhiễm trùng.[44] Sau những biến cố về gia đình và sức khỏe, buổi ra mắt Bản giao hưởng số 1 tại Budapest vào ngày 20 tháng 11 năm 1889 là một thất vọng. Bài phê bình dài dòng trên báo của nhà phê bình August Beer cho thấy sự hào hứng sau các chương nhạc đầu tiên đã dần chuyển thành "sự phản đối rõ ràng" sau chương kết.[45] Mahler đặc biệt đau lòng trước những lời bình luận tiêu cực từ người bạn cùng thời tại Nhạc viện Vienna là Viktor von Herzfeld; ông nhận định rằng Mahler, như những nhạc trưởng tiền nhiệm, đã cho thấy bản thân không phải là nhà soạn nhạc.[46][47]

Năm 1891, sự chuyển dịch sang cánh hữu trong nền chính trị Hungary được thể hiện tại nhà hát opera, khi vào ngày 1 tháng 2, Bá tước Géza Zichy, một quý tộc bảo thủ và kiên quyết nắm quyền kiểm soát Mahler, đã thay vị trí Giám đốc điều hành bởi Beniczky.[48] Nhưng lường trước được điều này, Mahler đã lặng lẽ đàm phán với Bernhard Pollini, Giám đốc Nhà hát Thành phố Hamburg, trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1890, từ đó một bản hợp đồng đã được ký kết một cách kín đáo vào ngày 15 tháng 1 năm 1891. Mahler đã phần nào "tự ép" bản thân phải bị sa thải khỏi chức vụ tại Budapest, và ông đạt được mục đích này vào ngày 14 tháng 3 năm 1891. Khi rời nhiệm sở, ông đã nhận được một khoản trợ cấp thôi việc khá lớn.[49] Một trong những thành công vang dội cuối cùng của ông tại Budapest là buổi công diễn vở opera Don Giovanni của Mozart (ngày 16 tháng 9 năm 1890), tác phẩm đã mang lại cho ông những lời tán dương từ Brahms; ông đã theo dõi các buổi biểu diễn vào ngày 16 tháng 12 năm 1890.[50] Trong những năm tháng sống và làm việc tại Budapest, khối lượng sáng tác của Mahler khá hạn chế, chỉ bao gồm một vài ca khúc thuộc chuỗi nhạc phẩm phổ thơ Wunderhorn mà sau này trở thành Tập II và Tập III của bộ Lieder und Gesänge, cùng một số chỉnh sửa cho bản Giao hưởng số 1.[41]

Nhà hát Opera bang Hamburg

A small lakeside building showing a single window in a white wall below a sloping red roof
Komponierhäuschen (tiếng Đức nghĩa là "túp lều sáng tác") tại Steinbach am Attersee, nơi Mahler đã sáng tác vào các mùa hè kể từ năm 1893.

Tại Hamburg, Mahler đảm nhiệm vị trí nhạc trưởng chính và chịu sự quản lý của giám đốc Bernhard Pohl (thường được biết đến với tên Pollini), người vẫn nắm giữ quyền kiểm soát nghệ thuật tổng thể. Pollini sẵn sàng trao cho Mahler quyền tự chủ đáng kể với điều kiện nhạc trưởng này mang lại thành công trên phương diện thương mại lẫn nghệ thuật. Mahler đã thực hiện được điều này trong mùa diễn đầu tiên của mình, khi ông lần đầu tiên chỉ huy vở Tristan und Isolde của Wagner, đồng thời chỉ huy hai tác phẩm khác của cùng nhà soạn nhạc là TannhäuserSiegfried và được giới phê bình đánh giá cao.[51]

Tháng 1 năm 1884, nhạc trưởng danh tiếng Hans von Bülow đưa Dàn nhạc Hoàng gia Meiningen đến Kassel và tổ chức hai buổi hòa nhạc. Với hy vọng thoát khỏi công việc tại nhà hát, Mahler đã xin làm trợ lý thường trực cho Bülow nhưng không thành. Tuy nhiên, vào năm sau, nỗ lực tìm việc làm mới của ông đã mang lại một bản hợp đồng sáu năm với Nhà hát Opera Leipzig danh tiếng, bắt đầu từ tháng 8 năm 1886. Vì không muốn ở lại Kassel thêm một năm, Mahler nộp đơn xin từ chức vào ngày 22 tháng 6 năm 1885; ông sau đó ứng tuyển một công việc mới; nhờ may mắn, ông được mời nhận vị trí nhạc trưởng dự khuyết tại Nhà hát Hoàng gia Neues Deutsches ở Praha dưới sự bổ nhiệm của tân giám đốc nhà hát Angelo Neumann.[25]

Praha và Leipzig

Light-coloured two-storey stone building with an ornamental ledge below the roof. There are rows of five windows at ground level and the floor above, with a balcony at the middle upper window.
Căn nhà của Mahler tại Leipzig, nơi ông viết bản Giao hưởng số 1

Tại Praha, sự trỗi dậy của Phong trào Phục hưng Dân tộc Séc đã gia tăng độ phổ biến cũng như tầm quan trọng của Nhà hát Quốc gia Séc mới, đồng thời dẫn đến sự suy thoái của Nhà hát Đức mới. Nhiệm vụ của Mahler là giúp ngăn chặn đà suy thoái này bằng cách phục dựng những vở opera tiếng Đức với chất lượng nghệ thuật cao.[26] Ông gặt hái thành công ban đầu khi trình diễn các tác phẩm của Mozart và Wagner, những nhà soạn nhạc đặc biệt gắn liền với tên tuổi của ông trong suốt sự nghiệp của mình,[24] nhưng phong cách chỉ huy đầy cá tính và ngày càng độc đoán của ông đã gây ra xích mích, dẫn đến sự rạn nứt mối quan hệ với đồng nghiệp Ludwig Slansky giàu kinh nghiệm hơn.[26] Trong 12 tháng ở Praha, ông đã chỉ huy 68 buổi biểu diễn cho 14 vở opera (trong đó có 12 tác phẩm mới mẻ đối với vốn tiết mục của ông) và ông cũng chỉ huy bản Giao hưởng số 9 của Beethoven lần đầu tiên trong đời mình. Vào cuối mùa diễn, tháng 7 năm 1886, Mahler rời Praha để nhận nhiệm vụ tại Nhà hát Thành phố mới ở Leipzig; tại đây, cuộc cạnh tranh với người đồng nghiệp cấp trên là Arthur Nikisch đã nổ ra gần như ngay lập tức. Xung đột này chủ yếu xoay quanh việc hai người sẽ phân chia trách nhiệm chỉ huy như thế nào đối với loạt tác phẩm mới của nhà hát: chu trình Ring của Wagner. Việc Nikisch lâm bệnh từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1887 đã khiến Mahler phải đảm nhận việc chỉ huy toàn bộ chu trình này (ngoại trừ vở Götterdämmerung), và ông đã gặt hái thành công vang dội trước công chúng. Tuy nhiên, thành công này không giúp ông có được thiện cảm từ phía dàn nhạc vốn bất mãn trước phong thái độc đoán cũng như lịch trình tập luyện dày đặc mà ông áp đặt cho họ.[27][28]

Tại Leipzig, Mahler kết thân với Đại úy Carl von Weber [de] (1849–1897), cháu nội của nhà soạn nhạc cùng tên, và đồng ý biên soạn một phiên bản biểu diễn cho vở opera Die drei Pintos (Ba con ngựa khoang) còn dang dở của Carl Maria von Weber. Mahler đã chuyển soạn và phối khí lại các bản thảo âm nhạc hiện có, sử dụng thêm một số đoạn trích từ các tác phẩm khác của Weber, đồng thời bổ sung một vài đoạn nhạc của mình vào đó.[29] Buổi công diễn ra mắt tại Nhà hát Opera Hamburg vào ngày 20 tháng 1 năm 1888 là một sự kiện trọng đại, với sự xuất hiện của nhiều giám đốc đến từ các nhà hát opera trên khắp nước Đức. (Nhà soạn nhạc người Nga Tchaikovsky cũng đã tham dự buổi biểu diễn thứ ba vào ngày 29 tháng 1).[30] Tác phẩm này nhận được sự đón nhận nồng nhiệt; thành công của nó góp phần to lớn vào việc nâng cao danh tiếng của Mahler trước công chúng, đồng thời mang lại cho ông những khoản danh thu đáng kể.[29] Mối quan hệ giữa Mahler và gia đình Weber trở nên phức tạp bởi những đồn đoán về tình cảm mà Mahler dành cho Marion Mathilde (1857–1931)—vợ của Carl von Weber. Mối tình này, dù được cho là vô cùng mãnh liệt từ cả hai phía—theo lời đồn của một số nhân vật đương thời như nhà soạn nhạc người Anh Ethel Smyth—cuối cùng lại chẳng đi đến đâu. Trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1888, Mahler đã phác thảo và hoàn thiện bản Giao hưởng số 1, khi ấy gồm năm chương. Cũng trong khoảng thời gian đó, Mahler tình cờ khám phá ra tuyển tập thơ ca dân gian Đức mang tên Des Knaben Wunderhorn ("Chiếc sừng thần kỳ của chàng trai trẻ"), một tác phẩm văn học mà sẽ trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo, chi phối phần lớn các sáng tác của ông trong suốt 12 năm sau.[31][gc 3]

Ngày 17 tháng 5 năm 1888, Mahler đột ngột từ chức vị trí tại Leipzig sau xung đột với trưởng bộ phận dàn dựng sân khấu của Nhà hát Thành phố (Stadttheater) Albert Goldberg.[33] Tuy nhiên, trước đó Mahler đã âm thầm nhận được lời mời từ Angelo Neumann tại Prague (và ông đã chấp thuận) để chỉ huy buổi công diễn ra mắt tác phẩm Die drei Pintos "của chính ông"; ông sau đó cũng được mời dàn dựng vở Der Barbier von Bagdad của Peter Cornelius. Giai đoạn lưu lại ngắn ngủi này (từ tháng 7 đến tháng 9) khép lại một cách không mấy suôn sẻ, khi Mahler bị sa thải sau một lần nổi nóng ngay trong buổi diễn tập. Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực vận động của một người bạn cũ tại Viên là Guido Adler cùng nghệ sĩ cello David Popper, Mahler đã được đề cử vào vị trí giám đốc tiềm năng của Nhà hát Opera Hoàng gia Hungary tại Budapest. Ông được phỏng vấn, để lại ấn tượng tốt đẹp, và được đề nghị đảm nhiệm chức vụ này kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1888. Ông chấp nhận lời đề nghị này, mặc dù có chút đắn đo.[34]

Nhà soạn nhạc tập sự

Young dark-haired man wearing a loose necktie with a white shirt and a dark jacket
Mahler năm 1892
Tập tin:Gustav Mahler Symphony no. 1 2nd movement excerpt.mp3
Trích dẫn chương II của Giao hưởng số 1

Trong những năm đầu của sự nghiệp chỉ huy, sáng tác là một hoạt động lúc Mahler rảnh rỗi . Giữa thời gian làm việc tại Laibach và Olmütz, ông đã phổ nhạc cho những vần thơ của Richard LeanderTirso de Molina; các tác phẩm này về sau được tập hợp thành Tập I của bộ Lieder und Gesänge ("Các bài hát và Khúc ca").[35] Chu kỳ ca khúc cho dàn nhạc đầu tiên của Mahler là Lieder eines fahrenden Gesellen, được sáng tác tại Kassel và dựa trên chính những vần thơ do ông tự viết, mặc dù bài thơ mở đầu mang tên "Wenn mein Schatz Hochzeit macht" ("Khi người tình của tôi trở thành cô dâu") lại bám sát nguyên bản của một bài thơ trong tuyển tập Wunderhorn.[32] Giai điệu của bài hát thứ hai và thứ tư trong chu kỳ này sau đó đã được đưa vào Bản giao hưởng số 1, được Mahler hoàn thiện vào năm 1888, vào thời điểm mối quan hệ giữa ông và Marion von Weber đang ở giai đoạn nồng nàn nhất. Cường độ mãnh liệt trong tình cảm của Mahler được phản ánh rõ nét qua âm nhạc của tác phẩm này; ban đầu, nó được viết dưới hình thức một bản giao hưởng thơ gồm năm chương, đi kèm với một chương trình nội dung mang tính tự sự. Một trong số các chương đó—chương "Blumine" (Hoa nở), vốn sau này đã bị loại bỏ—được xây dựng dựa trên một đoạn nhạc trích từ tác phẩm trước đó của ông là Der Trompeter von Säckingen.[36][29] Sau khi hoàn tất bản giao hưởng nói trên, Mahler tiếp tục sáng tác một bản giao hưởng thơ dài 20 phút mang tựa đề Totenfeier ("Lễ tang"), về sau trở thành chương đầu của bản Giao hưởng số 2 của ông.[37]

Đã xuất hiện nhiều đồn đoán xoay quanh những tác phẩm bị thất lạc hoặc bị hủy hoại từ giai đoạn đầu sự nghiệp của Mahler.[38] Nhạc trưởng người Hà Lan Willem Mengelberg từng nhận định rằng Bản giao hưởng số 1 quá hoàn thiện để được gọi là tác phẩm giao hưởng đầu tay, và chắc chắn phải có những tác phẩm được viết trước đó. Năm 1938, Mengelberg đã tiết lộ về sự tồn tại của cái gọi là "kho lưu trữ Dresden", tập hợp các bản thảo hiện đang nằm trong tay góa phụ Marion von Weber.[39] Theo nhà sử học chuyên về Mahler là Donald Mitchell, những bản thảo quan trọng thuộc các tác phẩm giao hưởng thời kỳ đầu của Mahler khả năng cao đã từng được lưu giữ tại Dresden;[39] nếu tồn tại kho lưu trữ này thì rất có thể nó đã bị phá hủy trong đợt ném bom xuống Dresden năm 1945.[29]

