Lễ hội Lam Kinh
Lễ hội Lam Kinh là một lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Lễ hội tưởng niệm Lê Thái Tổ, Trung túc vương Lê Lai, các vua nhà Hậu Lê và nghĩa quân khởi nghĩa Lam Sơn.[1][2]
| Lễ hội Lam Kinh | |
|---|---|
Ngọ Môn và cây đa thị nhìn từ sân Rồng tại Lam Kinh | |
| Cử hành bởi | Người dân vùng Lam Kinh |
| Kiểu | Lễ hội lịch sử |
| Ý nghĩa | Tưởng niệm Lê Thái Tổ, Lê Lai, các vua nhà Hậu Lê và nghĩa quân Lam Sơn |
| Bắt đầu | 21 tháng 8 âm lịch |
| Kết thúc | 22 tháng 8 âm lịch |
| Ngày | Lỗi Lua trong Mô_đun:Wikidata tại dòng 448: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). |
| Hoạt động | Rước kiệu, dâng hương, đọc chúc văn, tế lễ, biểu diễn nghệ thuật, trò diễn dân gian |
| Cử hành | Tế lễ tại đền thờ, thái miếu và lăng mộ trong quần thể Lam Kinh |
| Liên quan đến | Khởi nghĩa Lam Sơn, Lam Kinh, Lê Lợi, Lê Lai |
Chính lễ thường diễn ra trong hai ngày 21–22 tháng 8 âm lịch, tương ứng với ngày giỗ Lê Lai và Lê Lợi.[1] Phần lễ gồm rước kiệu, dâng hương, đọc chúc văn, tấu cáo và tế lễ tại các đền thờ, thái miếu, lăng mộ trong quần thể Lam Kinh. Phần hội có biểu diễn nghệ thuật, trò chơi, trò diễn dân gian và hoạt động giới thiệu giá trị di tích.[2]
Tên gọi và thời gian
Tên lễ hội bắt nguồn từ Lam Kinh, tên gọi của vùng đất Lam Sơn từ năm 1430 dưới thời Lê Thái Tổ.[1] Lễ hội được tổ chức vào tháng 8 âm lịch hằng năm. Ngày 21 tháng 8 là ngày giỗ Lê Lai, còn ngày 22 tháng 8 là ngày giỗ Lê Lợi.[1] Trình tự tưởng niệm Lê Lai trước Lê Thái Tổ được dân gian nhắc bằng câu "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi".[3][4]
Trung tâm lễ hội là sân Rồng và Chính điện Lam Kinh trong Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh.[2] Theo kế hoạch năm 2024, lễ chính được bố trí vào sáng 24 tháng 9, tức ngày 22 tháng 8 năm Giáp Thìn. Các đền thờ, thái miếu và lăng mộ trong khu di tích tổ chức tế lễ trong hai ngày 21–22 tháng 8 âm lịch.[2] Lễ dâng hương nhân ngày giỗ bà Hàng Dầu trên đỉnh núi Do Sơn, còn gọi là núi Dầu, được bố trí vào ngày 23 tháng 8 âm lịch.[2]
Bối cảnh lịch sử và không gian Lam Kinh
Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn, quê hương của Lê Lợi. Sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi lên ngôi năm 1428, lập nên vương triều Hậu Lê và đóng đô ở Thăng Long. Năm 1430, Lam Sơn được đổi tên thành Lam Kinh. Các công trình điện, miếu bắt đầu được xây dựng tại đây. Lam Kinh trở thành nơi các vua Lê nghỉ chân khi về cúng bái tổ tiên, đồng thời là khu lăng mộ của tổ tiên, các vua, hoàng thái hậu và một số thành viên hoàng tộc nhà Lê.[1]
Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh có phạm vi quy hoạch bảo tồn rộng 200 ha. Quần thể gồm Chính điện Lam Kinh, Thái miếu, sân Rồng, Cầu Bạch, hệ thống tường thành, hồ Như Áng, hồ Tây, núi Dầu, lăng mộ Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng.[1] Ngày 27 tháng 9 năm 2012, di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.[1]
Chính điện Lam Kinh được dựng sau khi Lê Thái Tổ mất năm 1433. Mặt bằng chính điện có dạng hình chữ "công", gồm ba tòa Quang Đức, Sùng Hiếu và Diên Khánh. Khu vực này hiện còn dấu tích nền móng, 127 tảng kê chân cột, nền lát, bó vỉa cùng một số hiện vật khác.[1] Thái miếu là nơi thờ tổ tiên, các vua và hoàng thái hậu nhà Lê. Kết quả khai quật khảo cổ cho thấy khu vực này có 9 tòa kiến trúc, trong đó 5 tòa đã được tôn tạo, phục hồi.[1]
