Không quân
Không quân theo nghĩa rộng nhất là quân chủng quốc gia chuyên trách tiến hành các hoạt động tác chiến trên không.[1] Cụ thể hơn, đây là quân chủng thuộc lực lượng vũ trang của một quốc gia đảm nhiệm các nhiệm vụ tác chiến trên không, biệt lập với không quân thuộc lục quân hay không quân thuộc hải quân. Nhìn chung, không quân có nhiệm vụ giành và duy trì quyền kiểm soát không trung, thực hiện các đợt ném bom chiến lược lẫn ném bom chiến thuật, cũng như chi viện cho lục quân và hải quân thông qua hoạt động trinh sát trên không hoặc hỗ trợ không quân tầm gần.[2]
Thuật ngữ không quân cũng có thể dùng để chỉ một tập đoàn quân không quân hoặc tập đoàn quân không quân đánh số vốn là những biên chế tác chiến nằm trong lực lượng không quân quốc gia hoặc hợp thành từ nhiều đơn vị không quân của các nước đồng minh. Không quân thường được trang bị đa dạng các chủng loại khí tài như máy bay tiêm kích, máy bay ném bom, trực thăng, máy bay vận tải cùng nhiều dòng máy bay chuyên dụng khác.
Nhiều lực lượng không quân còn trực tiếp chỉ huy, điều hành các thành tố thuộc hệ thống phòng không mặt đất như pháo phòng không, tên lửa đất đối không, cũng như mạng lưới cảnh báo sớm và các hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo. Bên cạnh đó, một số lực lượng không quân cũng đảm nhiệm cả các hoạt động tác chiến vũ trụ và quản lý lực lượng tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM). Riêng ở một số quốc gia (chủ yếu tổ chức quân đội theo mô hình Xô viết), lực lượng phòng không được tách thành một quân chủng độc lập về mặt tổ chức so với không quân.
Trong thời bình hoặc dải nhiệm vụ phi tác chiến, không quân thường xuyên đảm nhận công tác tuần tra không phận và thực hiện các nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển.
Lực lượng không quân không chỉ bao gồm các phi công chiến đấu mà còn vận hành dựa trên một đội ngũ nhân sự hỗ trợ vô cùng đông đảo. Các khối hậu cần, an ninh bảo vệ, tình báo, tác chiến đặc biệt, hỗ trợ tác chiến không gian mạng, kỹ thuật bảo dưỡng, nhân viên nạp vũ khí cùng nhiều chuyên ngành phụ trợ khác đều là những mắt xích bắt buộc để đảm bảo một lực lượng không quân vận hành hiệu quả.
Lịch sử
Máy bay quân sự nặng hơn không khí
Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới là Lực lượng Hàng không Quân sự thuộc Lục quân Pháp được thành lập vào năm 1910, tiền thân của Không quân Pháp (Armée de l'Air) sau này.[cần dẫn nguồn] Đến năm 1911, trong Chiến tranh Ý – Thổ Nhĩ Kỳ, Ý trở thành quốc gia đầu tiên ứng dụng máy bay cho các nhiệm vụ trinh sát và ném bom tấn công các vị trí phòng thủ của Thổ Nhĩ Kỳ trên lãnh thổ Libya. Đây cũng là cuộc chiến mở màn trong lịch sử ghi nhận các đợt không kích bùng nổ bằng máy bay và khinh khí cầu.[3] Bước sang Chiến tranh thế giới thứ nhất, các cường quốc bao gồm Pháp, Đức, Ý, Đế quốc Anh và Đế quốc Ottoman đều nhanh chóng xây dựng quy mô lực lượng ném bom và tiêm kích rất đáng kể. Tác chiến hàng không trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng đánh dấu sự xuất hiện của các cấp chỉ huy chiến tranh trên không chuyên trách cùng hàng loạt phi công chiến đấu tiêu biểu (phi công ách chủ bài).
Các lực lượng không quân độc lập
Lực lượng không quân độc lập được hiểu là lực lượng tổ chức thành một quân chủng riêng biệt thuộc lực lượng vũ trang quốc gia, sở hữu vị thế bình đẳng (ít nhất là trên danh nghĩa) so với các quân chủng truyền thống lâu đời như hải quân hay lục quân.
Không quân Hoàng gia Anh (RAF) chính là lực lượng không quân độc lập đầu tiên trên thế giới.[4][5] RAF chính thức ra đời ngày 1 tháng 4 năm 1918 trên cơ sở sáp nhập Quân đoàn Hàng không Hoàng gia (thuộc Lục quân) và Lực lượng Hàng không Hải quân Hoàng gia. Ở thời điểm thành lập, RAF quản lý quy mô khổng lồ với hơn 20.000 máy bay. Lực lượng này đặt dưới sự chỉ huy của Tham mưu trưởng Không quân mang quân hàm thiếu tướng và thuộc quyền quản lý trực tiếp của một cơ quan cấp bộ độc lập (Bộ Không quân).