1888–1897: Budapest và Hamburg

Nhà hát Opera Hoàng gia, Budapest

Tập tin:Gustav Mahler 1896.jpg
Mahler năm 1896

Khi đến Budapest vào tháng 10 năm 1888, Mahler đã chứng kiến sự xung đột văn hóa giữa phe chủ nghĩa dân tộc Hungary bảo thủ, những người ủng hộ chính sách Magyar hóa, và phe cấp tiến với mong muốn duy trì và phát triển các truyền thống văn hóa Áo-Đức của đất nước. Tại nhà hát opera, dưới sự lãnh đạo của Giám đốc âm nhạc Sándor Erkel, nhóm bảo thủ chiếm ưu thế duy trì một danh mục biểu diễn khá hạn hẹp, chủ yếu bao gồm các vở opera mang tính lịch sử và dân gian. Vào thời điểm Mahler bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ, phe cấp tiến đã giành được thế thượng phong sau khi ông Ferenc von Beniczky—một người có tư tưởng tự do—được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành nhà hát.[40] Trước tình thế nhạy cảm này, Mahler đã hành động thận trọng; ông trì hoãn lần xuất hiện đầu tiên trên bục chỉ huy cho đến tận tháng 1 năm 1889, khi ông chỉ huy các buổi biểu diễn bằng tiếng Hungary hai vở opera Das RheingoldDie Walküre của Wagner trước sự tán dương nồng nhiệt từ công chúng.[41] Tuy nhiên, thành công ban đầu của ông sớm bị lu mờ khi kế hoạch dàn dựng phần còn lại của chu trình Ring cũng như các vở opera Đức khác bị cản trở bởi sự trỗi dậy của phe bảo thủ vốn thiên về chương trình biểu diễn mang đậm tính "Hungary" truyền thống hơn.[41] Nhằm tìm kiếm các vở opera không thuộc dòng Đức để mở rộng danh mục biểu diễn, vào mùa xuân năm 1890, Mahler đã tới Ý; tại đây, trong số các tác phẩm mà ông khám phá ra có vở Cavalleria rusticana của Mascagni—một hiện tượng mới nổi vào thời điểm đó (vở diễn này đã ra mắt khán giả Budapest lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 12 năm 1890).[42]

Ngày 18 tháng 2 năm 1889, Bernhard Mahler qua đời;, theo sau là cái chết của cả em gái Leopoldine (ngày 27 tháng 9) lẫn mẹ của Mahler (ngày 11 tháng 10).[43] Kể từ tháng 10 năm 1889, Mahler đảm nhận việc chăm sóc bốn người em (Alois, Otto, Justine và Emma). Họ chuyển đến sinh sống tại một căn hộ thuê ở Viên. Bản thân Mahler cũng gặp vấn đề về sức khỏe, thường xuyên mắc bệnh trĩ, đau nửa đầu và chứng viêm họng nhiễm trùng.[44] Sau những biến cố về gia đình và sức khỏe, buổi ra mắt Bản giao hưởng số 1 tại Budapest vào ngày 20 tháng 11 năm 1889 là một thất vọng. Bài phê bình dài dòng trên báo của nhà phê bình August Beer cho thấy sự hào hứng sau các chương nhạc đầu tiên đã dần chuyển thành "sự phản đối rõ ràng" sau chương kết.[45] Mahler đặc biệt đau lòng trước những lời bình luận tiêu cực từ người bạn cùng thời tại Nhạc viện Vienna là Viktor von Herzfeld; ông nhận định rằng Mahler, như những nhạc trưởng tiền nhiệm, đã cho thấy bản thân không phải là nhà soạn nhạc.[46][47]

Năm 1891, sự chuyển dịch sang cánh hữu trong nền chính trị Hungary được thể hiện tại nhà hát opera, khi vào ngày 1 tháng 2, Bá tước Géza Zichy, một quý tộc bảo thủ và kiên quyết nắm quyền kiểm soát Mahler, đã thay vị trí Giám đốc điều hành bởi Beniczky.[48] Nhưng lường trước được điều này, Mahler đã lặng lẽ đàm phán với Bernhard Pollini, Giám đốc Nhà hát Thành phố Hamburg, trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1890, từ đó một bản hợp đồng đã được ký kết một cách kín đáo vào ngày 15 tháng 1 năm 1891. Mahler đã phần nào "tự ép" bản thân phải bị sa thải khỏi chức vụ tại Budapest, và ông đạt được mục đích này vào ngày 14 tháng 3 năm 1891. Khi rời nhiệm sở, ông đã nhận được một khoản trợ cấp thôi việc khá lớn.[49] Một trong những thành công vang dội cuối cùng của ông tại Budapest là buổi công diễn vở opera Don Giovanni của Mozart (ngày 16 tháng 9 năm 1890), tác phẩm đã mang lại cho ông những lời tán dương từ Brahms; ông đã theo dõi các buổi biểu diễn vào ngày 16 tháng 12 năm 1890.[50] Trong những năm tháng sống và làm việc tại Budapest, khối lượng sáng tác của Mahler khá hạn chế, chỉ bao gồm một vài ca khúc thuộc chuỗi nhạc phẩm phổ thơ Wunderhorn mà sau này trở thành Tập II và Tập III của bộ Lieder und Gesänge, cùng một số chỉnh sửa cho bản Giao hưởng số 1.[41]

Nhà hát Opera bang Hamburg

A small lakeside building showing a single window in a white wall below a sloping red roof
Komponierhäuschen (tiếng Đức nghĩa là "túp lều sáng tác") tại Steinbach am Attersee, nơi Mahler đã sáng tác vào các mùa hè kể từ năm 1893.

Tại Hamburg, Mahler đảm nhiệm vị trí nhạc trưởng chính và chịu sự quản lý của giám đốc Bernhard Pohl (thường được biết đến với tên Pollini), người vẫn nắm giữ quyền kiểm soát nghệ thuật tổng thể. Pollini sẵn sàng trao cho Mahler quyền tự chủ đáng kể với điều kiện nhạc trưởng này mang lại thành công trên phương diện thương mại lẫn nghệ thuật. Mahler đã thực hiện được điều này trong mùa diễn đầu tiên của mình, khi ông lần đầu tiên chỉ huy vở Tristan und Isolde của Wagner, đồng thời chỉ huy hai tác phẩm khác của cùng nhà soạn nhạc là TannhäuserSiegfried và được giới phê bình đánh giá cao.[51] Một thắng lợi vang dội khác là buổi công diễn ra mắt vở Eugene Onegin của Tchaikovsky tại Đức; buổi diễn này có sự hiện diện của chính nhà soạn nhạc. Tchaikovsky gọi phong cách chỉ huy của Mahler là "đáng kinh ngạc" và sau đó khẳng định trong một bức thư rằng ông tin Mahler "chắc chắn là một thiên tài".[52] Lịch trình tập luyện vô cùng khắt khe của Mahler đã dẫn đến sự bất mãn dễ thấy từ phía các ca sĩ và dàn nhạc; theo cây viết về âm nhạc Peter Franklin, vị nhạc trưởng này đã "khơi dậy trong họ cả sự căm ghét lẫn lòng kính trọng với mức độ gần như ngang bằng nhau".[51] Tuy nhiên, ông tìm thấy sự ủng hộ từ Hans von Bülow, người đang có mặt tại Hamburg với tư cách là giám đốc các buổi hòa nhạc đăng ký định kỳ của thành phố. Bülow, từng từ chối những lời đề nghị hợp tác của Mahler khi cả hai còn ở Kassel, giờ đã chuyển sang ngưỡng mộ phong cách chỉ huy của người nhạc trưởng trẻ tuổi này. Sau khi Bülow qua đời vào năm 1894, Mahler tiếp quản vai trò chỉ đạo các buổi hòa nhạc đó.[41]

A balding man with a pointed beard, in formal dress clothes and holding a cigar in his left hand
Hans von Bülow, một trong những người ngưỡng mộ phong cách chỉ huy của Mahler.

Mùa hè năm 1892, Mahler dẫn đoàn ca sĩ từ Hamburg sang Luân Đôn để tham gia một mùa diễn opera Đức kéo dài tám tuần—đây là lần duy nhất ông đến Anh Quốc. Cách ông chỉ huy bản Tristan đã mê hoặc nhà soạn nhạc trẻ Ralph Vaughan Williams, người sau đó đã "loạng choạng trở về nhà trong trạng thái ngây ngất và không thể ngủ trong hai đêm."[53] Tuy nhiên, Mahler đã từ chối những lời mời tương tự sau này, bởi ông muốn dành thời gian sáng tác trong mùa hè.[41] Năm 1893, ông kiếm được một căn chòi sáng tác tại Steinbach, nằm bên bờ hồ Attersee thuộc vùng Thượng Áo, và thiết lập một nếp sinh hoạt được duy trì trong suốt phần đời còn lại; ông dành thời gian trong mùa hè để sáng tác tại Steinbach hoặc những nơi ẩn cư kế tiếp của ông. Giờ đây, khi đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tuyển tập thơ dân gian Wunderhorn, Mahler đã sáng tác một loạt các bản nhạc phổ thơ tại Steinbach, đồng thời hoàn thành bản Giao hưởng số 2 và số 3 của mình tại đây.[54]

Các tác phẩm của Mahler cho đến thời điểm này vẫn hiếm khi được biểu diễn (ông chưa sáng tác được nhiều). Ngày 27 tháng 10 năm 1893, tại Konzerthaus Ludwig ở Hamburg, Mahler đã chỉ huy Bản giao hưởng số 1 đã qua chỉnh sửa; tác phẩm này—vẫn giữ nguyên cấu trúc năm chương ban đầu—được giới thiệu dưới hình thức Tondichtung (thơ giao hưởng) với cái tên gợi hình là "Titan".[55][56] Buổi hòa nhạc này cũng mang đến sáu bản phổ nhạc mới nhất dựa trên các bài thơ trong tập Wunderhorn. Mahler đã gặt hái thành công đầu tiên trên cương vị một nhà soạn nhạc khi Bản giao hưởng số 2 nhận được sự đón nhận nồng nhiệt trong buổi công diễn do ông chỉ huy tại Berlin vào ngày 13 tháng 12 năm 1895. Bruno Walter—trợ lý chỉ huy của Mahler và cũng là người có mặt tại buổi diễn đó—đã nhận định rằng: "người ta có thể xác định cột mốc thăng hoa dẫn tới danh tiếng của [Mahler] trên cương vị nhà soạn nhạc chính là từ ngày hôm đó."[57] Cũng trong năm ấy, đời tư của Mahler đã bị xáo trộn khi người em trai Otto của ông tự tử[58] vào ngày 6 tháng 2.

Vốn tiết mục của Mahler tại Nhà hát Opera bang Hamburg gồm 66 vở opera, trong đó có 36 tác phẩm hoàn toàn mới với ông. Trong suốt sáu năm công tác tại Hamburg, ông đã chỉ huy tổng cộng 744 buổi biểu diễn, bao gồm cả các buổi công diễn vở Falstaff của Verdi, Hänsel und Gretel của Humperdinck, cùng các tác phẩm của Smetana.[41] Tuy nhiên, ông buộc phải từ bỏ vị trí chỉ huy các buổi hòa nhạc định kỳ do kết quả tài chính yếu kém và phản ứng không mấy tích cực từ công chúng khi ông chỉ huy bản chuyển soạn tác phẩm Giao hưởng số 9 của Beethoven do ông thực hiện.[59] Ngay từ thời kỳ đầu, Mahler đã khẳng định rõ rằng mục tiêu cao nhất của ông là được công tác tại Viên; kể từ năm 1895, ông đã tích cực vận động, cùng sự hỗ trợ từ những người bạn có ảnh hưởng, nhằm nắm giữ chức vụ Giám đốc Nhà hát Opera Hoàng gia Viên.[60] Ông có thể đã vượt qua rào cản ngăn cấm người Do Thái đảm nhiệm chức vụ này bằng việc cải đạo một cách thực dụng sang Công giáo vào tháng 2 năm 1897.[61] Mặc dù vậy, Mahler vẫn được các nhà sử học mô tả là một người theo chủ nghĩa bất khả tri trong suốt cuộc đời.[62]

Viên, 1897–1907

Giám đốc Nhà hát Opera Hoàng gia Viên

An imposing, heavily ornamented building in a city location, with numerous horsedrawn vehicles and pedestrians passing. There are visible tramlines in the street.
Ảnh Nhà hát Opera Hoàng gia Viên năm 1898 dưới thời chỉ huy của Mahler.

