In the End
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst-infobox”."In the End" là một bài hát của ban nhạc rock người Mỹ Linkin Park. Đây là ca khúc thứ 8 trong album đầu tay của họ, Hybrid Theory (2000), và được phát hành làm đĩa đơn thứ 2 của album. "In the End" là một trong những bài hát dễ nhận biết và đặc trưng nhất của Linkin Park.
"In the End" nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, với hầu hết các nhà phê bình đều khen ngợi phần riff piano đặc trưng của bài hát, cũng như nhấn mạnh đến sự nổi bật của rapper Mike Shinoda trong bài hát. "In the End" cũng đạt được sự nổi tiếng rộng rãi và thành công về mặt thương mại khi phát hành. Bài hát đã lọt vào top 10 trên nhiều bảng xếp hạng âm nhạc toàn thế giới và đạt vị trí thứ 2 trên US Billboard Hot 100, bài hát đạt vị trí cao nhất của ban nhạc trên bảng xếp hạng, cũng như bài hát đầu tiên của họ lọt vào top 40. Nó cũng đạt vị trí số 1 trong bảng xếp hạng 100 bài hát hàng đầu của Z100 năm 2002. Bài hát này cũng đứng ở vị trí thứ 121 trong 500 bài hát hay nhất kể từ bạn khi sinh ra (The 500 Greatest Songs Since You Were Born) của tạp chí Blender.[1] Bài hát là ca khúc rock được phát lại nhiều nhất thập kỷ này của Billboard. Nó cũng được phối lại trong Reanimation thành bài "Enth E ND". Video âm nhạc của bài hát, đạo diễn bởi Nathan Cox và tay đẩy đĩa của ban nhạc Joe Hahn, đặt ban nhạc trong một bối cảnh giả tưởng.
Chester Bennington, giọng ca chính của ban nhạc, ban đầu không thích bài hát này và không muốn nó được đưa vào Hybrid Theory. [2]
Video âm nhạc
Video âm nhạc cho "In the End" được quay ở nhiều điểm dừng khác nhau trong chuyến lưu diễn Ozzfest năm 2001, được đạo diễn bởi Nathan Cox và DJ Joe Hahn của ban nhạc.[3] Mặc dù bối cảnh của video "In the End" được quay ở sa mạc California, ban nhạc đã tự mình biểu diễn trên một sân khấu phòng thu ở Los Angeles, với các hiệu ứng CGI nổi bật và kết hợp được sử dụng để tạo ra phiên bản hoàn chỉnh. Biểu diễn trên sân khấu phòng thu cho phép Hahn và Cox đặt ống nước phía trên sân khấu để làm ban nhạc ướt sũng.[4]
Video âm nhạc lấy bối cảnh giả tưởng và sử dụng hoạt hình CGI. Ban nhạc biểu diễn trên đỉnh một bức tượng khổng lồ trông giống người Ai Cập, trên đó có một 'người lính có cánh', trông tương tự như 'người lính có cánh' trên ảnh bìa của album Hybrid Theory của Linkin Park.
Mike Shinoda đề cập rằng Princess Mononoke đã truyền cảm hứng cho video âm nhạc.[5]
Thiết kế sản xuất do Patrick Tatopoulos. Nó đã giành được giải "Video Rock hay nhất" và được đề cử cho Video của năm tại Lễ trao giải MTV Video Music năm 2002.[6]
Video đã có hơn 1,1 tỷ lượt xem trên YouTube tính đến tháng 1 năm 2021. Đây là video âm nhạc thứ 2 của họ đạt 1 tỷ lượt xem bên cạnh "Numb". Video đã được tải lên 2 lần bởi kênh YouTube của Linkin Park. Video được tải lên lần đầu tiên vào ngày 4 tháng 3 năm 2007 ở định dạng 240p. Video sau đó đã được tải lại vào ngày 26 tháng 10 năm 2009 ở định dạng 360p. Nó cũng được tải lại cùng ngày bởi kênh YouTube của Warner Bros. Records ở định dạng 480p.[7][8][9] Video được quay ở tỷ lệ khung hình 16:9. Bản tải lên lần đầu trên kênh YouTube của Linkin Park và các bản trên các kênh của Warner Records ở định dạng letterbox 4:3. Bản tải lại thứ 2 trên kênh YouTube của Linkin Park có tỷ lệ khung hình 16:9. Sau khi phát hành Bộ hộp kỷ niệm 20 năm cho Hybrid Theory, video đã được nâng cấp lên chất lượng HD.