Vĩnh Lăng nằm ở phía nam chân núi Dầu. Dọc đường thần đạo vào lăng có tượng quan hầu và tượng các con vật bằng đá đứng chầu. Bia Vĩnh Lăng được làm từ một khối đá trầm tích, đặt trên lưng rùa đá và ghi lại thân thế, sự nghiệp của Lê Thái Tổ.[1] Mặt trước Lam Sơn Vĩnh Lăng Bi khắc khoảng 750 chữ Hán, do Nguyễn Trãi soạn và Vũ Văn Phỉ khắc chữ. Tổng trọng lượng của bia và rùa đá vào khoảng 18 tấn. Cục Di sản văn hóa mô tả bia là hiện vật gốc, độc bản, tiêu biểu cho nghệ thuật chạm khắc bia đá thế kỷ XV.[5]
Lam Kinh là nơi an táng một số vua và hoàng hậu triều Lê sơ. Sáu vị vua và hai hoàng hậu được đưa về đây an táng, gồm Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao và Nguyễn Thị Ngọc Huyên. Hiện khu di tích còn 6 ngôi mộ và 5 bia đá.[5]
Lam Kinh – Lam Sơn nằm ở vùng bán sơn địa và trung du phía tây Thanh Hóa, nơi người Kinh, Mường và Thái cùng cư trú. Lưu Thị Ngọc Diệp cho rằng văn hóa các tộc người tại đây đan xen với lịch sử Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn.[6]
Hệ thủy Lam Kinh gồm đập nước, hồ Như Áng, kênh dẫn, hồ Tây, sông Ngọc, sông Chu và các dòng suối cổ. Hệ thống này bao quanh khu điện, miếu và lăng tẩm của vua, hoàng hậu cùng hoàng tộc Lê sơ ở trung tâm Lam Kinh.[7] Theo Nguyễn Văn Đoàn, không gian văn hóa Lam Sơn kéo dài từ cuối thời Trần đến thời Hậu Lê và phát triển mạnh nhất trong thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI. Không gian này gồm các di tích cung điện, đền miếu, lăng mộ và những vùng liền kề như Như Áng, Thủy Chú, Mục Sơn, cùng các vùng Mường – Kinh ở miền núi, trung du và hạ du xứ Thanh.[8]
Lịch sử lễ hội và nghi thức cung đình
Sau khi Lê Thái Tổ mất năm 1433, thi hài ông được đưa về Lam Kinh và an táng tại Vĩnh Lăng. Lê Nguyên Long, con thứ của Lê Thái Tổ, lên nối ngôi và cho xây dựng điện miếu tại Lam Kinh. Từ đó, nơi đây trở thành khu sơn lăng của các vua và hoàng hậu đầu triều Lê sơ.[9]
Trong giai đoạn 1429–1514, các vua Lê sơ có 20 lần về Lam Kinh bái yết sơn lăng, từ chuyến về Tây đô của Lê Thái Tổ đến lần Lê Tương Dực về Tây Kinh bái yết lăng tẩm.[9] Một số ghi chép còn nhắc đến việc tế tẩm miếu, đánh trống đồng, trình diễn nhạc võ "Bình Ngô phá trận" và phần văn "Chư hầu lai triều".[9]
Theo truyền ngôn ở Ngọc Lặc và Thọ Xuân, người dân cùng quân sĩ kéo về Lam Kinh mừng chiến thắng sau khi đánh bại quân Minh. Lê triều hội diễn gọi Lễ hội Lam Kinh là "hội của bách tính", "hội của muôn dân".[10]
Nhân vật tưởng niệm và truyền thuyết liên quan
Lễ hội tưởng niệm Lê Thái Tổ, người khởi xướng và lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn, cùng Lê Lai. Các vua triều Hậu Lê, tướng sĩ và nghĩa quân Lam Sơn cũng được tưởng niệm trong dịp này.[1][2]
Trong luận văn thạc sĩ Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa, Mai Thị Nhung cho rằng truyền thuyết về Lê Lợi gắn với các lễ hội tôn vinh anh hùng dân tộc và địa danh lịch sử, đồng thời được thể hiện qua tín ngưỡng, phong tục và nghi lễ. Theo tác giả, lễ hội là môi trường lưu giữ và lan tỏa các truyền thuyết này trong đời sống cộng đồng.[11]