Trong lúc chờ đợi Hoàng đế phê chuẩn chức vụ giám đốc của mình, Mahler cùng chia sẻ chức vụ nhạc trưởng thường trú với Joseph Hellmesberger Jr. (con trai của cựu giám đốc nhạc viện) và Hans Richter, một nghệ sĩ diễn giải các tác phẩm của Wagner lừng danh quốc tế, đồng thời là nhạc trưởng chỉ huy buổi công diễn đầu tiên của chu trình Ring tại Bayreuth vào năm 1876.[63] Giám đốc Wilhelm Jahn đã không hỏi ý kiến ​​của Richter về việc bổ nhiệm Mahler; vì nhạy cảm trước tình huống này, Mahler đã viết một bức thư đầy thiện chí gửi Richter, bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu sắc dành cho vị nhạc trưởng lớn tuổi. Về sau, cả hai hiếm khi tìm được tiếng nói chung nhưng luôn giữ kín những bất đồng giữa họ.[64]

Viên, Thủ đô của Đế quốc Áo-Hung, vừa mới bầu chọn một thị trưởng bảo thủ và bài Do Thái là Karl Lueger; ông từng tuyên bố rằng: "Chính tôi sẽ quyết định ai là người Do Thái và ai không phải."[65] Trong bầu không khí chính trị đầy biến động như này, Mahler cần sớm chứng minh được bản sắc văn hóa Đức của mình. Ông tạo dấu ấn đầu tiên vào tháng 5 năm 1897 với buổi biểu diễn tác phẩm Lohengrin của Wagner và Die Zauberflöte của Mozart, được giới phê bình đánh giá cao.[66] Ngay sau thắng lợi của vở Zauberflöte, Mahler buộc phải xin nghỉ ốm vài tuần; trong khoảng thời gian này, ông được em gái Justine và người bạn đời lâu năm, nghệ sĩ viola Natalie Bauer-Lechner, chăm sóc tận tình.[67] Mahler trở lại Viên vào cuối tháng 7 để chuẩn bị cho lần công diễn trọn vẹn chu trình tác phẩm Ring lần đầu tiên tại thành phố. Buổi công diễn kéo dài từ ngày 24 đến 27 tháng 8, thu hút sự tán dương của giới phê bình cũng như sự hưởng ứng nồng nhiệt từ công chúng. Bạn của Mahler là Hugo Wolf đã chia sẻ với Bauer-Lechner rằng: "Lần đầu tiên tôi được thưởng thức tác phẩm Ring đúng như những gì tôi hằng mơ ước khi đọc bản tổng phổ của tác phẩm này."[68]

A series of line drawings of a man in exaggerated poses, holding a conductor's baton
Phong cách chỉ huy của Mahler, 1901, được biếm họa trên tạp chí hài Fliegende Blätter.

Vào ngày 8 tháng 10, Mahler chính thức được kế nhiệm Jahn để trở thành Giám đốc Nhà hát Opera Hoàng gia Viên.[69][gc 4] Tác phẩm đầu tiên ông dàn dựng trên cương vị mới là vở opera mang tinh thần dân tộc Séc của Smetana mang tên Dalibor, với một đoạn kết được biên soạn lại, trong đó người anh hùng Dalibor vẫn sống sót. Bản dàn dựng này đã châm ngòi cho sự phẫn nộ trong giới theo chủ nghĩa dân tộc Đức tại Vienna có tư tưởng cực đoan hơn; họ cáo buộc Mahler "bắt tay với đất nước Séc thấp kém và chống vương triều."[70] Trong hồi ký Thế giới những ngày qua (1942), tác giả người Áo Stefan Zweig đã mô tả việc bổ nhiệm Mahler như một minh chứng cho sự ngờ vực mà công chúng Viên dành cho các nghệ sĩ trẻ: "Đã có lần, khi một ngoại lệ đáng kinh ngạc xảy ra và Gustav Mahler được bổ nhiệm làm Giám đốc Nhà hát Opera Hoàng gia khi mới 38 tuổi—một làn sóng xì xầm đầy hoang mang xen lẫn sửng sốt đã lan ra khắp Viên, bởi lẽ người ta đã giao phó định chế nghệ thuật tối cao này cho 'một người trẻ tuổi đến thế'... Sự ngờ vực này—rằng những người trẻ tuổi đều 'không thực sự đáng tin cậy'—đã len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội thời bấy giờ."[71] Zweig cũng viết rằng: "việc tình cờ nhìn thấy Gustav Mahler trên đường phố [Viên] là một sự kiện mà người ta sẽ tự hào kể lại cho bạn bè nghe vào sáng hôm sau như thể đó là một chiến thắng cá nhân vậy."[72] Trong suốt nhiệm kỳ của Mahler, tổng cộng 33 vở opera mới đã được giới thiệu tại Nhà hát; thêm 55 vở khác là những bản dàn dựng mới hoặc được làm mới hoàn toàn.[73] Tuy nhiên, đề xuất dàn dựng vở opera gây tranh cãi Salome của Richard Strauss vào năm 1905 đã bị cơ quan kiểm duyệt tại Viên từ chối.[74]

Đầu năm 1902, Mahler gặp Alfred Roller, một họa sĩ và nhà thiết kế gắn liền với phong trào Ly khai Viên. Một năm sau, Mahler bổ nhiệm ông làm trưởng bộ phận thiết kế sân khấu tại Hofoper, nơi tác phẩm ra mắt của Roller là một vở dựng mới của Tristan und Isolde.[75][gc 5] Sự hợp tác giữa Mahler và Roller đã cho ra hơn 20 vở dàn dựng nổi tiếng, bao gồm các vở opera như Fidelio của Beethoven, Iphigénie en Aulide của Gluck, và Le nozze di Figaro của Mozart.[73][77] Trong vở Figaro, Mahler đã khiến một số người theo chủ nghĩa thuần túy khó chịu khi ông bổ sung và tự sáng tác một đoạn recitative ngắn cho Màn III.[78]

A dark plaque with white lettering in which the composer's name is shown in extra large characters on the left, the main message in smaller characters on the right
Tấm biển tại căn hộ của Mahler ở Viên, số 2 Auenbruggergasse: "Gustav Mahler đã sống và sáng tác tại ngôi nhà này từ năm 1898 đến 1909."

Bất chấp vô số thành công trên sân khấu, những năm tháng của Mahler tại Viên lại hiếm khi suôn sẻ; xung đột giữa ông với các ca sĩ và ban quản lý nhà hát tiếp diễn dai dẳng trong suốt nhiệm kỳ của ông. Mặc dù các phương pháp của Mahler đã nâng cao tiêu chuẩn nghệ thuật, nhưng phong cách chỉ huy đầy kịch tính và độc đoán của ông lại khiến cả các thành viên dàn nhạc lẫn các ca sĩ đều cảm thấy bất mãn.[79] Tháng 12 năm 1903, Mahler phải đối mặt với một cuộc phản kháng của đội ngũ hậu đài; ông đã bác bỏ những yêu cầu về điều kiện làm việc tốt hơn của họ vì tin rằng nhân viên của mình bị các phần tử cực đoan giật dây.[80] Các thế lực bài Do Thái trong xã hội Viên—vốn phản đối việc bổ nhiệm Mahler—tiếp tục tấn công ông không ngừng nghỉ, và đến năm 1907, họ phát động một chiến dịch truyền thông nhằm buộc ông rời Nhà hát.[81] Vào thời điểm đó, ông đang có bất hòa với ban quản lý nhà hát opera về lượng thời gian ông dành cho việc sáng tác âm nhạc, và đang chuẩn bị rời Nhà hát.[77] Vào tháng 5 năm 1907, ông bắt đầu đàm phán với Heinrich Conried—giám đốc Nhà hát Opera Metropolitan tại New York—và vào ngày 21 tháng 6, ông ký một hợp đồng với những điều khoản vô cùng thuận lợi để đảm nhận vai trò chỉ huy trong bốn mùa diễn tại New York.[81] Vào cuối mùa hè năm đó, ông đệ đơn từ chức lên Nhà hát Opera Hoàng gia; đến ngày 15 tháng 10 năm 1907, ông chỉ huy vở Fidelio; đây là buổi biểu diễn thứ 645 và là buổi diễn cuối cùng của ông tại nơi này. Trong suốt mười năm gắn bó với Viên, Mahler đã thổi một luồng sinh khí mới vào nhà hát opera và giúp nhà hát xóa nợ,[82] nhưng ông lại không kết giao được nhiều bạn—người ta thường ví rằng cách ông đối xử với các nhạc công của mình giống như một người huấn luyện sư tử đối xử với những con thú của mình.[83] Bức thông điệp chia tay mà ông gửi gắm tới toàn thể nhà hát—được ông ghim trên bảng tin—sau đó bị xé và vứt lên khắp sàn nhà.[84] Sau khi chỉ huy bản Giao hưởng số 2 của chính mình trong một buổi hòa nhạc chia tay Nhà hát Opera Hoàng gia vào ngày 24 tháng 11, Mahler rời Viên và đến New York vào đầu tháng 12.[85][86]

Hòa nhạc Philharmonic tại Viên

Tranh bóng do Otto Böhler thực hiện

Khi Richter từ nhiệm vị trí dẫn đầu các buổi hòa nhạc đăng ký của Dàn nhạc Giao hưởng Viên vào tháng 9 năm 1898,[gc 6] ủy ban hòa nhạc đã nhất trí chọn Mahler làm người kế nhiệm.[88] Quyết định bổ nhiệm này không nhận được sự hoan nghênh từ tất cả mọi người; giới báo chí bài Do Thái đã đặt nghi vấn rằng liệu Mahler, một người không mang dòng máu Đức, có đủ năng lực để bảo vệ nền âm nhạc Đức hay không.[89] Lượng khán giả tham dự đã tăng vọt trong mùa diễn đầu tiên của Mahler, nhưng các thành viên trong dàn nhạc lại đặc biệt bất bình trước thói quen phối lại những kiệt tác đã được công nhận của ông và việc ông sắp xếp thêm các buổi tập dượt cho những tác phẩm mà họ am hiểu tường tận.[90] Dàn nhạc đã cố đưa Richter trở lại vị trí cũ trong mùa diễn năm 1899 nhưng không thành, vì Richter không còn hứng thú với công việc này. Vị thế của Mahler càng trở nên lung lay khi vào năm 1900, ông dẫn dàn nhạc tới Paris để biểu diễn tại Triển lãm Thế giới. Các buổi hòa nhạc tại Paris có lượng khán giả tham dự thưa thớt và bị thua lỗ—Mahler đã phải vay tiền từ gia tộc Rothschild để chi trả chi phí đưa dàn nhạc trở về nước.[91][92] Vào tháng 4 năm 1901, do tình trạng sức khỏe suy yếu tái diễn và mệt mỏi trước những lời phàn nàn liên tiếp từ dàn nhạc, Mahler đã từ nhiệm vị trí nhạc trưởng của Dàn nhạc Giao hưởng Viên.[77] Trong ba mùa diễn, ông đã chỉ huy biểu diễn khoảng 80 tác phẩm khác nhau; trong số đó có những bản nhạc của các nhà soạn nhạc tương đối ít tên tuổi như Hermann Goetz, Wilhelm Kienzl và nhà soạn nhạc người Ý Lorenzo Perosi.[91]

Nhà soạn nhạc trưởng thành

A small grey hut, surrounded by woods, with an open door to which is affixed a picture of the composer
Căn chòi sáng tác thứ hai của Mahler tại Maiernigg (gần Klagenfurt), nằm bên bờ hồ Wörthersee, bang Kärnten.

Ban đầu, những yêu cầu từ hai vị trí song song tại Viên đã chiếm trọn thời gian và tâm sức của Mahler; tuy nhiên, ông bắt đầu sáng tác trở lại từ năm 1899. Những năm tháng còn lại tại Viên đã cho thấy đây là giai đoạn gặt hái nhiều thành quả. Trong lúc đang thực hiện những bản phổ nhạc cuối cùng cho tập Des Knaben Wunderhorn thì ông bắt tay vào sáng tác bản Giao hưởng số 4, được hoàn thành vào năm 1900.[93] Vào thời điểm này, ông không còn sử dụng căn chòi sáng tác tại Steinbach nữa; thay vào đó, ông mua một địa điểm khác tại Maiernigg, nằm bên bờ hồ Wörthersee thuộc bang Kärnten, nơi ông cho xây biệt thự sau này.[94] Tại đây, Mahler bắt đầu giai một đoạn sáng tác mà giới chuyên môn thường gọi là thời "trung kỳ" hoặc "hậu Wunderhorn".[95] Từ năm 1901 đến năm 1904, ông đã phổ nhạc cho mười bài thơ của Friedrich Rückert; trong số đó, năm bài được tập hợp lại thành tuyển tập Rückert-Lieder.[gc 7] Năm bài còn lại được kết hợp để tạo nên chuỗi ca khúc Kindertotenlieder ("Những bài ca về cái chết của trẻ em"). Bộ ba bản giao hưởng dành cho dàn nhạc—gồm Giao hưởng số 5, 67—đã được ông sáng tác tại Maiernigg từ năm 1901 đến 1905; tiếp đó, bản Giao hưởng số 8 cũng được ông hoàn thành tại địa điểm này vào năm 1906 chỉ trong tám tuần làm việc đầy mãnh liệt.[77][97]