Nhiều quan điểm lịch sử lại đánh giá Không quân Phần Lan mới là lực lượng không quân độc lập xuất hiện sớm nhất thế giới,[cần dẫn nguồn] thành lập từ ngày 6 tháng 3 năm 1918 khi Bá tước Thụy Điển Eric von Rosen trao tặng cho Phần Lan chiếc máy bay thứ hai (mẫu Typ D do hãng Thulin sản xuất).[6] Dù vậy, một số ý kiến chỉ ra rằng Không quân Phần Lan chưa định hình chính thức trong thời gian bùng nổ Nội chiến Phần Lan (27 tháng 1 – 15 tháng 5 năm 1918), thời điểm Lực lượng Vệ binh Đỏ cũng tự gánh vác lực lượng không quân riêng.[7]
Trong những thập kỷ nối tiếp, hầu hết các quốc gia có tiềm lực quân sự đều lần lượt thành lập các lực lượng không quân độc lập. Không quân Nam Phi ra đời ngày 1 tháng 2 năm 1920, và Không quân Hoàng gia Australia nối tiếp ngay sau đó vào ngày 31 tháng 3 năm 1921. Mặc dù vậy, phải tới năm 1922, người đứng đầu lực lượng này mới chính thức mang quân hàm Tham mưu trưởng Không quân, đứng ngang hàng với tư lệnh Lục quân Australia và Hải quân. Không quân Canada hình thành từ cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, trải qua nhiều đợt giải thể và tái cơ cấu từ năm 1918 đến 1924 trước khi mang danh xưng chính thức Không quân Hoàng gia Canada theo sắc lệnh hoàng gia ngày 1 tháng 4 năm 1924. Tuy nhiên, lực lượng này chỉ thực sự tách khỏi Lục quân Canada vào năm 1938 khi tư lệnh lực lượng được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Không quân. Tương tự, Không quân Hoàng gia New Zealand thành lập năm 1923 với tên gọi Lực lượng Không quân Thường trực New Zealand, nhưng phải tới năm 1937 mới độc lập hoàn toàn khỏi Lục quân. Không quân Ấn Độ cũng chính thức ra đời ngày 8 tháng 10 năm 1932. Nhiều quốc gia thuộc tầm ảnh hưởng của Anh cũng nhanh chóng tổ chức lực lượng không quân riêng; đơn cử như Không quân Hoàng gia Ai Cập tách khỏi bộ chỉ huy Lục quân vào năm 1937. Không quân Afghanistan thành lập từ ngày 22 tháng 8 năm 1924 dưới sự hỗ trợ từ Liên Xô và Anh, nhưng biến động nội chiến đã phá hủy hầu hết khí tài, buộc lực lượng này phải xây dựng lại từ đầu vào năm 1937 dưới thời Vua Mohammed Nadir Shah.
Bên ngoài hệ thống Đế quốc Anh, Không quân Hoàng gia Ý được thành lập năm 1923,[8] Không quân Romania trở thành một quân binh chủng riêng từ ngày 1 tháng 1 năm 1924,[9] Không quân Phần Lan nâng cấp thành quân chủng độc lập ngày 4 tháng 5 năm 1928, Không quân Chile thành lập năm 1930[10] và Không quân Brasil ra đời năm 1941.[11] Không quân Hoa Kỳ[12] cùng Không quân Philippines đều được tách thành các quân chủng độc lập vào năm 1947, tương tự như Không quân Argentina năm 1945.[13] Không quân Israel ra đời song song với Nhà nước Israel ngày 18 tháng 5 năm 1948 (tiền thân là lực lượng hàng không Sherut Avir thuộc tổ chức bán quân sự Haganah). Riêng Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản phải tới năm 1954 mới thành lập;[14] trong Chiến tranh thế giới thứ hai, toàn bộ hoạt động tác chiến không quân của Nhật Bản đều do Lục quân và Hải quân chia nhau quản lý. Khác biệt với hầu hết các quốc gia kể trên, Không quân Mexico đến nay vẫn duy trì là một bộ phận trực thuộc Lục quân Mexico.[cần dẫn nguồn]
Các cuộc chiến tranh thế giới
Chiến tranh thế giới thứ nhất
Đức là quốc gia đầu tiên tổ chức các đợt không kích quy mô lớn vào cơ sở hạ tầng đối phương thông qua lực lượng Luftstreitkräfte. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, các khí cầu Zeppelin của Đức liên tục dội bom xuống các đô thị Anh. Để đáp trả, máy bay chiến đấu của Anh chủ yếu làm nhiệm vụ trinh sát chỉ thị cho pháo binh và nghênh chiến với máy bay Đức, còn các khí cầu của Anh kém phát triển hơn Zeppelin nên chủ yếu dùng vào nhiệm vụ săn tàu ngầm U-boat của Đức.
