Bước tới nội dung

Isoodon macrourus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Isoodon macrourus
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Peramelemorphia
Họ (familia)Peramelidae
Chi (genus)Isoodon
Loài (species)I. macrourus
Danh pháp hai phần
Isoodon macrourus
(Gould, 1842)[2]
Phạm vi phân bố (màu xanh lam — còn tồn tại, màu đen — đã tuyệt chủng)
Phạm vi phân bố
(màu xanh lam — còn tồn tại, màu đen — đã tuyệt chủng)

Isoodon macrourus là một loài bandicoot có vú, có túi trong họ Peramelidae, bộ Peramelemorphia. Loài này được Gould mô tả năm 1842.[2] Chúng hỉ được tìm thấy ở bờ biển phía bắc và phía đông của Úc và các hòn đảo lân cận, chủ yếu là Papua New Guinea. Tuy nhiên lại không được tìm thấy ở sâu trong đất liền.[2]

Mô tả

Isoodon macrourus ở Daintree, Queensland, Úc

Loài này có thể được phân biệt với các loài thú có túi khác bởi hai đặc điểm; nó vừa có polyprotodont (tức là có nhiều cặp răng cửa dưới) vừa có syndactyl.[3] Chuột túi nâu phương Bắc có chiều dài thân và đuôi điển hình lần lượt là 40 và 15 cm (15,7 và 5,9 in). Trung bình nó nặng 1.200 g (2,6 lb). Loài thú có túi này có bộ lông dày và thô nhưng không có gai. Lông ở lưng có màu nâu nhạt với các đốm đen rải rác khắp nơi. Mặt bụng có màu trắng hoàn toàn.[4] Loài chuột này có túi ngược nên khi đào bới, túi sẽ không bị đầy đất.[5] Loài chuột túi này cũng có tai ngắn, tròn và mũi ngắn. Người ta dễ nhầm lẫn loài chuột túi này với Isoodon obesulus. Hai loài này khác nhau cả về kích thước (Isoodon macrourus lớn hơn) và khu vực sinh sống (Isoodon obesulus chỉ được tìm thấy ở bờ biển phía nam của Úc).[3]

Con đực thường dài hơn khoảng 5–7 cm và nặng hơn con cái khoảng 0,5 kg.[3]

Sinh thái học

Quần thể Isoodon macrourus sinh sống trong hai môi trường sống khác nhau: một trong mùa khô và một trong mùa mưa. Trong mùa khô, loài này sống trong thảm thực vật dày đặc bao gồm cỏ dại cao, cây nhỏ và bụi rậm. Điều này có lẽ là do nguồn thức ăn khan hiếm. Tuy nhiên, trong mùa mưa, Isoodon macrourus "xuất hiện" và lang thang trên những đồng cỏ rộng mở, nơi nguồn thức ăn dồi dào hơn.[6]

Isoodon macrourus là một trong số ít loài động vật có vú sống trên mặt đất bản địa của Úc có khả năng sinh tồn trong môi trường đô thị hóa. Nhu cầu về chế độ ăn uống và môi trường sống đa dạng, cũng như khả năng sinh sản cao, chắc chắn tạo điều kiện thuận lợi cho sự sống sót của loài này trong các mảnh môi trường sống đô thị.[7]

Isoodon macrourus làm tổ hoặc nhà riêng lẻ trên mặt đất, gồm những ụ cỏ khô và cành cây đơn giản được ngụy trang tốt và không thấm nước. Bên trong rỗng và đủ rộng cho chỉ một con chuột túi. Một số con chuột túi sử dụng thân cây rỗng hoặc hang thỏ bỏ hoang để trú ẩn. Tuy nhiên, nhìn chung, Isoodon macrourus rất thích làm tổ ở những khu vực có thảm thực vật thấp.[3]

Isoodon macrourus là loài ăn tạp. Nó ăn côn trùng, giun đất, quả mọnghạt cỏ. Đôi khi khi thức ăn khan hiếm, con cái của nó sẽ ăn con non của nó. Loài thú có túi này tìm kiếm thức ăn một mình vào ban đêm và có khứu giác nhạy bén. Điều này cho phép nó tìm thấy thức ăn cả khi đang nằm ngoài trời hoặc bị chôn dưới đất. Tuy nhiên, săn mồi vào ban đêm cũng có những hậu quả. Isoodon macrourus là con mồi lý tưởng cho nhiều loài mèo, cáo hoạt động về đêm được tìm thấy ở Úc. Isoodon macrourus là vật chủ của ký sinh trùng đường ruột Acanthocephala Australiformis semoni.[8]