Cũng trong giai đoạn này, các tác phẩm của Mahler bắt đầu được trình diễn nhiều hơn. Vào tháng 4 năm 1899, ông đã chỉ huy buổi công diễn bản Giao hưởng số 2 của mình tại Viên; ngày 17 tháng 2 năm 1901 đánh dấu buổi công diễn tác phẩm thời kỳ đầu mang tên Das klagende Lied, đã được chỉnh sửa thành hai phần. Vào tháng 11, Mahler đã chỉ huy buổi công diễn bản Giao hưởng số 4 tại München và lần đầu tiên chỉ huy toàn bộ bản Giao hưởng số 3 tại lễ hội Allgemeiner Deutscher Musikverein ở Krefeld vào ngày 9 tháng 6 năm 1902. Các "buổi công diễn đầu tiên" của Mahler giờ đây đã trở thành những sự kiện âm nhạc diễn ra ngày càng thường xuyên; ông đã chỉ huy các buổi trình diễn ra mắt của Bản giao hưởng số 5 và 6 lần lượt tại KölnEssen vào các năm 1904 và 1906. Bốn trong số các bài hát thuộc chu kỳ Rückert-Lieder, cùng tác phẩm Kindertotenlieder, đã được giới thiệu tại Viên vào ngày 29 tháng 1 năm 1905.[98][77]

Hôn nhân, gia đình, bi kịch

Head and shoulders photo portrait of an attractive dark-haired young woman looking left with a thoughtful expression
Alma Schindler, người đã kết hôn Mahler vào năm 1902 (ảnh năm 1902 hoặc trước đó)

Trong mùa diễn thứ hai tại Viên, Mahler mua được một căn hộ rộng rãi, hiện đại trên phố Auenbruggergasse và cho xây một biệt thự mùa hè trên mảnh đất mà ông đã mua bên cạnh phòng sáng tác mới của mình tại Maiernigg.[99] Vào tháng 11 năm 1901, ông gặp Alma Schindler, con gái riêng của họa sĩ Carl Moll, tại một buổi gặp gỡ xã giao có sự tham dự của giám đốc nhà hát Max Burckhard.[100] Alma ban đầu không mặn mà với việc gặp gỡ Mahler bởi cô đã nghe về "những tai tiếng xoay quanh ông và bất kỳ cô gái trẻ nào có tham vọng ca hát trong các vở opera."[101] Hai người đã tranh luận sôi nổi về một vở ballet của Alexander von Zemlinsky (Alma là một trong những học trò của Zemlinsky), nhưng sau đó lại đồng ý sẽ gặp nhau tại Nhà hát Hofoper vào ngày hôm sau.[100] Cuộc gặp gỡ này đã dẫn đến một giai đoạn tìm hiểu và hẹn hò nhanh chóng; Mahler và Alma chính thức kết hôn trong một buổi lễ riêng tư vào ngày 9 tháng 3 năm 1902. Vào thời điểm đó, Alma đã mang thai bé gái đầu lòng[102] tên Maria Anna, chào đời vào ngày 3 tháng 11 năm 1902. Người con gái thứ hai, Anna, chào đời vào năm 1904.[77]

Tập tin:Emil Orlik Gustav Mahler 1902.jpg
Chân dung năm 1902 bởi Emil Orlík

Bạn bè của cặp đôi đã vô cùng ngạc nhiên trước cuộc hôn nhân này, đồng thời hoài nghi sự sáng suốt của nó. Burckhard gọi Mahler là "gã Do Thái suy đồi, còi cọc", không xứng đáng với một cô gái xinh đẹp và xuất thân danh giá đến thế.[103] Ngược lại, gia đình Mahler lại cho rằng Alma là người lẳng lơ, thiếu tin cậy và quá thích thú khi chứng kiến các chàng trai trẻ phải lòng vẻ quyến rũ của cô.[104] Bản tính của Mahler là thất thường và độc đoán—Natalie Bauer-Lechner, người tình trước đây của ông, từng nhận xét rằng sống chung với ông "cứ như đang ngồi trên một con thuyền bị những con sóng xô đẩy không ngừng."[105] Chẳng bao lâu sau, Alma bắt đầu cảm thấy bất mãn trước sự khăng khăng của Mahler rằng trong gia đình chỉ được phép có một nhà soạn nhạc và việc cô phải từ bỏ việc học nhạc để chiều theo ý ông. "Vai trò của nhà soạn nhạc, của người lao động sáng tạo, thuộc về anh; còn vai trò của em là trở thành một người bạn đời yêu thương và thấu hiểu... Anh đang đòi hỏi một sự hy sinh to lớn—anh có quyền và có khả năng làm vậy, vì anh biết cái giá phải trả và anh sẵn sằng đánh đổi."[106] Cô viết trong nhật ký của mình: "Thật đau đớn biết bao khi bị tước đoạt một cách tàn nhẫn... những điều thân thương nhất, gần gũi nhất với trái tim mình."[107] Yêu cầu của Mahler về việc sắp xếp toàn bộ đời sống hôn nhân quanh các hoạt động sáng tạo của ông đã tạo nên những áp lực nặng nề, đồng thời châm ngòi cho sự phản kháng từ phía Alma; tuy nhiên, cuộc hôn nhân này đôi lúc vẫn được điểm xuyết bằng những biểu hiện nồng nhiệt đầy đam mê, đặc biệt là từ phía Mahler.[gc 8]

Mùa hè năm 1907, Mahler, mệt mỏi trước chiến dịch chống lại ông tại Viên, đã đưa gia đình đến Maiernigg. Ngay sau khi họ đặt chân đến, cả hai cô con gái đều lâm bệnh, mắc bệnh ban đỏbạch hầu. Anna đã bình phục, nhưng Maria qua đời vào ngày 12 tháng 7 sau hai tuần chống chọi với bệnh tật.[110] Ngay sau mất mát nặng nề này, Mahler nhận tin rằng ông có vấn đề về tim; chẩn đoán này sau đóđược một chuyên gia tại Viên xác nhận; vị chuyên gia đã yêu cầu ông cắt giảm mọi hình thức vận động mạnh về sau. Mức độ ảnh hưởng của căn bệnh này đối với khả năng sinh hoạt của Mahler vẫn chưa được làm rõ; Alma mô tả nó như một bản án tử, mặc dù bản thân Mahler, trong một lá thư gửi cho bà vào ngày 30 tháng 8 năm 1907, lại khẳng định rằng ông vẫn có thể sống một cuộc đời bình thường, ngoại trừ việc ông phải tránh làm việc quá sức.[111] Tuy nhiên, căn bệnh này vẫn là một yếu tố gây suy sụp tinh thần trầm trọng hơn nữa đối với ông.[112] Mahler cùng gia đình đã rời Maiernigg và dành phần còn lại của mùa hè tại Schluderbach.[113] Khi mùa hè kết thúc, ngôi biệt thự tại Maiernigg được đóng cửa và họ không bao giờ ghé thăm nơi đây nữa.[112]

Những năm cuối đời, 1908–1911

New York

A tall, imposing stone building in an almost empty city street with tramcar passing. A tower in the background is the only other highrise building.
Nhà hát Opera Metropolitan (tại Phố 39), New York—vào khoảng thời gian Mahler đảm nhiệm vai trò chỉ huy dàn nhạc (1908–1909).

Mahler có buổi ra mắt tại New York ở Nhà hát Metropolitan Opera vào ngày 1 tháng 1 năm 1908 khi ông chỉ huy dàn nhạc trình diễn vở Tristan und Isolde của Wagner.[114] Trong mùa diễn đầu tiên bận rộn, các buổi biểu diễn của Mahler đã nhận được sự tán dương rộng rãi, đặc biệt là vở Fidelio vào ngày 20 tháng 3 năm 1908; trong buổi diễn này, ông nhất quyêt sử dụng các bản sao của những bộ phông cảnh sân khấu do Alfred Roller thiết kế cho Viên vào thời điểm đó.[115] Khi trở lại Áo vào mùa hè năm 1908, Mahler đã chọn làm việc tại căn chòi sáng tác thứ ba và là căn chòi cuối cùng của mình, nằm giữa những cánh rừng thông gần Toblach thuộc vùng Tyrol. Tại đây, sử dụng phần lời của Hans Bethge được chuyển thể từ các bài thơ cổ Trung Hoa, ông đã sáng tác tác phẩm Das Lied von der Erde ("Bài ca Trái đất").[116] Mặc dù mang đậm chất giao hưởng, nhưng Mahler từ chối đánh số cho tác phẩm này để giúp ông tránh khỏi "lời nguyền của bản Giao hưởng số 9", một lời nguyền mà ông tin rằng đã ám ảnh các nhạc sĩ như Beethoven, Schubert và Bruckner.[85] Vào ngày 19 tháng 9 năm 1908, Mahler chỉ huy buổi ra mắt bản Giao hưởng số 7 tại Praha; buổi công diễn được Alma Mahler đánh giá là một thành công về mặt chuyên môn và giới phê bình hơn là đại chúng.[117]

Tập tin:Auguste Rodin - Gustav Mahler (1909).jpg
Tượng Mahler bán thân bằng đồng do Auguste Rodin thực hiện năm 1909.

Trong mùa diễn 1908–09, ban lãnh đạo Nhà hát Metropolitan đã mời nhạc trưởng người Ý Arturo Toscanini về để chia sẻ trọng trách với Mahler; ông chỉ xuất hiện 19 lần trong suốt mùa diễn. Một trong những lần xuất hiện đó là buổi biểu diễn vở Cô dâu bị bán đi của Smetana vào ngày 19 tháng 2 năm 1909 được nhận nhiều lời khen.[118] Vào giai đoạn đầu của mùa diễn, Mahler đã chỉ huy ba buổi hòa nhạc cùng Dàn nhạc Giao h ưởng New York.[119] Trải nghiệm mới mẻ này trong vai trò chỉ huy dàn nhạc đã thôi thúc ông từ nhiệm tại nhà hát opera để nhận lời đảm nhiệm vị trí nhạc trưởng của Dàn nhạc Philharmonic New York sau khi dàn nhạc này được tái cơ cấu. Ông vẫn tiếp tục thỉnh thoảng xuất hiện với tư cách nhạc trưởng khách mời tại Met; buổi biểu diễn cuối cùng của ông tại đây là vở Con đầm pích của Tchaikovsky vào ngày 5 tháng 3 năm 1910.[120]

Khi trở về châu Âu vào mùa hè năm 1909, Mahler đã sáng tác bản Giao hưởng số 9 và thực hiện chuyến lưu diễn chỉ huy dàn nhạc ở Hà Lan.[121] Mùa diễn của Dàn nhạc giao hưởng New York năm 1909–10 là một mùa diễn dài và vất vả; Mahler đã tập dượt và chỉ huy 46 buổi hòa nhạc, nhưng các chương trình của ông thường quá khắt khe đối với thị hiếu đại chúng. Bản Giao hưởng số 1 của ông, được công diễn lần đầu tại Mỹ vào ngày 16 tháng 12 năm 1909, là một trong những tác phẩm thất bại với giới phê bình và công chúng, và mùa diễn kết thúc với tổn thất tài chính nặng nề.[122] Điểm nổi bật trong mùa hè năm 1910 của Mahler là buổi biểu diễn bản Giao hưởng số 8 lần đầu tiên tại Munich vào ngày 12 tháng 9, tác phẩm cuối cùng của ông được công diễn lần đầu trong đời. Sự kiện này là một chiến thắng—"dễ dàng là thành công lớn nhất trong đời của Mahler", theo Carr[123]—nhưng nó đã bị lu mờ khi nhà soạn nhạc phát hiện rằng Alma đã bắt đầu ngoại tình với kiến ​​trúc sư trẻ Walter Gropius trước khi buổi công diễn bắt đầu. Vô cùng đau khổ, Mahler tìm lời khuyên từ Sigmund Freud và dường như đã tìm thấy sự an ủi phần nào sau cuộc gặp gỡ với nhà phân tâm học. Một trong những nhận xét của Freud là Mahler đã gây ra nhiều tổn hại khi khăng khăng yêu cầu Alma từ bỏ việc sáng tác. Mahler chấp nhận điều này và bắt đầu tích cực khuyến khích cô viết nhạc, thậm chí còn biên tập, phối khí và quảng bá một số tác phẩm của cô. Alma đồng ý ở lại với Mahler, mặc dù mối quan hệ với Gropius vẫn tiếp tục một cách lén lút. Để thể hiện tình yêu, Mahler đề tặng bản Giao hưởng số 8 của mình cho cô.[77][124]

Căn bệnh và cái chết

A tall stone column bearing the words "Gustav Mahler", surrounded by a low green hedge, with a floral bloom in the foreground
Mộ Mahler tại nghĩa trang Grinzing, Viên

