Bước tới nội dung

Maurice Ravel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “redirect hatnote”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Joseph Maurice RavelBản mẫu:Refn (7 tháng 3 năm 1875 – 28 tháng 12 năm 1937) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm và nhạc trưởng người Pháp. Tên tuổi của ông cùng với người đương thời Claude Debussy thường được gắn liền với trường phái ấn tượng, mặc dù cả hai đều khước từ khái niệm này. Trong thập niên 1920 và 1930, Ravel được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới là nhà soạn nhạc Pháp vĩ đại nhất còn sống.

Ravel sinh ra trong một gia đình yêu âm nhạc và theo học tại Nhạc viện Paris, trường âm nhạc hàng đầu của Pháp. Ông không được giới bảo thủ xem trọng tại cơ sở đào tạo này và việc họ đối xử bất công đối với ông về sau đã gây ra tai tiếng. Sau khi rời nhạc viện, Ravel tìm thấy con đường riêng của mình với tư cách là một nhà soạn nhạc; ông phát triển một phong cách rất đặc trưng và kết hợp vào âm nhạc của mình các yếu tố của chủ nghĩa hiện đại, baroque, tân cổ điển và trong những nhạc phẩm về sau là jazz. Ravel thích thử nghiệm với hình thức âm nhạc: mô típ nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Boléro (1928) thường được lặp đi lặp lại thay vì phát triển. Nổi tiếng với khả năng phối nhạc, Ravel đã chuyển soạn một số nhạc phẩm dương cầm của các nhà soạn nhạc khác thành tác phẩm cho dàn nhạc, trong đó nổi tiếng nhất là bản phối năm 1922 cho Pictures at an Exhibition của Mussorgsky.

Với phong cách làm việc chậm rãi và cần cù, Ravel cho ra đời ít nhạc phẩm hơn so với đa số đồng nghiệp cùng thời khác. Ông đã xuất bản các tác phẩm dành cho dương cầm, nhạc thính phòng, hai bản hòa tấu dương cầm, nhạc ba lê, hai vở opera và tám liên ca khúc; ông không viết bất kỳ bản giao hưởng hay nhạc nhà thờ nào. Nhiều sáng tác của Ravel tồn tại dưới hai hình thức: trước hết là bản cho piano, sau đó được ông phối khí. Một số bản viết cho dương cầm, như Gaspard de la nuit (1908), nổi tiếng vì độ khó, trong khi các tác phẩm cho dàn nhạc phức tạp như Daphnis et Chloé (1912) lại đòi hỏi sự tinh tế trong cân bằng âm sắc khi biểu diễn.

Ravel là một trong những nhà soạn nhạc đầu tiên nhận thấy tiềm năng của việc đưa âm nhạc đến gần công chúng thông qua việc ghi âm. Từ thập niên 1920, ông đã tham gia thu âm một số tác phẩm của mình mặc dù kỹ thuật biểu diễn dương cầm và chỉ huy dàn nhạc còn hạn chế; một số tác phẩm khác được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ của chính tác giả.

Cuộc đời và sự nghiệp

Thiếu thời

ảnh chụp đầu và vai của người đàn ông có râu, người phụ nữ trẻ và đứa trẻ nhỏ
Joseph Ravel (1875), Marie Delouart (1870) và Maurice Ravel năm 4 tuổi (1879).