Giới phê bình đón nhận
"In the End" nhận được đánh giá tích cực của các nhà phê bình nhạc rock đương đại. VH1 xếp nó ở vị trí thứ 84 trong danh sách 100 bài hát hay nhất của thập niên 2000.[10] Bài hát cũng được Loudwire xếp thứ 2 trong danh sách "Những bài hát Hard Rock hàng đầu thế kỷ 21" ("Top 21st century Hard Rock songs").[11] Tại tạp chí Stylus, nó được đánh giá là "bản nu metal kinh điển".[12] Tại Kerrang!, nó được đưa vào ("Băng Mixtape Nu Metal Tối thượng") "The Ultimate Nu Metal Mixtape".[13] Tuy nhiên, NME chỉ trích bài hát nhiều hơn, gọi nó là "... một bản rap rock chán ngắt khác của MTV từ đáy của chuỗi thức ăn." [14]
Giải thưởng
Năm 2015, bài hát được mệnh danh là bài hát rock hay nhất trong danh sách Rock 100 của Kerrang!, đứng trên đĩa đơn năm 2014 của ban nhạc là Final Masquerade.[15]
Xếp hạng
"In the End" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của Linkin Park tại Hoa Kỳ, ra mắt ở vị trí thứ 78 và đạt vị trí cao nhất thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 2002, và bị ngăn khỏi vị trí đầu bảng bởi "Ain't It Funny" của Jennifer Lopez và Ja Rule. Bài hát đã ở trên bảng xếp hạng tổng cộng 38 tuần. Nó đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Modern Rock Tracks trong 5 tuần, bắt đầu từ tháng 12 năm 2001, trở thành bản hit đầu tiên của họ trên bảng xếp hạng này. Bài hát đã trải qua 44 tuần ở đó, trở thành bài hát nằm trên bảng xếp hạng đó lâu nhất của họ và nó cũng đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Mainstream Rock Tracks với 40 tuần trên bảng xếp hạng, lâu thứ 2 sau "One Step Closer" với 42 tuần. Nó cũng giữ vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Pop Songs trong 5 tuần và ở trên bảng xếp hạng trong 27 tuần. "In the End" là đĩa đơn có thành tích tốt thứ 7 trên Billboard Hot 100 trong năm 2002, là bài hát rock và alternative có thành tích tốt thứ 2 trong thập kỷ trên bảng xếp hạng Alternative Songs cũng như bảng xếp hạng Rock Songs, chỉ đứng sau "Headstrong" của Trapt và "How You Remind Me" của Nickelback tương ứng. Tính đến tháng 6 năm 2014, đĩa đơn đã bán được 2.555.000 bản tại Hoa Kỳ.[16]
Danh sách bài hát
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Nhân sự
Linkin Park
- Chester Bennington - hát
- Rob Bourdon - trống
- Brad Delson - guitar chính, bass
- Joe Hahn - sampler, bàn xoay
- Mike Shinoda - rap, piano, guitar đệm
Sản xuất
- Don Gilmore sản xuất
- Điều hành sản xuất: Jeff Blue
- Phối âm tại Soundtrack, NYC
Bảng xếp hạng
Chứng nhận
Tham khảo
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. from Linkin Park's YouTube Channel
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. from Linkin Park's YouTube Channel
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. from the Warner Bros. Records YouTube Channel
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "In The End" and "Final Masquerade" have made it to the top of Kerrang!'s Rock 100 list Facebook April 15, 2015.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r "Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&titel=Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&cat=s Australian-charts.com – Linkin Park – In the End" (bằng tiếng Anh). ARIA Top 50 Singles. Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”.. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "sc_Bản mẫu:Strip whitespace_Linkin Park" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&titel=Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&cat=s Lescharts.com – Linkin Park – In the End" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”..
- ^ a ă â b c d "Nederlandse Top 40 – week 7, 2002" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40 Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”.. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "sc_Bản mẫu:Strip whitespace_" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&titel=Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&cat=s Austriancharts.at – Linkin Park – In the End" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”..
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”./chart-history/CAN "Linkin Park Chart History (Canadian Hot 100)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”..
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Musicline.de – Linkin Park Single-Chartverfolgung" (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. PhonoNet GmbH. Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”..
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda – Singles Digital Top 100 Oficiálna. IFPI Cộng hòa Séc. Ghi chú: Chọn 30. týden 2017 trong mục ngày. Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”..
- ^ "Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&titel=Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”.&cat=s Swisscharts.com – Linkin Park – Numb" (bằng tiếng Đức). Swiss Singles Chart. Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”..
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “WLink”./chart-history/HSI "Linkin Park Chart History (Hot 100)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”..
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Bản mẫu:Các bài hát của Linkin Park Bản mẫu:Giải Video âm nhạc của MTV cho Video Rock xuất sắc nhất
| Quốc gia | Chứng nhận | Số đơn vị/doanh số chứng nhận |
|---|---|---|
| Streaming | ||
- Trang có lỗi kịch bản
- Trang có lỗi bảng kiểu bản mẫu
- Trang có lỗi chú thích
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Đĩa đơn của Warner Bros. Records
- Đĩa đơn năm 2000
- Bài hát năm 2000
- Bài hát của Linkin Park
- Sử dụng Certification Table Entry cho United States
- Sử dụng Certification Table Entry cho United Kingdom
- Bài hát do Mike Shinoda sáng tác
- Đĩa đơn năm 2001