Mùa hè năm 1910, bất chấp những xao nhãng về mặt cảm xúc, Mahler vẫn sáng tác bản Giao hưởng số 10 của mình, hoàn thiện chương Adagio và phác thảo bốn chương tiếp theo.[125][126] Ông và Alma trở lại New York vào cuối tháng 10 năm 1910[127] và Mahler tiếp tục mùa diễn bận rộn cùng Dàn nhạc Philharmonic với các buổi hòa nhạc và chuyến lưu diễn. Vào khoảng dịp Giáng sinh năm 1910, ông bắt đầu mắc chứng đau họng kéo dài. Vào ngày 21 tháng 2 năm 1911, dù đang sốt tới 40°C, Mahler vẫn kiên quyết thực hiện buổi biểu diễn đã định tại Carnegie Hall; chương trình hòa nhạc hôm đó chủ yếu bao gồm các tác phẩm âm nhạc Ý đương đại, trong đó có buổi công diễn thế giới tác phẩm Berceuse élégiaque của Busoni. Đây là buổi hòa nhạc cuối cùng trong sự nghiệp của Mahler.[128][129][130] Sau nhiều tuần nằm liệt giường, ông được chẩn đoán mắc bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, một căn bệnh mà những người có khiếm khuyết ở van tim đặc biệt dễ mắc phải và có thể dẫn đến tử vong. Mahler vẫn không đánh mất hy vọng; ông vẫn thường nhắc đến chuyện sẽ sớm trở lại với mùa diễn, và tỏ ra vô cùng hào hứng khi một sáng tác của Alma được nữ ca sĩ giọng soprano Frances Alda trình bày trong một buổi biểu diễn công khai vào ngày 3 tháng 3.[131] Vào ngày 8 tháng 4, gia đình Mahler cùng một nữ y tá chăm sóc riêng đã rời New York trên con tàu SS Amerika để trở về châu Âu. Mười ngày sau, họ đặt chân đến Paris; tại đây, Mahler được điều trị tại một phòng khám ở Neuilly, nhưng tình trạng sức khỏe của ông vẫn không thuyên giảm. Đến ngày 11 tháng 5, ông được chuyển bằng tàu hỏa đến viện điều dưỡng Löw ở Viên; tại đây, ông mắc thêm chứng viêm phổi và dần rơi vào trạng thái hôn mê.[132] Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, hàng trăm người đã tìm đến viện điều dưỡng để bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với ông. Sau khi được điều trị bằng radi để giảm sưng ở chân và dùng morphin để xoa dịu các chứng bệnh hành hạ cơ thể, ông qua đời vào ngày 18 tháng 5, hưởng thọ 50 tuổi.[133]

Ngày 22 tháng 5 năm 1911, Mahler được an táng tại nghĩa trang Grindzing [de] theo nguyện vọng của ông, nằm ngay bên cạnh người con gái Maria. Trên bia mộ của ông chỉ khắc duy nhất tên ông, bởi lẽ "bất cứ ai tìm đến tôi đều sẽ biết tôi là ai, còn những người khác thì không cần biết làm gì."[134] Theo lời khuyên của các bác sĩ, Alma đã vắng mặt. Trong số những người đưa tang tại buổi lễ giản dị này có Arnold Schoenberg (với vòng hoa mang dòng chữ ca ngợi Mahler là "Gustav Mahler thánh thiện"), Bruno Walter, Alfred Roller, họa sĩ thuộc trường phái Ly khai Gustav Klimt, cùng đại diện của nhiều nhà hát opera danh tiếng khắp châu Âu.[135] Khi đưa tin về cái chết của Mahler, tờ The New York Times gọi ông là "một trong những nhân vật âm nhạc đương thời kiệt xuất nhất", song lại chủ yếu bàn về các bản giao hưởng của ông về mặt thời lượng, trong đó đã vô tình phóng đại thời lượng của Bản giao hưởng số 2 lên "hai giờ bốn mươi phút".[136] Tại Luân Đôn, bản cáo phó trên tờ The Times nhận định rằng tài chỉ huy của ông "xuất sắc hơn bất kỳ ai ngoại trừ Richter", và rằng các bản giao hưởng của ông "chắc chắn rất thú vị ở việc kết hợp sự phong phú của dàn nhạc hiện đại với một nét giản dị trong giai điệu, đôi khi tiệm cận sự tầm thường", mặc dù vẫn còn quá sớm để có thể đánh giá trọn vẹn giá trị đích thực của chúng.[137]

Alma Mahler sống thọ hơn người chồng của mình tới hơn 50 năm và qua đời vào năm 1964. Bà kết hôn với Walter Gropius vào năm 1915, ly hôn với ông năm năm sau, và kết hôn với nhà văn Franz Werfel vào năm 1929.[138] Năm 1940, bà xuất bản một cuốn hồi ký ghi lại những năm tháng sống cùng Mahler mang tên Gustav Mahler: Memories and Letters (tạm dịch: Gustav Mahler: Những ký ức và thư từ). Tác phẩm này bị các nhà viết tiểu sử về sau chỉ trích là thiếu sót, mang tính chọn lọc và chỉ nhằm phục vụ lợi ích cá nhân, đồng thời đã vẽ một bức tranh sai lệch về cuộc đời của Mahler.[139][gc 9] Cô con gái của nhà soạn nhạc là Anna Mahler trở thành một nhà điêu khắc danh tiếng; bà qua đời vào năm 1988.[141] Hội Gustav Mahler Quốc tế được thành lập vào năm 1955 tại Viên, với chủ tịch đầu tiên là Bruno Walter và Alma Mahler là thành viên danh dự. Hội đặt mục tiêu biên soạn một ấn bản phê bình hoàn chỉnh của các tác phẩm của Mahler, đồng thời tôn vinh mọi khía cạnh trong cuộc đời của nhà soạn nhạc này.[142]

Âm nhạc

Ba thời kỳ sáng tạo

Three staves of printed music showing the vocal line and the piano accompaniment of the first few bars
Mở đầu tác phẩm Lieder eines fahrenden Gesellen, xuất bản năm 1897 và được viết cho giọng ca và dương cầm.

Deryck Cooke cùng các nhà phân tích khác đã chia sự nghiệp sáng tác của Mahler thành ba giai đoạn riêng biệt: một "giai đoạn đầu" kéo dài, trải dài từ tác phẩm Das klagende Lied năm 1880 cho đến khi kết thúc giai đoạn Wunderhorn vào năm 1901; một "giai đoạn giữa" với cường độ sáng tác tập trung hơn, kết thúc khi Mahler lên đường sang New York vào năm 1907; và một "giai đoạn cuối" ngắn ngủi bao gồm các tác phẩm mang âm hưởng bi ca, trước khi ông qua đời vào năm 1911.[143]

Các tác phẩm chủ đạo thuộc giai đoạn đầu bao gồm bốn bản giao hưởng đầu tiên, liên ca khúc Lieder eines fahrenden Gesellen, cùng nhiều tuyển tập ca khúc khác mà trong đó các bài hát thuộc tuyển tập Wunderhorn chiếm ưu thế.[35] Trong giai đoạn này, các ca khúc và bản giao hưởng có mối liên hệ mật thiết và các tác phẩm giao hưởng mang tính chương trình. Mahler ban đầu soạn thảo những chương trình mô tả chi tiết cho ba bản giao hưởng đầu tiên nhưng về sau ông hoàn toàn từ bỏ các chương trình đó.[144] Ông cũng đặt tên cho từng chương của Bản giao hưởng số 4 nhưng không công bố rộng rãi; dựa trên những tiêu đề này, nhà phê bình âm nhạc người Đức Paul Bekker phỏng đoán về một chương trình trong đó hình tượng Thần Chết xuất hiện ở chương Scherzo "dưới vỏ bọc thân thiện, đầy chất huyền thoại của một nghệ sĩ vĩ cầm, đang dụ dỗ đàn chiên của mình rời bỏ thế giới này cùng ông."[145]

Giai đoạn giữa bao gồm bộ ba các bản giao hưởng hoàn toàn bằng nhạc khí (số 5, 6 và 7), các ca khúc "Rückert" và Kindertotenlieder, hai bản phổ nhạc Wunderhorn cuối cùng, và, theo một số quan điểm, tuyên ngôn vĩ đại cuối cùng của Mahler: bản Giao hưởng số 8 dành cho hợp xướng.[95] Cooke cho rằng bản giao hưởng số 8 có một vị thế riêng, nằm giữa giai đoạn giữa và giai đoạn cuối.[146] Đến thời điểm này, Mahler đã từ bỏ mọi chương trình âm nhạc tường minh và các bản nhạc có tựa đề mang tính mô tả; ông muốn sáng tác âm nhạc "tuyệt đối", trong đó tự thân tác phẩm nói lên tất cả.[147] Cooke nhận định về "một sự rắn rỏi tựa đá hoa cương mới trong kỹ thuật phối khí" ở các bản giao hưởng thuộc giai đoạn giữa,[95] trong khi các ca khúc đã đánh mất phần lớn tính chất dân gian vốn có và không còn nuôi dưỡng các bản giao hưởng một cách rõ nét như trước nữa.[148]

Ba tác phẩm trong giai đoạn cuối ngắn ngủi—Das Lied von der Erde, Giao hưởng số 9 và Giao hưởng số 10 (chưa hoàn thành)—là cách diễn đạt trải nghiệm cá nhân của Mahler khi ông đối mặt với cái chết.[149] Mỗi tác phẩm đều có cái kết lặng lẽ, biểu thị rằng khát vọng giờ đây đã nhường chỗ cho sự cam chịu.[150] Cooke coi những tác phẩm này là lời tạm biệt đầy yêu thương (thay vì cay đắng) với cuộc sống;[151] nhà soạn nhạc Alban Berg gọi Giao hưởng số 9 là "tác phẩm tuyệt vời nhất mà Mahler từng viết".[149] Không một tác phẩm nào trong số này được trình diễn khi Mahler còn sống.[152]

Tiền đề và ảnh hưởng

Mahler là một nhà soạn nhạc "cuối thời kỳ Lãng mạn", một phần của lý tưởng vốn đặt vị thế âm nhạc cổ điển Áo-Đức cao hơn so với các thể loại khác, dựa trên quan niệm rằng dòng nhạc này sở hữu những ý nghĩa tinh thần và triết học đặc biệt.[153] Ông là một trong những nhà soạn nhạc lớn cuối cùng thuộc một dòng chảy nghệ thuật bao gồm, bên cạnh những tên tuổi khác, Beethoven, Schubert, Liszt, Wagner, Bruckner và Brahms.[23][154] Từ những bậc tiền bối này, Mahler đã tiếp thu nhiều đặc điểm sau này trở thành nét đặc trưng trong âm nhạc của chính ông. Cụ thể, từ bản Giao hưởng số 9 của Beethoven, ông đã tiếp nhận ý tưởng sử dụng các nghệ sĩ đơn ca và dàn hợp xướng ngay trong khuôn khổ thể loại giao hưởng. Từ Beethoven, Liszt và Berlioz (từ truyền thống âm nhạc khác), ông tiếp thu khái niệm sáng tác âm nhạc mang tính tự sự hoặc "chương trình" nội tại, cũng như việc phá vỡ cấu trúc giao hưởng bốn chương truyền thống. Những tác phẩm của Wagner và Bruckner đã khuyến khích Mahler mở rộng quy mô các tác phẩm giao hưởng của mình ra ngoài những chuẩn mực từng được chấp nhận trước đó, nhằm ôm trọn một thế giới cảm xúc rộng lớn[155][154]

Những nhà phê bình thời kỳ đầu từng cho rằng việc Mahler vận dụng nhiều phong cách khác nhau để diễn tả những cung bậc cảm xúc đa dạng thể hiện rằng ông thiếu một phong cách riêng biệt. Ngược lại, Cooke khẳng định rằng Mahler đã "chuộc lại mọi sự vay mượn bằng cách in dấu cá tính [của ông] lên hầu hết các nốt nhạc" để tạo âm nhạc mang tính "độc đáo xuất sắc."[156] Nhà phê bình âm nhạc Harold Schonberg nhìn nhận bản chất âm nhạc của Mahler nằm ở chủ đề về sự đấu tranh, một truyền thống vốn bắt nguồn từ Beethoven. Tuy nhiên, theo Schonberg, nếu những cuộc đấu tranh của Beethoven là của "một người anh hùng kiên cường và chiến thắng", thì những cuộc đấu tranh của Mahler lại thuộc về "một người có tâm lý yếu đuối, một thiếu niên hay than vãn... tận hưởng nỗi bất hạnh của mình và muốn cả thế giới phải chứng kiến ​​cảnh ông dằn vặt."[157] Dẫu vậy, Schonberg cũng thừa nhận rằng hầu hết các bản giao hưởng của Mahler đều chứa đựng những đoạn mà ở đó, hình ảnh "người tư duy sâu sắc" Mahler bị lu mờ bởi vẻ tráng lệ của người nghệ sĩ Mahler.[150]

Thể loại

Ngoại trừ các tác phẩm thời niên thiếu của ông mà chỉ có ít tác phẩm sót lại, Mahler chỉ sáng tác trong thể loại ca khúc và giao hưởng, với mối quan hệ mật thiết và phức tạp giữa hai thể loại này.[gc 10] Donald Mitchell nhận định rằng sự tương tác này tạo ra bối cảnh để hiểu và đánh giá toàn bộ âm nhạc của Mahler.[158] Mối liên hệ ban đầu giữa ca khúc và giao hưởng xuất hiện trong chu kỳ ca khúc Lieder eines fahrenden Gesellen và Giao hưởng số 1. Mặc dù bằng chứng ban đầu về sự giao thoa này rất quan trọng, nhưng phải đến giai đoạn Wunderhorn lâu dài của Mahler, khi bản Giao hưởng số 2, 3 và 4 của ông được viết, thì thể loại ca khúc và giao hưởng mới được hòa quyện một cách nhất quán. Các chủ đề từ ca khúc Das himmlische Leben ("Cuộc sống trên thiên đường") trong chu kỳ Wunderhorn, sáng tác năm 1892, đã trở thành yếu tố quan trọng trong bản Giao hưởng số 3 được hoàn thành năm 1896; chính ca khúc này tạo thành phần kết của Giao hưởng số 4 (1900) và giai điệu của nó là trung tâm của toàn bộ tác phẩm.[159] Đối với Bản giao hưởng số 2, được viết từ năm 1888 đến năm 1894, Mahler đã đồng thời sáng tác bài hát Des Antonius von Padua Fischpredigt ("Bài giảng của Thánh Anthony xứ Padua cho loài cá") trong bộ Wunderhorn và Scherzo dựa trên bài hát đó, sau này trở thành chương thứ ba của bản giao hưởng.[160] Một bản nhạc Wunderhorn khác từ năm 1892, Urlicht ("Ánh sáng nguyên thủy"), được sử dụng làm chương thứ tư (áp chót) của bản Giao hưởng số 2.[161]