Ravel chào đời tại thị trấn Ciboure thuộc vùng Basque của Pháp, gần BiarritzBản mẫu:Sndchỉ cách biên giới Tây Ban Nha Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.. Cha của ông, Pierre-Joseph Ravel, sinh ra tại Versoix gần biên giới Pháp-Thụy Sĩ, là một kỹ sư, nhà phát minh và nhà sản xuất có học thức và thành đạt.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Mẹ của ông, Marie (nhũ danh Delouart) là người Basque nhưng lớn lên ở Madrid. Theo quan niệm thế kỷ 19, Joseph đã kết hôn với một người có địa vị thấp hơn mình – Marie là con ngoài giá thú và gần như mù chữ – nhưng cuộc hôn nhân giữa họ lại rất hạnh phúc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một số phát minh thành công của Joseph bao gồm động cơ đốt trong thời kỳ đầu và một cỗ máy xiếc khét tiếng mang tên "Cơn lốc tử thần", trò diễn xiếc lái ô tô nhào lộn theo vòng tròn nổi tiếng cho đến khi xảy ra một vụ tai nạn chết người tại Rạp xiếc Barnum và Bailey vào năm 1903.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Cả cha và mẹ của Ravel đều là người Công giáo La Mã; Marie cũng là một người có tư tưởng tự do, một đặc điểm được người con trai cả của bà thừa hưởng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Ciboure sáu ngày sau khi chào đời. Ba tháng sau, gia đình chuyển đến Paris, nơi cậu con trai út Édouard chào đời (Cậu có mối quan hệ thân thiết với cha mình, và cuối cùng đã bước theo con đường làm kỹ sư của cha).[1] Maurice đặc biệt tận tụy với mẹ của mình; truyền thống Basque-Tây Ban Nha của bà đã có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống và âm nhạc của ông.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một trong những ký ức đầu đời của Ravel là những bài dân ca mà bà hát cho ông nghe.[1] Tuy không thuộc hàng giàu có, nhưng gia đình vẫn sống trong điều kiện khá giả và hai cậu bé đã có một tuổi thơ hạnh phúc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Cha của Ravel rất thích đưa các con trai đến thăm nhiều nhà máy để xem những thiết bị cơ khí mới nhất, nhưng ông cũng rất quan tâm đến âm nhạc và văn hóa nói chung.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Về sau, Ravel nhớ lại rằng "ngay từ thời thơ ấu, tôi đã có một sự nhạy cảm đặc biệt với âm nhạc. Cha tôi, người được đào tạo bài bản hơn hầu hết những người chơi nhạc không chuyên, đã biết cách nuôi dưỡng niềm say mê ấy và khơi dậy sự nhiệt tình của tôi đối với âm nhạc từ khi tôi còn nhỏ".[2] Không có ghi chép nào cho thấy Ravel theo học tại bất kỳ ngôi trường chính thống nào trong những năm đầu đời; người viết tiểu sử của ông, Roger Nichols, cho rằng phần lớn việc giáo dục ông thời thơ ấu có thể do cha ông đảm nhận.[3]

Năm 7 tuổi, Ravel theo học dương cầm cùng Henri Ghys, bạn của Emmanuel Chabrier. Năm năm sau (1887), ông bắt đầu học hòa âm, đối âm và sáng tác âm nhạc cùng Charles-René, học trò của Léo Delibes.[4] Mặc dù không phải thần đồng nhưng ông được công nhận là có năng khiếu về âm nhạc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Charles-René nhận thấy rằng quá trình định hình âm nhạc của Ravel là điều tự nhiên đối với ông "và không phải là kết quả của nỗ lực như bao người khác".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một số tác phẩm đầu tiên được biết đến của Ravel xuất phát từ thời gian này, trong đó có biến tấu trên bài thánh ca của Schumann, biến tấu trên một chủ đề của Grieg và một chương của một bản sonata cho dương cầm.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Các tác phẩm này chỉ tồn tại một cách rời rạc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Năm 1888, Ravel gặp nghệ sĩ dương cầm trẻ tuổi Ricardo ViñesBản mẫu:Sndngười sau này không chỉ trở thành bạn tri kỷ mà còn là một trong những nghệ sĩ tiên phong diễn giải âm nhạc của ông, đồng thời giữ vai trò cầu nối quan trọng giữa Ravel và truyền thống âm nhạc Tây Ban Nha.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Cả hai cùng chia sẻ niềm yêu thích đối với Wagner, âm nhạc Nga cũng như văn chương của Edgar Allan Poe, BaudelaireStéphane Mallarmé.[5] Tại Triển lãm Thế giới năm 1889 ở Paris, Ravel đã rất ấn tượng với các nhạc phẩm mới thời bấy giờ của Nga do Nikolai Rimsky-Korsakov chỉ huy.[6] Các tác phẩm ấyBản mẫu:Sndcùng với âm thanh kỳ lạ của nhạc cụ gamelan Java tại Triển lãmBản mẫu:Snd đã để lại dấu ấn sâu đậm đối với Ravel và người đương thời lớn tuổi Claude Debussy.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Émile Decombes trở thành giáo viên dạy dương cầm cho Ravel vào năm 1889. Trong cùng năm, Ravel biểu diễn công khai lần đầu tiên khi ông mới 14 tuổi.[7] Ông biểu diễn tại một buổi hòa nhạc tại Salle Érard cùng Reynaldo HahnAlfred Cortot, học trò của Decombes.