Đền Tép ở xã Kiên Thọ là nơi thờ Trung túc vương Lê Lai. Lễ hội tại đền diễn ra vào dịp 21–22 tháng 8 âm lịch để tưởng niệm ông.[12] Năm 2008, Lễ hội Lam Kinh bắt đầu tại đền Tép với nghi lễ trước kiệu, dâng hương tưởng niệm Lê Lai cùng các hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian và thể thao.[3] Năm 2023, huyện Ngọc Lặc tổ chức dâng hương tại đền, sau đó rước kiệu về Chính điện Lam Kinh để phối tế.[4] Năm 2024, kiệu vua Lê Thái Tổ và kiệu Trung túc vương Lê Lai được rước từ hai đền thờ về sân Điện Lam Kinh trước lễ khai mạc.[2]
Nghi lễ
Phần lễ tưởng niệm Lê Thái Tổ, Lê Lai, các vua triều Hậu Lê và nghĩa quân Lam Sơn.[1] Nghi lễ diễn ra tại làng Tép ở Kiên Thọ, đền vua Lê tại Xuân Lam và khu trung tâm Lam Kinh.[13] Các nghi thức gồm mộc dục, cáo yết, rước sắc, dâng hương, đọc chúc văn, tấu cáo, tế lễ, rước kiệu và đại tế.[14][2]
Năm 2024, đội tế và đội rước kiệu của thị trấn Lam Sơn và xã Kiên Thọ rước kiệu vua Lê Thái Tổ và Trung túc vương Lê Lai về sân Điện Lam Kinh trước giờ khai mạc. Các đền thờ, tòa thái miếu và lăng mộ trong khu di tích tổ chức tế lễ trong hai ngày 21–22 tháng 8 âm lịch.[2] Quá trình phục dựng cũng khôi phục lễ cáo yết của đồng bào Mường tại đền Tép và lễ rước kiệu ở đền vua Lê. Đoàn lễ có các đội cờ, kiệu, chấp kích, bát âm, tế nam, dân binh và thiếu nữ Mường.[10]
Phần hội và diễn xướng
Phần hội có hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, trò chơi và trò diễn dân gian, cùng các chương trình biểu diễn, trưng bày, thuyết minh về khu di tích Lam Kinh.[2] Một số chương trình sân khấu hóa tái hiện Hội thề Lũng Nhai, sự kiện Lê Lai cứu chúa, giải phóng Đông Quan và lễ đăng quang của Lê Thái Tổ.[4][15]
Cờ xí, trống đồng, trống da, chiêng đồng, mõ tre, thanh la, gậy gộc, giáo mác và cung nỏ được dùng làm đạo cụ. Các màn múa hát sử dụng dân ca, dân vũ của cư dân vùng Lam Sơn.[10] Phần hội còn có Trò Xuân Phả, trò Chiêng, dân ca Đông Anh, dân ca sông Mã, múa rồng, múa lân, đấu vật, võ dân tộc và các trò chơi dân gian.[10][3]
Năm 2008, khu vực đền Tép có ném còn, múa rùa, múa chuông của người Dao, đẩy gậy, đi cà kheo, các làn điệu Xường của người Mường, cùng rượu cần, canh đắng và cơm lam.[3] Lễ hội đền Lê Lai còn có đánh đu, cờ người, hát đúm, múa cồng chiêng, Xường giao duyên, bắn nỏ, múa sạp, pồn poông, kéo co, đấu vật và giao lưu ẩm thực.[16]
Phục hồi và biến đổi
Sau khi nhà Lê suy vong, di tích Lam Kinh và nhiều sinh hoạt lễ hội dần mai một. Từ năm 1995, Lễ hội Lam Kinh được phục dựng và tổ chức hằng năm.[10] Các nghi thức được khôi phục gồm lễ cáo yết của đồng bào Mường tại đền Tép, lễ rước kiệu ở đền vua Lê, cùng sự tham gia của các đội cờ, kiệu, chấp kích, bát âm, tế nam, dân binh và thiếu nữ Mường.[10]
Bùi Quang Thanh cho rằng việc phục hồi Lễ hội Lam Kinh cần dựa trên mối liên hệ giữa nhân vật được thờ, di tích, truyền thuyết, thần tích, nghi thức và các trò diễn của cộng đồng.[17] Về cách thực hiện, ông đề nghị dựa vào các di tích, trò diễn dân gian, nghi thức tế lễ, truyền thuyết và ký ức cộng đồng, thay vì chỉ dựng lễ hội theo lối sân khấu hóa.[18] Ông cũng cho rằng nếu lễ hội quá nhấn mạnh tính trang nghiêm và sân khấu hóa, khiến người dân chỉ đứng ngoài quan sát, thì sự tham gia của cộng đồng sẽ bị hạn chế.[19]