Trong giai đoạn giữa và cuối, mối quan hệ giữa bài hát và giao hưởng trong các tác phẩm của Mahler ít trực diện hơn.[148] Tuy nhiên, nhà âm nhạc học Donald Mitchell nhấn mạnh tới mối quan hệ cụ thể giữa các bài hát thời kỳ giữa và các bản giao hưởng đương thời của chúng—bài hát Kindertotenlieder thứ hai và phần Adagietto từ Giao hưởng số 5, bài hát Kindertotenlieder cuối cùng và phần kết của Giao hưởng số 6.[162][163] Tác phẩm cuối cùng của Mahler dành cho thanh nhạc và dàn nhạc, Das Lied von der Erde, có phụ đề là "Một bản giao hưởng...", được Mitchell phân loại là "một bài hát và một bản giao hưởng."[148]

Phong cách

Cooke cho rằng có sự kết hợp tự nhiên giữa bài hát và hình thức giao hưởng trong âm nhạc của Mahler; "các bài hát của ông nở rộ một cách tự nhiên thành các chương giao hưởng, vốn đã mang sắc thái giao hưởng."[164] Với Sibelius, Mahler bày tỏ niềm tin rằng "Bản giao hưởng phải giống như thế giới. Nó phải bao trùm mọi thứ."[165] Đúng với niềm tin này, Mahler đã lấy chất liệu từ nhiều nguồn khác nhau vào các bài hát và tác phẩm giao hưởng của mình: tiếng chim hót và tiếng chuông bò để gợi lên hình ảnh thiên nhiên và vùng nông thôn, tiếng kèn hiệu, giai điệu đường phố và điệu nhảy đồng quê để gợi lại thế giới đã mất của tuổi thơ ông. Những khó khăn trong cuộc sống được thể hiện bằng những tâm trạng tương phản: khát vọng viên mãn được thể hiện bằng những giai điệu bay bổng và hòa âm sắc độ, đau khổ và tuyệt vọng được thể hiện bằng sự bất hòa, méo mó và kỳ dị. Giữa tất cả những điều này là dấu ấn đặc biệt của Mahler—sự xâm nhập liên tục của sự tầm thường và phi lý vào những khoảnh khắc nghiêm túc sâu sắc, điển hình là trong chương thứ hai của bản Giao hưởng số 5 khi một giai điệu phổ biến tầm thường đột ngột xen vào một khúc nhạc tang lễ trang trọng. Giai điệu tầm thường sớm thay đổi tính chất của nó, và sau đó lại xuất hiện như một trong những bản hợp xướng hùng tráng của Bruckner mà Mahler sử dụng để biểu thị hy vọng và sự giải quyết xung đột.[166] Bản thân Mahler cũng nhận ra những nét đặc trưng riêng trong tác phẩm của mình; ông gọi chương Scherzo trong bản Giao hưởng số 3 là "tác phẩm hài hước nhất và đồng thời bi thảm nhất từng tồn tại... Nó giống như toàn bộ thiên nhiên đang làm mặt hề và lè lưỡi."[167]

Cooke cho rằng phạm vi các cung bậc cảm xúc âm nhạc đến từ "sự phối khí tuyệt vời" của Mahler, mà theo quan điểm của tác giả, khó có thể phân tích được—"tự nó nói lên tất cả."[168] Franklin liệt kê các đặc điểm cơ bản trong phong cách của Mahler: âm lượng cực đoan, việc sử dụng các nhóm nhạc ngoài sân khấu, cách sắp xếp dàn nhạc phi truyền thống và việc thường xuyên sử dụng các hình thức âm nhạc và khiêu vũ phổ biến như ländler và waltz.[155] Nhà âm nhạc học Vladimír Karbusický cho rằng nguồn gốc Do Thái của nhà soạn nhạc đã có ảnh hưởng lâu dài đến sản phẩm sáng tạo của ông; ông chỉ ra phần trung tâm của chương thứ ba của Bản giao hưởng số 1 là phần âm nhạc "Yiddish" đặc trưng nhất trong các tác phẩm của Mahler.[169] Nhà soạn nhạc kiêm nhà báo người Séc Max Brod cũng xác định được các giai điệu và nhịp điệu Do Thái trong âm nhạc của Mahler.[170]

Một thủ pháp kỹ thuật được Mahler sử dụng nhiều là "âm điệu tiến triển", được Deryck Cooke mô tả là "cách giải quyết xung đột giao hưởng ở một giọng khác với giọng mà nó được nêu ra",[168] và thường được sử dụng "để tượng trưng cho sự gia tăng dần dần của một giá trị nhất định bằng cách chuyển từ giọng này sang giọng khác trong suốt toàn bộ bản giao hưởng".[171] Kỹ thuật này cũng được Carl Nielsen, một người cùng thời với Mahler ở Đan Mạch, sử dụng. Mahler lần đầu tiên sử dụng thủ pháp này trong một bài hát đầu tay Erinnerung ("Ký ức"), và sau đó sử dụng nó một cách tự do trong các bản giao hưởng của mình. Ví dụ, giọng chủ đạo của bản Giao hưởng số 1 là Rê trưởng; ở đầu chương cuối, chương "xung đột", giọng chuyển sang Fa thứ, và chỉ sau một cuộc chiến dài mới trở lại Rê trưởng ở đoạn gần cuối. Bản Giao hưởng số 2 bắt đầu ở Đô thứ và kết thúc ở Mi giáng trưởng.[168] Các chương của Bản giao hưởng số 5 tiến triển liên tiếp từ Đô thăng thứ đến La thứ, sau đó là Rê trưởng, Fa trưởng và cuối cùng là Rê trưởng.[147] Bản giao hưởng số 6, khác thường so với các tác phẩm khác của Mahler, bắt đầu và kết thúc ở cùng giọng La thứ, cho thấy rằng trong trường hợp này, xung đột vẫn chưa được giải quyết.[172]

Đón nhận

1889–1911: Phản ứng ban đầu

Caricature of Mahler surrounded by comical musical instruments, including a motor horn which he is operating by the use of his feet
Một bình luận châm biếm về bản Giao hưởng số 6 của Mahler. Lời chú thích có nghĩa là: "Trời đất, tôi quên tiếng còi xe rồi! Chắc phải viết thêm một bản giao hưởng nữa thôi."

Bạn của Mahler, Guido Adler, dự tính rằng vào thời điểm nhà soạn nhạc qua đời năm 1911 đã có hơn 260 buổi biểu diễn các bản giao hưởng ở Châu Âu, Nga và Mỹ, trong đó Giao hưởng số 4 được biểu diễn nhiều nhất với 61 lần (Adler không thống kê số buổi biểu diễn của các bài hát).[173] Trong suốt cuộc đời mình, các tác phẩm của Mahler và các buổi biểu diễn của chúng đã thu hút sự quan tâm rộng rãi nhưng hiếm khi nhận được sự tán dương tuyệt đối; trong nhiều năm sau buổi ra mắt năm 1889, các nhà phê bình và công chúng đã phải vật lộn để hiểu Giao hưởng số 1, được một nhà phê bình mô tả sau khi nghe buổi biểu diễn ở Dresden năm 1898 là "tác phẩm [giao hưởng] tẻ nhạt nhất được ra đời từ kỷ nguyên mới".[174] Giao hưởng số 2 được đón nhận tích cực hơn, với một nhà phê bình gọi đây là "tác phẩm xuất sắc nhất trong thể loại này kể từ Mendelssohn".[175] Lời khen ngợi hào phóng như vậy rất hiếm, đặc biệt là sau khi Mahler lên nắm quyền giám đốc Nhà hát Opera Hoàng gia Viên. Nhiều kẻ thù của ông trong thành phố đã sử dụng báo chí bài Do Thái và bảo thủ để bôi nhọ hầu hết mọi buổi biểu diễn tác phẩm của Mahler;[176] vì thế mà bản Giao hưởng số 3, một thành công ở Krefeld vào năm 1902, đã bị khinh miệt ở Viên: "Bất cứ ai phạm phải hành vi như vậy đều đáng bị bỏ tù vài năm."[177]

Sự kết hợp giữa nhiệt tình, hoang mang và phê phán một cách khinh miệt trở thành phản ứng thường thấy đối với các bản giao hưởng mới của Mahler, mặc dù các bài hát được đón nhận tích cực hơn.[178] Sau khi Giao hưởng số 4 và số 5 của ông không được công chúng đón nhận rộng rãi, Mahler tin rằng Giao hưởng số 6 của ông cuối cùng sẽ thành công.[179] Tuy nhiên, sự đón nhận của tác phẩm bị lấn át bởi những bình luận châm biếm về bộ gõ không bình thường mà Mahler đã sử dụng—búa gỗ, que bạch dương và trống bass vuông khổng lồ.[180] Nhà phê bình người Viên Heinrich Reinhardt đã gọi bản giao hưởng là "Kèn đồng, rất nhiều kèn đồng, cực kỳ nhiều kèn đồng! Thậm chí còn nhiều kèn đồng hơn nữa, không gì ngoài kèn đồng!"[181] Chiến thắng trình diễn trọn vẹn duy nhất trong suốt cuộc đời của Mahler là buổi ra mắt bản Giao hưởng số 8 tại Munich vào ngày 12 tháng 9 năm 1910, được những người quảng bá quảng cáo là "Giao hưởng của một nghìn người".[gc 11] Khi kết thúc, tiếng vỗ tay và hoan nghênh được cho là kéo dài nửa tiếng.[123]

1911–1950: Khoảng thời gian lãng quên

Sau khi qua đời, các tác phẩm của Mahler ít được biểu diễn thường xuyên hơn. Tại Hà Lan, sự ủng hộ nhiệt thành của Willem Mengelberg đã giúp Mahler duy trì được sự phổ biến tại đây; thêm vào đó, quãng thời gian mà Mengelberg cộng tác với Dàn nhạc Giao hưởng New York từ năm 1922 đến 1928 đã giúp đưa âm nhạc của Mahler được đến với công chúng Mỹ một cách thường xuyên.[173] Tuy nhiên, phần lớn phản ứng từ giới phê bình Mỹ trong thập niên 1920 lại mang hướng tiêu cực, bất chấp nỗ lực tâm huyết của nhà soạn nhạc trẻ Aaron Copland nhằm giới thiệu Mahler như một nghệ sĩ tiên phong, đi trước thời đại tới 30 năm và sở hữu sức sáng tạo vượt trội hơn hẳn Richard Strauss.[183] Trước đó, vào năm 1916, Leopold Stokowski đã chỉ huy buổi công diễn ra mắt bản Giao hưởng số 8 và tác phẩm Das Lied von der Erde cho khán giả Hoa Kỳ tại Philadelphia. Buổi biểu diễn bản Giao hưởng số 8 thành công vang dội, và tác phẩm ngay lập tức được biểu diễn đến New York và tiếp tục gặt hái thêm thắng lợi.[182]

Một trong những người đầu tiên ủng hộ các tác phẩm của Mahler ở Anh là Adrian Boult, một nhạc trưởng của Dàn nhạc Thành phố Birmingham đã trình diễn bản Giao hưởng số 4 vào năm 1926 và Das Lied von der Erde vào năm 1930.[184] Dàn nhạc Hallé đã mang Das Lied và bản Giao hưởng số 9 đến Manchester vào năm 1931; Henry Wood đã dàn dựng Bản giao hưởng số 8 ở London vào năm 1930, và một lần nữa vào năm 1938 khi nhà soạn nhạc Benjamin Britten trẻ tuổi nhận thấy buổi biểu diễn "đáng ghét" nhưng dù sao vẫn ấn tượng bởi âm nhạc.[185] Các nhà phê bình Anh trong giai đoạn này phần lớn khinh thường và khen ngợi hời hợt Mahler. Do đó mà Dyneley Hussey viết vào năm 1934 rằng "những bài hát thiếu nhi" rất thú vị, nhưng nên bỏ qua các bản giao hưởng.[186] Nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng Julius Harrison mô tả các bản giao hưởng của Mahler là "đôi khi thú vị, nhưng được thực hiện một cách vất vả" và thiếu sự sáng tạo.[187] Bernard Shaw cho rằng thế hệ trẻ của những năm 1930 coi Mahler (và Bruckner) là "hạng hai đắt đỏ".[188]