Nhạc viện Paris

Được sự động viên của cha mẹ, Ravel nộp hồ sơn xin theo học tại Nhạc viện Paris, trường âm nhạc hàng đầu của Pháp. Vào tháng 11 năm 1889, ông biểu diễn các tác phẩm của Chopin và đỗ kỳ thi tuyển sinh vào lớp học dương cầm dự bị do Eugène Anthiome chỉ đạo.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel giành giải nhất trong cuộc thi dương cầm của Nhạc viện vào năm 1891, nhưng ngoài thành tích này ra, ông không thực sự nổi bật trong vai trò một sinh viên.[8] Tuy nhiên, những năm này là thời kỳ mà Ravel phát triển đáng kể với tư cách là một nhà soạn nhạc. Nhà âm nhạc học Arbie Orenstein viết rằng đối với Ravel, những năm 1890 là thời kỳ "phát triển vượt bậc... từ tuổi thiếu niên đến khi trưởng thành".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

ảnh chụp ngoài trời của một lớp học nhỏ sinh viên cùng giáo sư
Khóa dương cầm năm 1895 của Charles de Bériot, Ravel đứng bên trái.

Năm 1891, Ravel học dương cầm từ Charles-Wilfrid de Bériot và hòa âm từ Émile Pessard.[7] Ông có tiến bộ, nhưng không quá nổi bật, với sự khuyến khích đặc biệt từ Bériot nhưng theo lời của nhà âm nhạc học Barbara L. Kelly thì Ravel "chỉ chịu tiếp thu theo cách mà ông muốn".[9] Giáo viên sau này của ông là Gabriel Fauré hiểu điều đó nhưng nhìn chung khoa bảo thủ của Nhạc viện những năm 1890 lại không chấp nhận.[9] Vì không đoạt được thêm giải thưởng nào nên Ravel đã bị đuổi học vào năm 1895.Bản mẫu:Refn Những tác phẩm đầu tiên của ông còn tồn tại đầy đủ là từ thời sinh viên là Sérénade grotesque dành cho dương cầm và "Ballade de la Reine morte d'aimer",Bản mẫu:Refn một bản mélodie lấy cảm hứng từ một bài thơ của Roland de Marès (đều từ năm 1893).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Là một sinh viên, Ravel không chăm chỉ bằng các bạn học của ông như Viñes hay Cortot.Bản mẫu:Refn Với tư cách là một nghệ sĩ dương cầm, Ravel không thể sánh kịp họ và tham vọng lớn nhất của ông là trở thành một nhà soạn nhạc.[8] Từ thời điểm này, ông tập trung vào sáng tác. Các tác phẩm của Ravel trong giai đoạn này bao gồm một số bài hát như "Un grand sommeil noir" và "D'Anne jouant de l'espinette" với lời của Paul VerlaineClément Marot,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn cùng với các bản nhạc dương cầm Menuet antiqueHabanera (dành cho bốn tay), tác phẩm Habanera sau này được đưa vào bản Rapsodie espagnole.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Trong thời gian này, Joseph Ravel đã giới thiệu con trai mình cho Erik Satie, người đang kiếm sống bằng nghề chơi dương cầm tại quán cà phê. Ravel là một trong những nhạc sĩ đầu tiên (người khác là Debussy) nhận ra sự độc đáo và tài năng của Satie.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Những thử nghiệm liên tục của Satie về hình thức âm nhạc mà Ravel xem là "vô giá" chính là nguồn cảm hứng cho ông.[10]