Nguyễn Thị Thục và Lê Thị Thức ghi nhận những thay đổi trong lễ hội đền Lê Lai. Theo hai tác giả, trước đây người dân địa phương trực tiếp nấu nướng, khiêng kiệu, dâng lễ và đảm nhận các vai trong lễ hội. Hiện nay, chính quyền địa phương tham gia chỉ đạo nhiều hơn, làm thay đổi mức độ tham gia của cộng đồng.[20] Hai tác giả cũng cho rằng lễ hội hiện kết hợp sắc thái cung đình và dân gian, đồng thời tiếp nhận thêm các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và sinh hoạt cộng đồng.[21]
Tổ chức hiện đại
Năm 2022, tỉnh Thanh Hóa tổ chức lễ hội tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh để kỷ niệm 604 năm khởi nghĩa Lam Sơn, 594 năm ngày Lê Thái Tổ đăng quang, 589 năm ngày mất của Lê Lợi và 10 năm di tích được xếp hạng quốc gia đặc biệt.[22] Lễ hội năm 2023 gồm dâng hương, đọc chúc văn, tế lễ, đánh trống khai hội, biểu diễn sân khấu thực cảnh và các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch.[4]
Năm 2024, tỉnh Thanh Hóa dừng phần hội để ưu tiên khắc phục hậu quả bão lũ; các nghi thức dâng hương truyền thống vẫn diễn ra tại Khu di tích Lam Kinh, đền thờ Trung túc vương Lê Lai, Thái miếu nhà Hậu Lê và Tượng đài Anh hùng dân tộc Lê Lợi.[23] Năm 2025, lễ hội kéo dài từ ngày 12 đến 14 tháng 10, tức ngày 21–23 tháng 8 âm lịch. Lễ chính diễn ra sáng 13 tháng 10, tức ngày 22 tháng 8 âm lịch.[15]
Bảo tồn và phát huy di sản
Trong kế hoạch năm 2024, phần hội có hoạt động trưng bày, thuyết minh và giới thiệu giá trị của khu di tích Lam Kinh. Kế hoạch cũng đặt mục tiêu nâng cao ý thức cộng đồng về bảo tồn và phát huy giá trị di tích.[2]
Mai Thị Nhung xem Lễ hội Lam Kinh là môi trường diễn xướng và lưu truyền các truyền thuyết về Lê Lợi trong đời sống địa phương.[24] Nguyễn Thị Thục và Lê Thị Thức cho rằng lễ hội đền Lê Lai góp phần giáo dục truyền thống, gắn kết cộng đồng và duy trì các hình thức sinh hoạt văn hóa địa phương.[25]
Xem thêm
Chú thích
- ^ a b c d e f g h i j k l Cảnh Toàn. "Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh". Cục Di sản văn hóa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i j k "Lễ hội Lam Kinh năm 2024 sẽ khai mạc vào sáng ngày 24/9". Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. ngày 5 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b c d Mai Luận (ngày 19 tháng 9 năm 2008). "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi". Nhân Dân. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b c d Mai Luận (ngày 6 tháng 10 năm 2023). "Thanh Hóa tổ chức Lễ hội Lam Kinh 2023". Nhân Dân. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b "Lam Sơn Vĩnh Lăng Bi". Cục Di sản văn hóa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Lưu, Thị Ngọc Diệp (ngày 25 tháng 1 năm 2022). "Những dấu ấn văn hóa Mường, Thái trong không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh (Thanh Hóa)". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. doi:10.55988/2588-1264/16. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyễn, Văn Đoàn (2016). "Phục hồi hệ thủy Lam Kinh (Thanh Hóa)" (PDF). Di sản văn hóa (2 (55)): 38. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyễn, Văn Đoàn (2016). "Phục hồi hệ thủy Lam Kinh (Thanh Hóa)" (PDF). Di sản văn hóa (2 (55)): 38–39. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b c Lê Thị Dịu (ngày 11 tháng 9 năm 2025). "Các vua Lê sơ về Lam Kinh bái yết sơn lăng". Khu di tích Lam Kinh. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ a b c d e f Nguyễn Khắc Thuần (ngày 9 tháng 2 năm 2022). "Lễ hội Lam Kinh: Âm vang bài ca giữ nước". Quân đội nhân dân Cuối tuần. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Mai, Thị Nhung (2014). Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa (Luận văn). Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. tr. 1–2.