Trước khi âm nhạc của Mahler bị cấm vì bị coi là "thấp kém" trong thời kỳ Đức Quốc xã, các bản giao hưởng và bài hát đã được trình diễn trong các phòng hòa nhạc ở Đức và Áo, thường dưới sự chỉ huy của Bruno Walter hoặc Otto Klemperer—trợ lý trẻ tuổi của Mahler[173]—và Willem Mengelberg. Tại Áo, tác phẩm của Mahler trải qua một thời kỳ phục hưng ngắn ngủi từ năm 1934 đến năm 1938, một giai đoạn ngày nay được gọi là 'Chủ nghĩa phát xít Áo', khi chế độ chuyên chế đã tìm cách biến Mahler thành một biểu tượng quốc gia (với vị thế tương đương với Wagner ở Đức) với sự giúp đỡ của Alma Mahler và Bruno Walter (cả hai đều có mối quan hệ thân thiết với thủ tướng mới Kurt Schuschnigg).[189] Âm nhạc của Mahler đã được trình diễn trong thời kỳ Đức Quốc xã ở Berlin vào đầu năm 1941 và ở Amsterdam trong thời kỳ Đức chiếm đóng Hà Lan bởi các dàn nhạc Do Thái và chỉ dành cho khán giả Do Thái; Các tác phẩm được trình diễn bao gồm bản Giao hưởng số 2 (ở Berlin), bản giao hưởng số 1 và 4, và Bài ca của một người lữ hành (ở Amsterdam).[190]

Sự hồi sinh hiện đại

Theo nhà soạn nhạc người Mỹ David Schiff, người đồng hương Leonard Bernstein từng ngụ ý rằng chính ông là đã tự tay giải cứu Mahler khỏi sự lãng quên vào năm 1960 sau 50 năm bị lãng quên. Schiff chỉ ra rằng sự bỏ mặc này chỉ mang tính tương đối—ít hơn nhiều so với sự thờ ơ (chưa hoàn toàn) dành cho Bach trong những năm sau khi ông qua đời. Mặc dù Bernstein đã tạo thêm động lực cho sự hồi sinh của âm nhạc Mahler, nhưng trên thực tế quá trình này đã diễn ra mạnh mẽ từ trước năm 1960 và được duy trì bởi những nhạc trưởng như Stokowski, Dimitri MitropoulosJohn Barbirolli, cùng với Aaron Copland—người đã kiên trì ủng hộ Mahler trong suốt thời gian dài.[191] Bản thân Mahler cũng đã tiên đoán về vị trí của mình trong lịch sử khi nhận định rằng: "Phải chi tôi có thể trình diễn các bản giao hưởng của mình lần đầu tiên vào đúng 50 năm sau khi tôi qua đời!"[172][192]

Deryck Cooke lập luận rằng sự nổi tiếng của Mahler tăng vọt khi thế hệ người yêu âm nhạc thời hậu chiến xuất hiện; việc họ không bị ảnh hưởng bởi "những luận điểm chống chủ nghĩa lãng mạn lỗi thời" đã tác động tới danh tiếng của Mahler trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh. Trong thời đại tự do hơn này, sự nhiệt tình dành cho Mahler đã lan rộng ngay cả đến những nơi—Tây Ban Nha, Pháp, Ý—vốn từ lâu đã phản đối ông.[193] Lời giải thích đơn giản hơn của Jonathan Carr về sự hồi sinh của Mahler vào những năm 1950 là "đĩa nhạc dài [vào đầu những năm 1950] chứ không phải Zeitgeist đã tạo nên một bước đột phá toàn diện. Tác phẩm của Mahler trở nên dễ tiếp cận và có thể nghe đi nghe lại tại nhà."[173] Trong những năm sau lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông vào năm 1960, Mahler nhanh chóng trở thành một trong những nhà soạn nhạc được biểu diễn và thu âm nhiều nhất, và phần lớn vẫn giữ nguyên vị trí đó. Ở Anh và những nơi khác, Carr lưu ý rằng mức độ biểu diễn và thu âm các tác phẩm của Mahler đã thay thế tình trạng khan hiếm tương đối bằng tình trạng dư thừa, dẫn đến các vấn đề về sự quen thuộc quá mức.[173] Harold Schonberg nhận xét rằng "thật khó để nghĩ đến một nhà soạn nhạc nào khơi dậy lòng trung thành tương đương", đồng thời nói thêm rằng "bất kỳ phản ứng nào không phải là sự say mê đối với các bản giao hưởng của Mahler sẽ mang lại [cho nhà phê bình] những bức thư dài lên án đầy giận dữ."[157]

Trong một bức thư gửi Alma đề ngày 16 tháng 2 năm 1902, Mahler đã viết, khi nhắc đến Richard Strauss: "Ngày của anh sẽ đến khi ngày của ông ấy khép lại. Phải chi anh có thể sống với em bên cạnh để chứng kiến điều đó!"[194] Carr nhận định rằng Mahler hoàn toàn có thể sống đủ lâu để chứng kiến ​​"ngày của anh"; người cùng thời với ông là Richard Strauss đã sống đến tận năm 1949, trong khi Sibelius, kém Mahler năm tuổi, sống đến năm 1957.[195]

Ảnh hưởng về sau

Tập tin:Portrait gustav mahler 1910.jpg
Chân dung Mahler do Schoenberg vẽ vào năm 1910.

Donald Mitchell viết rằng tầm ảnh hưởng của Mahler đối với các thế hệ nhà soạn nhạc kế cận là "một chủ đề hoàn chỉnh và độc lập".[196] Một số học trò đầu tiên của Mahler gồm Arnold Schoenberg cùng các học trò của ông là Alban BergAnton Webern—những người cùng sáng lập Trường phái Viên thứ hai.[197] Âm nhạc của Mahler đã tác động đến bước chuyển của bộ ba này từ chủ nghĩa âm thể tiến hành sang vô điệu tính (âm nhạc không có điệu thức); mặc dù Mahler không chấp nhận chủ nghĩa vô điệu tính, nhưng ông lại trở thành người bảo vệ quyết liệt cho sự độc đáo đầy táo bạo trong các tác phẩm của Schoenberg. Tại buổi công diễn ra mắt bản Tứ tấu đàn dây số 1 của Schoenberg vào tháng 2 năm 1907, Mahler được cho là đã bị can ngăn để không lao vào tấn công những người phản đối tác phẩm.[198] Các tác phẩm như Serenade, Op. 24 (1923) của Schoenberg; Ba tác phẩm cho dàn nhạc (1915) của Berg; và Sáu tác phẩm (1928) của Webern đều mang những âm hưởng từ ​​Bản giao hưởng số 7 của Mahler.[199] Mahler cũng đã ảnh hưởng đến các bản nhạc phim của John Williams cùng nhiều nhà soạn nhạc Hollywood khác.[200]

Trong số những nhà soạn nhạc khác mà tác phẩm chịu ảnh hưởng từ Mahler, Mitchell liệt kê Aaron Copland của Mỹ, nhà soạn nhạc ca khúc và nhạc kịch người Đức Kurt Weill,[201] Luciano Berio của Ý, Dmitri Shostakovich của Nga và Benjamin Britten của Anh.[196] Hai nhà soạn nhạc người Mỹ Leonard BernsteinSamuel Barber cũng chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của Mahler.[200] Trong một cuộc phỏng vấn năm 1989, nghệ sĩ dương cầm kiêm nhạc trưởng Vladimir Ashkenazy nhận định rằng mối liên hệ giữa Mahler và Shostakovich là "vô cùng mạnh mẽ và rõ nét"; âm nhạc của họ đại diện cho hình ảnh "cá nhân đối đầu với những thói hư tật xấu của thế giới".[202] Mitchell nhấn mạnh tới lối viết "tinh tế, giản lược và đầy tính độc lập một cách kỳ diệu dành cho bộ khí trong... chương đầu tiên của bản Giao hưởng cho Cello" do Britten viết vào năm 1963. Ông cho rằng tác phẩm "rõ ràng thuộc về đẳng cấp của sự trong suốt lấp lánh và sự giải phóng nhạc cụ mà Mahler đã góp công to lớn trong việc thiết lập". Mitchell kết luận rằng "kể cả khi âm nhạc của ông không còn tồn tại, Mahler vẫn sẽ sống mãi qua âm nhạc của những người kế tục xuất sắc đã đón nhận phong cách nghệ thuật và tiếp thu các kỹ thuật sáng tác của ông".[196] Một cuộc khảo sát do tạp chí BBC Music Magazine thực hiện vào năm 2016, với sự tham gia của 151 nhạc trưởng, đã xếp ba bản giao hưởng của ông vào danh sách mười tác phẩm giao hưởng xuất sắc nhất mọi thời đại.[203]

Bảo tàng và đài tưởng niệm

Tại Hamburg, Bảo tàng Gustav Mahler, tọa lạc tại Khu các Nhà soạn nhạc, được dùng để tôn vinh cuộc đời và sự nghiệp của Gustav Mahler.[204] Tại Altschluderbach, gần Toblach thuộc vùng Nam Tirol, Ý, vẫn còn lưu giữ một bảo tàng nhỏ kiêm khu tưởng niệm nằm trong căn chòi sáng tác cũ của Mahler. Địa điểm này nằm trong công viên động vật và cạnh ngôi nhà Gustav Mahler Stube. Tầng một của ngôi nhà từng là nơi đặt bảo tàng. Mahler cùng người vợ Alma đã sinh sống tại đây từ năm 1907 đến 1910.[205] Hai trong số những căn chòi sáng tác khác từng được Mahler sử dụng hiện vẫn còn tồn tại; cả hai đều đã được bài trí thành những bảo tàng nhỏ. Một căn chòi sáng tác nằm tại hồ Attersee, vùng Thượng Áo,[206] và căn còn lại nằm tại hồ Wörthersee thuộc vùng Carinthia.[207] Núi Mahler thuộc dãy Rocky ở bang Colorado được đặt tên nhằm tôn vinh vị nhà soạn nhạc này.[208]

Ghi chú

  1. ^ Phần âm nhạc của vở Der Trompeter von Säkkingen hiện đã gần như thất lạc hoàn toàn. Tuy nhiên, một chương nhạc mang tựa đề "Blumine" đã được Mahler đưa vào phiên bản đầu tiên (gồm năm chương) của bản Giao hưởng số 1 của ông.[24]
  2. ^ Mahler có thể đã biết đến tuyển tập này từ trước bởi bài thơ đầu tiên trong bộ Lieder eines fahrenden Gesellen được ông dựa trên một văn bản từ bộ Wunderhorn.[32]
  3. ^ Mahler có thể đã biết đến tuyển tập này từ trước bởi bài thơ đầu tiên trong bộ Lieder eines fahrenden Gesellen được ông dựa trên một văn bản từ bộ Wunderhorn.[32]
  4. ^ Một số nguồn, chẳng hạn như Banks 1980, tr. 509, ghi ngày bổ nhiệm là 8 tháng 9 năm 1897. Theo La Grange, sắc lệnh bổ nhiệm Mahler vào chức Giám đốc được đề ngày 8 tháng 10 và được Đại Nội thị ký thay mặt Hoàng đế vào ngày 15 tháng 10.
  5. ^ Alma Schindler, người vợ tương lai của Mahler, cho rằng bà đã giới thiệu Mahler cho Roller tại nhà cha dượng vào tháng 1 năm 1902. Tuy nhiên, có một số bằng chứng cho rằng Roller đã thiết kế cho Nhà hát Opera Hoàng gia từ tận tháng 1 năm 1901.[76]
  6. ^ Các buổi hòa nhạc đăng ký là một chương trình hòa nhạc giao hưởng thường niên, được trình diễn bởi Dàn nhạc Giao hưởng Vienna—tập hợp những nhạc công tinh hoa từ Hofoper. Do đó, Mahler vốn đã rất quen thuộc với các nhạc công này ngay trước khi ông bắt đầu đảm nhiệm vai trò chỉ huy cho các buổi hòa nhạc.[87]
  7. ^ Một trong những bài thơ của Rückert, "Liebst du um Schönheit", vẫn chưa được phối khí cho đến khi được nhạc sĩ Max Puttmann từ Leipzig thực hiện. Bài hát này thường được trình diễn cùng với các bài hát khác.[96]
  8. ^ Ví dụ, trong những bức thư gửi cho Alma từ Munich năm 1910, bức cuối cùng bắt đầu bằng: "Almschili yêu dấu, yêu điên cuồng của anh! Hãy tin anh, anh đang phát ốm vì tình!" [108] Tuy nhiên, Carr nhấn mạnh mức độ mà Alma Mahler đã biên tập và lựa chọn những bức thư mà bà đã xuất bản trong cuốn sách "Hồi ức và Thư từ", được xuất bản lần đầu vào năm 1940.[109]
  9. ^ Thuật ngữ "Vấn đề Alma" đã được dùng để chỉ những khó khăn cho các nhà sử học đời sau vì sự bóp méo thông tin do Alma tạo ra. Jonathan Carr viết: "Từng chút một, ngày càng nhiều thông tin về Alma được hé lộ, làm dấy lên những nghi ngờ lớn hơn đối với các tác phẩm đã xuất bản của bà ... Những bức thư Mahler gửi cho bà đã được công khai một cách trọn vẹn hơn nhiều so với những gì bà quyết định công bố. Giờ đây, điều hiển nhiên là Alma không chỉ mắc phải những sai sót ngẫu nhiên hay nhìn nhận sự việc 'qua lăng kính chủ quan của chính mình'; bà đã cố tình ngụy tạo các tư liệu." [140]
  10. ^ Donald Mitchell phân biệt giữa "bài hát" và "chu kỳ bài hát"; ông cũng chỉ trích thuật ngữ "nhà soạn nhạc giao hưởng bài hát", mà ông gọi là "một lời sáo rỗng kinh khủng thuộc về lịch sử đáng ngờ của những nhà phê bình Mahler."[148]
  11. ^ Mahler không công nhận tựa đề "Bản giao hưởng của một nghìn người". Jonathan Carr cho biết rằng buổi ra mắt ở Munich có chưa đến 1000 người biểu diễn tham gia.[123] Tuy nhiên, tại buổi ra mắt ở Mỹ dưới sự chỉ huy của Leopold Stokowski vào năm 1916, đã có 1068 người biểu diễn, trong đó có 950 ca sĩ hợp xướng.[182]