Năm 1897, Ravel được nhận lại vào Nhạc viện, nơi ông học sáng tác với Fauré và học riêng về đối âm với André Gedalge.[7] Cả hai giáo viên, đặc biệt là Fauré, đều đánh giá cao Ravel và đều có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của ông với tư cách là một nhà soạn nhạc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Khi khóa học tiến triển, Fauré đã ghi nhận "sự trưởng thành rõ rệt... sự giàu có hấp dẫn trong trí tưởng tượng" của Ravel.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tuy nhiên, vị thế của Ravel tại Nhạc viện đã bị suy yếu bởi sự thù địch từ Giám đốc Théodore Dubois, người than thở về quan điểm tiến bộ trong âm nhạc và chính trị của chàng trai trẻ.[11] Theo người bạn học Michel-Dimitri Calvocoressi, Ravel trở thành "cái gai trong mắt nhiều người, và họ không ngần ngại dùng mọi cách để loại trừ ông".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel đã viết một số tác phẩm đáng chú ý khi học với Fauré, bao gồm khúc dạo đầu Shéhérazade và một bản sonata cho vĩ cầm với một chương, nhưng ông không giành được giải thưởng nào nên lại bị cho thôi học lần nữa vào năm 1900. Là một cựu sinh viên, Ravel được tham dự các lớp học của Fauré với tư cách là "thính giả" cho đến khi ông cuối cùng giã từ Nhạc viện vào năm 1903.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

chân dung một người đàn ông trung niên có mái tóc trắng và ria mép
Chân dung Gabriel Fauré, thầy giáo và người ủng hộ Ravel.

Vào tháng 5 năm 1897, Ravel chỉ huy buổi biểu diễn đầu tiên của khúc dạo đầu Shéhérazade. Sự kiện này nhận về luồng ý kiến trái chiều, với tiếng la ó xen lẫn tiếng vỗ tay từ khán giả, và những lời chỉ trích không mấy tích cực từ các nhà phê bình. Một người mô tả tác phẩm này là "một màn ra mắt gây sốc: một sự đạo văn vụng về của Trường phái Nga" và gọi Ravel là "một nghệ sĩ mới vào nghề có năng khiếu tầm thường... người có lẽ sau khoảng mười năm làm việc chăm chỉ sẽ trở thành một điều gì đó nếu không muốn nói là là một ai đó".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Nhà phê bình Pierre Lalo nhận thấy Ravel có tài năng nhưng lại quá phụ thuộc Debussy và thay vào đó nên học theo Beethoven.[12] Trong những thập kỷ về sau, Lalo trở thành nhà phê bình Ravel kiên định nhất.[12] Vào năm 1899, Ravel đã sáng tác tác phẩm nổi tiếng đầu tiên của mình dẫu cho ban đầu không tạo được nhiều dấu ấn: Pavane pour une infante défunte ("Pavane cho một nàng công chúa đã qua đời").[13] Tác phẩm ban đầu được viết cho độc tấu dương cầm và do Công chúa de Polignac đặt hàng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn

Ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp, Ravel đã tỏ ra thản nhiên trước những lời khen chê. Những người thân quen với ông đều tin rằng đó không phải là thái độ làm ra vẻ, mà hoàn toàn xuất phát từ con người thật của ông.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ý kiến duy nhất về âm nhạc mà Ravel thực sự coi trọng là của chính mình: cầu toàn và tự kiểm điểm một cách nghiêm khắc.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ở tuổi hai mươi, theo lời của người viết tiểu sử Burnett James, ông "tự chủ, sống hơi xa lánh, thiên vị về mặt trí tuệ và thích nói đùa nhẹ nhàng".[14] Ông ăn mặc bảnh bao và rất tỉ mỉ về ngoại hình và phong thái của mình.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Orenstein bình luận rằng với vóc dáng nhỏ bé,Bản mẫu:Refn nhẹ cân và xương xẩu, Ravel sở hữu "ngoại hình của một kỵ sĩ ăn mặc đẹp", chiếc đầu to dường như phù hợp với trí tuệ đáng gờm của ông. Vào cuối những năm 1890 và đầu thế kỷ tiếp theo, Ravel để râu theo phong cách đương thời, tuy nhiên cho đến giữa tuổi ba mươi thì ông không còn để râu nữa.[15]