- ^ Nguyễn, Thị Thục; Lê, Thị Thức (ngày 25 tháng 1 năm 2022). "Nét đẹp văn hóa trong lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa: 39–41. doi:10.55988/2588-1264/23. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Mai, Thị Nhung (2014). Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa (Luận văn). Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. tr. 79.
- ^ Mai, Thị Nhung (2014). Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa (Luận văn). Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. tr. 79–82.
- ^ a b Trần Văn Hoàng (ngày 13 tháng 10 năm 2025). "Lễ hội Lam Kinh năm 2025: "Hào khí Lam Sơn - Tỏa sáng trường tồn"". Chính sách & Cuộc sống. Thông tấn xã Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyễn, Thị Thục; Lê, Thị Thức (ngày 25 tháng 1 năm 2022). "Nét đẹp văn hóa trong lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa: 42–43. doi:10.55988/2588-1264/23. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Bùi, Quang Thanh (2007). "Đôi điều suy nghĩ về việc phục hồi Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa)" (PDF). Di sản văn hóa (4 (21)): 63. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Bùi, Quang Thanh (2007). "Đôi điều suy nghĩ về việc phục hồi Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa)" (PDF). Di sản văn hóa (4 (21)): 64. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Bùi, Quang Thanh (2007). "Đôi điều suy nghĩ về việc phục hồi Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa)" (PDF). Di sản văn hóa (4 (21)): 65–66. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyễn, Thị Thục; Lê, Thị Thức (ngày 25 tháng 1 năm 2022). "Nét đẹp văn hóa trong lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa: 45–46. doi:10.55988/2588-1264/23. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyễn, Thị Thục; Lê, Thị Thức (ngày 25 tháng 1 năm 2022). "Nét đẹp văn hóa trong lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa: 46. doi:10.55988/2588-1264/23. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Mai Luận (ngày 17 tháng 9 năm 2022). "Thanh Hóa tổ chức Lễ hội Lam Kinh năm 2022". Nhân Dân. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Hoa Mai (ngày 24 tháng 9 năm 2024). "Dừng tổ chức phần hội trong Lễ hội Lam Kinh để khắc phục hậu quả bão lũ". Báo Tin tức. Thông tấn xã Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Mai, Thị Nhung (2014). Truyền thuyết và lễ hội về Lê Lợi ở Thanh Hóa (Luận văn). Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. tr. 1–2.
- ^ Nguyễn, Thị Thục; Lê, Thị Thức (ngày 25 tháng 1 năm 2022). "Nét đẹp văn hóa trong lễ hội đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa: 44–45. doi:10.55988/2588-1264/23. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.