Lịch sử đời sống

Isoodon macrourus đánh dấu và giữ vững lãnh thổ của mình một cách siêng năng. Chúng có tuyến mùi ở tai, miệng, túi và hậu môn.[4] Loài thú có túi sống đơn độc này chỉ hung hăng với những cá thể cùng loài. Nếu một con chuột túi bị giật mình ở nơi làm tổ, nó sẽ bỏ chạy. Isoodon macrourus hiếm khi tự vệ trừ khi hai con đực đối đầu nhau vì tranh giành lãnh thổ. Khi đó, hoặc một con đực bị giết hoặc một con đực trở nên lệ thuộc vào con kia và tránh đối đầu. Con đực lệ thuộc cũng phải nhường lại cho con đực thống trị tất cả các mối quan hệ tình dục với con cái trong vùng.[9] Chuột túi không phải là động vật sống theo bầy đàn, ngoại trừ chuột túi mẹ và con.

Isoodon macrourus sinh sản quanh năm. Mỗi lứa trung bình có từ 2 đến 4 con non. Là động vật có túi, chuột túi con mới sinh không có lông và chưa trưởng thành, do đó chúng trải qua quá trình phát triển mạnh mẽ bên trong túi của mẹ.[10] Thời gian mang thai (12,5 ngày) là ngắn nhất được ghi nhận ở bất kỳ loài động vật có vú nào.[3] Chuột túi cũng là loài thú có túi metatheria duy nhất có nhau thai tương tự như động vật có vú eutheria. Chuột túi con được cai sữa sau 60 ngày sinh. Vào thời điểm này, chuột túi con có khả năng tự duy trì thân nhiệt.[10] I. macrourus có tuổi thọ khoảng hai năm.

Isoodon macrourus cái sinh từ 8 đến 11 lứa trong suốt cuộc đời của chúng.[11] Chuột túi đực không đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc I. macrourus non.

Tên gọi bandicoot dựa trên vẻ ngoài khá giống chuột của chúng. Tên gọi này bắt nguồn từ sự biến đổi của một từ tiếng Ấn Độ "pandi-kokku" có nghĩa là "chuột lợn".[12]

Tình trạng bảo tồn

Trong thế kỷ qua, quần thể chuột này đã giảm sút sau khi người châu Âu du nhập thỏ và gia súc vào Úc. Điều này đã làm gia tăng đáng kể sự cạnh tranh trực tiếp về thức ăn và môi trường sống. Quần thể chuột túi tiếp tục bị ảnh hưởng sau khi cáo và mèo du nhập vào, cả hai đều là động vật ăn thịt các loài vật nhỏ.[4] Quần thể chuột ở Lãnh thổ phía Bắc Úc đang cho thấy sự suy giảm đáng kể, với một nghiên cứu ở Lãnh thổ Bắc Úc cho thấy sự suy giảm 35% về phạm vi không gian sinh thái mà chúng sinh sống.[13] Do phạm vi phân bố của chúng chỉ giảm nhẹ (1-2%), nghiên cứu kết luận rằng loài này đang thu hẹp lại ở những khu vực có lượng mưa cao hơn, tần suất cháy rừng thấp hơn và độ che phủ thực vật cao hơn.[13]

Theo ngôn ngữ và văn hóa thổ dân

Isoodon macrourus được người Kunwinjku ở phía tây Arnhem Land gọi là yok.[14][15][16] Và đối với những người vẫn còn sống ở quê nhà, đây là một loại thực phẩm quan trọng. Nó được nhồi với than nóng và các loại thảo mộc rừng, sau đó được bọc bằng vỏ cây và nướng trong lò đất.[17][18]

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Bản mẫu:Cite iucn
  2. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ a ă â b c Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  7. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  8. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  9. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  10. ^ a ă
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  11. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  12. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  13. ^ a ă
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  14. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  15. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  16. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  17. ^ Kunwinjku elders, personal comment
  18. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:ResolveEntityId' not found.