Les Apaches và Debussy

Khoảng năm 1900, Ravel và một số nghệ sĩ, nhà thơ, nhà phê bình và nhạc sĩ trẻ đã cùng nhau thành lập một nhóm không chính thức được biết đến với cái tên Les Apaches (tạm dịch: "Những kẻ nổi loạn"). Tên này là do Viñes đặt ra để thể hiện rằng các thành viên là "những người bị giới nghệ thuật ruồng bỏ".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Họ gặp mặt thường xuyên cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra. Ở đây, các thành viên khích lệ nhau bằng cách tranh luận trí tuệ và trình diễn các tác phẩm của họ. Danh sách thành viên của nhóm rất linh hoạt, vào những thời điểm khác nhau còn có sự góp mặt của Igor StravinskyManuel de Falla cùng với những người bạn Pháp của họ.Bản mẫu:Refn

Một trong số những sở thích của nhóm Les Apaches là âm nhạc của Debussy. Ravel, kém ông 12 tuổi, đã biết Debussy một chút từ những năm 1890, tình bạn của họ mặc dù không thân thiết nhưng vẫn tiếp tục tồn tại trong hơn 10 năm.[16] Vào năm 1902, André Messager đã chỉ huy buổi ra mắt vở opera Pelléas et Mélisande của Debussy tại Opéra-Comique. Màn trình diễn đã gây ra chia rẽ về các ý kiến âm nhạc. Dubois đã cố ngăn cấm sinh viên của Nhạc viện tham dự,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. nổi bật trong số những người ghét tác phẩm này là Camille Saint-Saëns, bạn và cựu giáo viên của nhạc trưởng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhóm Les Apaches đã lên tiếng ủng hộ vở opera này.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vở opera có 14 tiết mục trong lần ra mắt, và Ravel đã tham dự toàn bộ các màn trình diễn.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

hình ảnh đầu và vai của người đàn ông có râu ở độ tuổi trung niên, nhìn từ góc phải
Claude Debussy năm 1905.

Debussy được công nhận rộng rãi là một nhà soạn nhạc theo trường phái Ấn tượng – một thuật ngữ mà ông cực kỳ không thích. Nhiều người yêu âm nhạc cũng bắt đầu áp dụng thuật ngữ này cho Ravel, và các tác phẩm của hai nhà soạn nhạc thường được xem là một phần của cùng thể loại.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel cho rằng Debussy thực sự là một nhà soạn nhạc theo trường phái Ấn tượng nhưng bản thân ông thì không.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Orenstein nhìn nhận rằng Debussy tự phát và thoải mái khi sáng tác còn Ravel thì chú ý hơn đến hình thức và tay nghề.[17] Ravel viết rằng "sự thiên tài của Debussy rõ ràng là có cá tính lớn: tự tạo ra những quy luật riêng, liên tục thay đổi, thể hiện bản thân một cách tự do, nhưng luôn trung thành với truyền thống Pháp. Đối với Debussy, một nhạc sĩ và con người, tôi vô cùng ngưỡng mộ nhưng về bản chất, tôi khác với Debussy... Tôi nghĩ rằng cá nhân tôi luôn theo đuổi một hướng trái ngược với chủ nghĩa tượng trưng [của ông]."[18] Trong những năm đầu tiên của thế kỷ 20, các sáng tác mới của Ravel bao gồm tác phẩm dương cầm Jeux d'eauBản mẫu:Refn (1901), Tứ tấu đàn dây và chuỗi bài hát dành cho dàn nhạc Shéhérazade (cả hai đều ra mắt năm 1903).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Các nhà bình luận đã để ý đến một số nét chấm phá của Debussy trong một số phần của những tác phẩm này. Nichols xem bản tứ tấu "vừa tôn vinh vừa xua đuổi ảnh hưởng của Debussy".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Hai nhà soạn nhạc trở nên xa cách vào giữa thập niên đầu tiên của những năm 1900 vì những thứ liên quan đến âm nhạc và có thể là lý do cá nhân. Những người ngưỡng mộ họ bắt đầu hình thành phe phái, trong đó các cá nhân ủng hộ một bên sẽ hạ thấp bên còn lại. Tranh chấp nảy sinh xoay quanh niên đại các sáng tác và vấn đề ai chịu ảnh hưởng từ ai.[16] Nổi bật trong phe chống Ravel là Lalo, người đã viết rằng: "Trong khi M. Debussy đầy sự nhạy cảm thì M. Ravel đầy vô cảm, ông không ngần ngại vay mượn không những kỹ thuật mà cả sự nhạy cảm của người khác."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Những căng thẳng công khai này đã dẫn đến việc hai cá nhân xa lánh.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel nói rằng "Rốt cuộc, có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta giữ thái độ lạnh nhạt vì những lý do phi logic."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nichols đã đưa ra một lý do khác cho sự rạn nứt. Vào năm 1904, Debussy rời bỏ vợ của mình và sống chung với ca sĩ Emma Bardac. Ravel, cùng với người bạn tâm giao Misia Edwards và ngôi sao opera Lucienne Bréval, đã cho Lilly Debussy một khoản thu nhập đều đặn và khiêm tốn, điều mà Nichols cho rằng có thể đã làm chồng bà khó chịu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Tai tiếng và thành công