Máy bay cánh cố định thời kỳ này còn rất sơ khai, tốc độ chỉ tương đương ô tô hiện đại, trang bị vũ khí và thiết bị kỹ thuật ở mức tối thiểu. Các lực lượng không quân khi đó hoạt động như một lĩnh vực thử nghiệm mới; những cỗ máy thiếu ổn định cùng quy trình huấn luyện sơ sài đã khiến tuổi thọ chiến đấu của các phi công quân sự thời kỳ đầu trở nên cực kỳ ngắn ỏi.[cần dẫn nguồn]
Chiến tranh thế giới thứ hai
Đến thời điểm Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, máy bay đã trở nên an toàn hơn, tốc độ nhanh hơn và vận hành đáng tin cậy hơn rất nhiều. Chúng trở thành lực lượng chủ lực cho các đợt oanh tặc ném bom và không chiến tiêu diệt máy bay đối phương nhờ tốc độ vượt trội hơn hẳn các loại khí cầu. Không quân Xô viết là lực lượng hàng không quân sự sở hữu quy mô lớn nhất thế giới ở thời điểm Thế chiến II bùng nổ năm 1939. Mặc dù hứng chịu những tổn thất cực kỳ nặng nề trong giai đoạn đầu, lực lượng này đã triển khai các chiến dịch không quân quy mô lớn nhất Thế chiến II trong suốt bốn năm đối đầu sinh tử với Không quân Đức (Luftwaffe).[cần dẫn nguồn]
Trận Không chiến nước Anh được đánh giá là chiến dịch không quân mang tính bước ngoặt và quan trọng hàng đầu của cuộc chiến, diễn ra suốt nhiều tháng trong năm 1940 trên không phận Anh và eo biển Manche giữa Không quân Hoàng gia Anh và Không quân Đức. Thắng lợi chung cuộc thuộc về nước Anh đã đập tan ý đồ và buộc Adolf Hitler phải từ bỏ hoàn toàn kế hoạch xâm lược đảo quốc này. Bên cạnh đó, các chiến dịch không quân nổi bật khác trong Thế chiến thứ hai bao gồm chiến dịch ném bom chiến lược đánh phá nước Đức do phe Đồng minh thực hiện giai đoạn 1942–1944, cùng các đợt tác chiến diện rộng của Không quân Xô viết nhằm chi viện cho các đòn tiến công chiến lược trên bộ tại Mặt trận phía Đông. Trên chiến trường Thái Bình Dương, tác chiến không quân cũng giữ vai trò then chốt tương đương với Trận Không chiến nước Anh, nhưng trọng tâm lại do lực lượng không quân hải quân của Mỹ và Nhật Bản gánh vác thay vì các lực lượng không quân độc lập.
Ném bom chiến lược
Chiến thuật ném bom chiến lược đánh phá cơ sở hạ tầng đối phương của lực lượng không quân vốn được phát triển bởi quân đội Nhật Bản trong thập niên 1930 tại Trung Quốc, và được người Đức áp dụng thử nghiệm trong Nội chiến Tây Ban Nha. Vai trò này của máy bay ném bom đã đạt đến độ hoàn thiện trong Thế chiến thứ hai thông qua các chiến dịch "oanh tặc nghìn máy bay" của phe Đồng minh. Yêu cầu cấp thiết phải đánh chặn các đợt ném bom này (cả ban ngày lẫn ban đêm) đã trở thành động lực chính thúc đẩy sự bùng nổ của máy bay tiêm kích. Cuộc chiến khép lại khi các máy bay ném bom Boeing B-29 Superfortress thuộc Không quân Lục quân Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản vào tháng 8 năm 1945.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Không quân Hoa Kỳ chính thức tách thành một quân chủng độc lập vào năm 1947. Khi Chiến tranh Lạnh bước vào giai đoạn căng thẳng, cả Không quân Hoa Kỳ và Không quân Xô viết đều tập trung xây dựng lực lượng máy bay ném bom chiến lược đường dài mang vũ khí hạt nhân. Thời kỳ này cũng chứng kiến sự bùng nổ của hàng loạt thành tựu công nghệ đột phá: động cơ phản lực; tên lửa; trực thăng; và kỹ thuật tiếp nhiên liệu trên không.