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ Blaukopf 1974, tr. 15–16.
  2. ^ Cooke 1980, tr. 7.
  3. ^ a b c Banks 1980, tr. 505
  4. ^ a b c Blaukopf 1974, tr. 18–19
  5. ^ Franklin 2001, §1 ¶1.
  6. ^ Carr 1998, tr. 8–9.
  7. ^ a b c Blaukopf 1974, tr. 20–22
  8. ^ a b Franklin 2001, §1 ¶3.
  9. ^ Blaukopf 1974, tr. 25–26.
  10. ^ Banks 1980, tr. 506.
  11. ^ Mitchell 1995, tr. 33–38.
  12. ^ a b Blaukopf 1974, tr. 30–31
  13. ^ a b Blaukopf 1974, tr. 33–35
  14. ^ Blaukopf 1974, tr. 39–40.
  15. ^ a b Carr 1998, tr. 23–24.
  16. ^ Franklin 2001, §1 ¶5.
  17. ^ Cooke 1980, tr. 22.
  18. ^ Mitchell 1980, tr. 527.
  19. ^ a b Carr 1998, tr. 24–28.
  20. ^ a b Carr 1998, tr. 30–31.
  21. ^ a b Franklin 2001, §2 ¶2.
  22. ^ a b Carr 1998, tr. 32–34
  23. ^ a b c Carr 1998, tr. 35–40
  24. ^ a b c d Banks 1980, tr. 507
  25. ^ a b Franklin 2001, §3 ¶3.
  26. ^ a b c d Franklin 2001, §4 ¶1.
  27. ^ a b Franklin 2001, §4 ¶2.
  28. ^ a b Carr 1998, tr. 43.
  29. ^ a b c d e f g h Carr 1998, tr. 44–47
  30. ^ a b Franklin 2001, §4 ¶3.
  31. ^ a b Franklin 2001, §4 ¶4.
  32. ^ a b c d Blaukopf 1974, tr. 61–62
  33. ^ a b Carr 1998, tr. 49.
  34. ^ a b Carr 1998, tr. 50.
  35. ^ a b c Cooke 1980, tr. 27–30
  36. ^ a b Franklin 2001, §3 ¶2.
  37. ^ a b Carr 1998, tr. 48–49.
  38. ^ a b Franklin 2001, §10 ¶1.
  39. ^ a b c d Mitchell 1975, tr. 51–53.
  40. ^ a b Franklin 2001, §5 ¶2.
  41. ^ a b c d e f g h i Banks 1980, tr. 508–509
  42. ^ a b Franklin 2001, §5 ¶8.
  43. ^ a b Franklin 2001, §5 ¶4.
  44. ^ a b Carr 1998, tr. 52.
  45. ^ a b Mitchell 1975, tr. 154.
  46. ^ a b Franklin 2001, §5 ¶6.
  47. ^ a b Carr 1998, tr. 53–54.
  48. ^ a b Franklin 2001, §5 ¶9.
  49. ^ a b Carr 1998, tr. 56.
  50. ^ a b Blaukopf 1974, tr. 83.
  51. ^ a b c Franklin 2001, §6 ¶2.
  52. ^ Steen 2003, tr. 750.
  53. ^ Carr 1998, tr. 59.
  54. ^ Franklin 2001, §6 ¶5, 7.
  55. ^ Franklin 2001, §6 ¶5.
  56. ^ Mitchell 1975, tr. 158.
  57. ^ Blaukopf 1974, tr. 119.
  58. ^ Carr 1998, tr. 51.
  59. ^ Franklin 2001, §6 ¶7.
  60. ^ Carr 1998, tr. 81–82.
  61. ^ Carr 1998, tr. 83–84.
  62. ^ Smith 2002, tr. 76–77.
  63. ^ La Grange 1995, tr. 20.
  64. ^ La Grange 1995, tr. 20–21.
  65. ^ La Grange 1995, tr. 5.
  66. ^ Franklin 2001, §7 ¶1.
  67. ^ La Grange 1995, tr. 32–36.
  68. ^ La Grange 1995, tr. 49–51.
  69. ^ La Grange 1995, tr. 54.
  70. ^ La Grange 1995, tr. 65–67.
  71. ^ Stefan Zweig, Die Welt von Gestern. Erinnerungen eines Europäers, trích dẫn trong Fischer 2011, tr. 50
  72. ^ Stefan Zweig, Die Welt von Gestern. Erinnerungen eines Europäers, trích dẫn trong Fischer 2011, tr. 58
  73. ^ a b La Grange 2000, tr. 941–944
  74. ^ La Grange 2000, tr. 249–252.
  75. ^ La Grange 1995, tr. 515–516, 560–561.
  76. ^ Carr 1998, tr. 138–139.
  77. ^ a b c d e f g Banks 1980, tr. 510–511
  78. ^ Mitchell 1975, tr. 419–422.
  79. ^ La Grange 1995, tr. 130–131, 630–631.
  80. ^ La Grange 1995, tr. 632–634.
  81. ^ a b Carr 1998, tr. 150–151
  82. ^ Schonberg 1981, tr. 459.
  83. ^ Snowman 2009, tr. 246.
  84. ^ Blaukopf 1974, tr. 217–19.
  85. ^ a b Banks 1980, tr. 512–13
  86. ^ Carr 1998, tr. 154–155
  87. ^ Blaukopf 1974, tr. 150–151.
  88. ^ La Grange 1995, tr. 116.
  89. ^ La Grange 1995, tr. 117.
  90. ^ Franklin 2001, §7 ¶4.
  91. ^ a b Carr 1998, tr. 87–94
  92. ^ La Grange 1995, tr. 263–264.
  93. ^ Carr 1998, tr. 233.
  94. ^ Blaukopf 1974, tr. 137.
  95. ^ a b c Cooke 1980, tr. 71–94
  96. ^ Carr 1998, tr. 129.
  97. ^ Carr 1998, tr. 148.
  98. ^ Franklin 2001, §7 ¶5.
  99. ^ Franklin 2001, §7 ¶3.
  100. ^ a b La Grange 1995, tr. 418–420
  101. ^ A. Mahler 1968, tr. 3–5.
  102. ^ La Grange 1995, tr. 487–489.
  103. ^ La Grange 1995, tr. 432.
  104. ^ La Grange 1995, tr. 442.
  105. ^ Carr 1998, tr. 108.
  106. ^ Connolly, Sarah (ngày 2 tháng 12 năm 2010). "The Alma Problem". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2019.
  107. ^ Carr 1998, tr. 143–144
  108. ^ A. Mahler 1968, tr. 334–338.
  109. ^ Carr 1998, tr. 107.
  110. ^ Franklin 2001, §8 ¶1.
  111. ^ Carr 1998, tr. 152–154.
  112. ^ a b Blaukopf 1974, tr. 217.
  113. ^ Hefling 2000, tr. 30.
  114. ^ Franklin 2001, §8 ¶2.
  115. ^ Carr 1998, tr. 163.
  116. ^ Franklin 2001, §8 ¶3.
  117. ^ A. Mahler 1968, tr. 143.
  118. ^ The New York Times 1909.
  119. ^ The New York Times 1908.
  120. ^ Blaukopf 1974, tr. 225–226.
  121. ^ Franklin 2001, §8 ¶4.
  122. ^ Carr 1998, tr. 172–173.
  123. ^ a b c Carr 1998, tr. 207
  124. ^ Franklin 2001, §8 ¶5.
  125. ^ Blaukopf 1974, tr. 254.
  126. ^ Cooke 1980, tr. 118–119.
  127. ^ Bert van der Waal van Dijk. "Chronology – Year 1910". gustav-mahler.eu. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2017.
  128. ^ "The Philharmonic Concert – An Interesting Programme of Music Representing Italy". The Sun. New York. ngày 22 tháng 2 năm 1911. tr. 7. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2013.
  129. ^ Lebrecht 2011, tr. 217.
  130. ^ Blaukopf 1974, tr. 233.
  131. ^ Carr 1998, tr. 214.
  132. ^ Fischer 2011, tr. 683.
  133. ^ Fischer 2011, tr. 684.
  134. ^ A. Mahler 1968, tr. 197.
  135. ^ Carr 1998, tr. 2–3.
  136. ^ The New York Times 1911.
  137. ^ Mitchell 1975, tr. 413–415.
  138. ^ Steen 2003, tr. 764–765.
  139. ^ Carr 1998, tr. 106–110, 114.
  140. ^ Carr 1998, tr. 106.
  141. ^ Mitchell & Nicholson 1999, tr. 580.
  142. ^ "International Gustav Mahler Society, Vienna (Historical Notes: click on "The Society" and "History")". The International Gustav Mahler Society. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2010.
  143. ^ Cooke 1980, tr. 27, 71, 103.
  144. ^ Cooke 1980, tr. 34.
  145. ^ La Grange 1995, tr. 757–759.
  146. ^ Cooke 1980, tr. 93.
  147. ^ a b La Grange 1995, tr. 805
  148. ^ a b c d Mitchell 1975, tr. 32
  149. ^ a b Mitchell 1980, tr. 524–525.
  150. ^ a b Schonberg 1981, tr. 462
  151. ^ Cooke 1980, tr. 103.
  152. ^ Blaukopf 1974, tr. 240.
  153. ^ Franklin 2001, §9 ¶1.
  154. ^ a b Cooke 1980, tr. 10–11
  155. ^ a b Franklin 2001, §9 ¶2.
  156. ^ Cooke 1980, tr. 13–14.
  157. ^ a b Schonberg 1981, tr. 456.
  158. ^ Mitchell 1975, tr. 47.
  159. ^ Mitchell 1975, tr. 309.
  160. ^ La Grange 1995, tr. 743.
  161. ^ Mitchell 1995, tr. 136.
  162. ^ Mitchell 1980, tr. 519.
  163. ^ Mitchell 1975, tr. 36–41.
  164. ^ Cooke 1980, tr. 43.
  165. ^ Mitchell 1995, tr. 286.
  166. ^ Cooke 1980, tr. 16–17.
  167. ^ La Grange 1995, tr. 179.
  168. ^ a b c Cooke 1980, tr. 14
  169. ^ Karbusický 2005, tr. 196–201.
  170. ^ Blaukopf 1974, tr. 140.
  171. ^ Cooke 1964.
  172. ^ Cooke 1980, tr. 83–87.
  173. ^ a b c d e Carr 1998, tr. 221–224
  174. ^ La Grange 1995, tr. 99, 140.
  175. ^ La Grange 1995, tr. 141–142.
  176. ^ La Grange 1995, tr. 148–155, 307–309.
  177. ^ La Grange 2000, tr. 68–69.
  178. ^ La Grange 2000, tr. 107–108.
  179. ^ La Grange 2000, tr. 405.
  180. ^ La Grange 2000, tr. 412–413.
  181. ^ La Grange 2000, tr. 536.
  182. ^ a b Smith 1990, tr. 91.
  183. ^ Copland 2004, tr. 149–50.
  184. ^ Mitchell & Nicholson 1999, tr. 557.
  185. ^ Kennedy 2010.
  186. ^ Hussey 1934, tr. 455–456.
  187. ^ Harrison 1934, tr. 237.
  188. ^ Shaw 1981, tr. 753.
  189. ^ Niekerk 2010, tr. 216–217, 271.
  190. ^ Niekerk 2010, tr. 216, 271.
  191. ^ Schiff 2001.
  192. ^ Fischer 2011, tr. 692.
  193. ^ Cooke 1980, tr. 3–4.
  194. ^ A. Mahler 1968, tr. 220–221.
  195. ^ Steen 2003, tr. 742.
  196. ^ a b c Mitchell 1975, tr. 373–374
  197. ^ Schonberg 1981, tr. 597–599.
  198. ^ La Grange 2000, tr. 608–609.
  199. ^ Carr 1998, tr. 105.
  200. ^ a b Lebrecht 2011, tr. 5.
  201. ^ Mitchell 1975, tr. 261.
  202. ^ Kozinn 1989.
  203. ^ Brown 2016.
  204. ^ Dagmar Penzlin (ngày 28 tháng 5 năm 2018). "Platz für Mahler und Mendelssohn-Geschwister". Deutschlandfunk (bằng tiếng Đức). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2023.
  205. ^ Aart van der Wal (tháng 8 năm 2004). "Componisten/werken – Gustav Mahler in Toblach (1908~1910)". Opus Klassiek (bằng tiếng Hà Lan). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2023.
  206. ^ Georg Föttinger, Composing hut of Gustav Mahler Steinbach Lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Mahler Steinbach
  207. ^ Madeleine Napetschnig (ngày 14 tháng 7 năm 2018). "In Gustav Mahlers Komponierhäuschen am Wörthersee". Die Presse (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2018.
  208. ^ "Mount Mahler". Hệ thống Thông tin Địa danh. Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ. http://geonames.usgs.gov/pls/gnispublic/f?p=gnispq:3:::NO::P3_FID:2099511. 

Thư mục