Đến năm 1954, Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản được thành lập thành một quân chủng riêng biệt. Trước đó, các hoạt động hàng không quân sự của Nhật Bản đều chia ra thuộc quyền quản lý của Lục quân và Hải quân.
Trong thập niên 1960, Canada tiến hành hợp nhất Không quân Hoàng gia Canada với lục quân và hải quân để tổ chức thành Lực lượng Vũ trang Canada thống nhất. Khi đó, các lực lượng không quân bị phân chia về nhiều bộ chỉ huy khác nhau và toàn bộ nhân sự phải mặc chung một bộ quân phục màu xanh lá cây. Mô hình hợp nhất này đã gặp phải sự phản đối gay gắt,[cần dẫn nguồn] dẫn đến việc vào năm 1975, các đơn vị hàng không Canada được quy tụ và tổ chức lại dưới một đầu mối duy nhất (Bộ chỉ huy Không quân) do một tư lệnh phụ trách. Đến năm 2011, Bộ chỉ huy Không quân thuộc Lực lượng Vũ trang Canada đã chính thức khôi phục lại tên gọi truyền thống trước thập niên 1960 là Không quân Hoàng gia Canada.
Tổ chức
Cơ cấu tổ chức của lực lượng không quân có sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia. Một số lực lượng không quân (như Không quân Hoa Kỳ, Không quân Hoàng gia Anh) chia thành các bộ chỉ huy (command), tập đoàn không quân/không đoàn lớn (group) và phi đoàn (squadron). Trong khi đó, các lực lượng khác (như Không quân Xô viết) lại áp dụng mô hình cơ cấu tổ chức tương tự lục quân. Không quân Hoàng gia Canada hiện đại ứng dụng Sư đoàn Không quân (Air Division) làm đơn vị cấp trung gian giữa không đoàn (wing) và toàn bộ bộ chỉ huy không quân. Tương tự RAF, các không đoàn của Canada bao gồm nhiều phi đoàn. Đối với Trung Quốc, Bộ Tư lệnh Không quân gồm bốn bộ chức năng: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần và Thiết bị, phản ánh đúng cấu trúc bốn tổng cục của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Bên dưới bộ tư lệnh, Không quân các Quân khu (MRAF) trực tiếp chỉ đạo các sư đoàn (Tiêm kích, Cường kích, Ném bom), và các sư đoàn này tiếp tục quản lý các trung đoàn cùng phi đoàn.[15]
Tham khảo
- ^ Monica, 1776 Main Street Santa; California 90401-3208. "Air Warfare". rand.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ^ "Air Force Reserve". afreserve.com. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
- ^ Biddle, Rhetoric and Reality in Air Warfare, pg.19
- ^ Rice, Rondall Ravor (2004). The Politics of Air Power, From Confrontation to Cooperation in Army Aviation Civil-military Relations. University of Nebraska Press. tr. xvi. ISBN 9780803239609.
- ^ "Royal Air Force 90th Anniversary". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|note=(trợ giúp) - ^ Hình ảnh về chiếc máy bay này có thể tìm thấy trong cuốn sách của Shores 1969, tr. 4.
- ^ Keskinen, Partonen, Stenman 2005.
- ^ "UNA NUOVA FORZA ARMATA AUTONOMA". Aeronautica Militare.
- ^ "Anul 1920". RoAF (bằng tiếng Romania).
- ^ "Hitos Históricos de la Fuerza Aérea de Chile". Không quân Chile.
- ^ "Decreto-lei nº 3.302, de 22 de maio de 1941. Dá nova denominação às Forças Aéreas Nacionais e aos seus estabelecimentos". Chamber of Deputies. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
- ^ 80 P.L. 253, 61 Stat. 495 (1947); "Factsheets: The U.S. Air Force". U.S. Air Force. tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2009.
- ^ "Nuestra Historia – Fuerza Aérea Argentina". Government of Argentina.
- ^ "Orbats – Scramble". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2016.
- ^ IISS Military Balance 2012, 233, 237
- ^ FM 1-02 Operational Terms and Graphics. US DoD. ngày 21 tháng 9 năm 2004. tr. 5–37.
- ^ http://www.airpages.ru/ru/vvs1.shtml Red Army VVS Organisation(rus)
- ^ APP-6C NATO Joint Military Symbology. NATO. tháng 5 năm 2011. tr. 2–25.
- ^ APP-6 Military Symbols for Land Based Systems. NATO. tháng 7 năm 1986. tr. B8.