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “anchor”.

head shots of two 19th century professors, bearded and balding
Charles Lenepveu (trái) và Théodore Dubois thuộc nhạc viện Paris.

Trong những năm đầu của thế kỷ 20, Ravel đã năm lần nỗ lực giành giải thưởng danh giá nhất của Pháp dành cho các nhà soạn nhạc trẻ tuổi: giải thưởng Khôi nguyên La Mã; những người từng đạt giải này bao gồm Berlioz, Gounod, Bizet, Massenet và Debussy.[19] Vào năm 1900, Ravel bị loại ở vòng đầu tiên, một năm sau thì ông đạt giải nhì.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tuy nhiên trong hai năm tiếp theo thì Ravel lại không nhận được giải thưởng nào. Theo nhà âm nhạc học Paul Landormy, ban giám khảo nghi ngờ Ravel đang chế nhạo họ bằng cách nộp những bản cantata hàn lâm đến mức giống như là bản nhại.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Ravel dự thi lần cuối vào năm 1905 khi ông đã 30 tuổi và vô tình gây ra một vụ tai tiếng. Việc ông bị loại ngay từ vòng đầu khiến ngay cả những nhà phê bình không thích âm nhạc của ông như Lalo cũng phải lên tiếng phản đối vì cho rằng điều này là không thể chấp nhận được.[20] Sự phẫn nộ của báo chí gia tăng khi có thông tin cho rằng chỉ những học trò của Charles LenepveuBản mẫu:Sndgiáo sư cấp cao tại Nhạc viện và cũng là thành viên của ban giám khảo, mới được chọn vào vòng chung kết.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Lời khẳng định của Lenepveu khi cho rằng đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên đã không được lòng giới phê bình.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. L'affaire Ravel (tạm dịch: Vụ Ravel) trở thành một vụ bê bối quốc gia, dẫn đến việc Dubois phải từ chức sớm để chính phủ Pháp bổ nhiệm Fauré lên thay thế nhằm cải tổ toàn diện Nhạc viện.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Một trong số những người quan tâm sâu sắc đến sự việc này là Alfred Edwards, chủ sở hữu và biên tập viên của tờ báo Le Matin, nơi Lalo viết bài. Edwards đã kết hôn với bạn của Ravel là MisiaBản mẫu:Refn và cặp đôi đã đưa Ravel đi du ngoạn sông Rhin trong bảy tuần trên du thuyền của họ vào tháng 6 và tháng 7 năm 1905; đây chínhh là lần đầu tiên ông đi du lịch nước ngoài.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Vào nửa cuối thập niên 1900, Ravel đã hình thành thói quen sáng tác nhạc cho dương cầm trước rồi sau đó chuyển soạn cho dàn nhạc giao hưởng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhìn chung, ông là một người làm việc chậm rãi và tỉ mỉ nên việc dựa trên những bản piano có sẵn đã giúp ông mở rộng số lượng tác phẩm được xuất bản và biểu diễn.[21] Điều này dường như không xuất phát từ mục đích vụ lợi, bởi Ravel vốn được biết đến là người thờ ơ với chuyện tài chính.[22] Các tác phẩm ban đầu là nhạc dương cầm và về sau được phối khí cho dàn nhạc giao hưởng bao gồm Pavane pour une infante défunte (phối dàn nhạc năm 1910), Une barque sur l'océan (1906, từ tổ khúc dương cầm Miroirs được sáng tác năm 1905), phần Habanera trong Rapsodie espagnole (1907–08), Ma mère l'Oye (1908–10, phối dàn nhạc năm 1911), Valses nobles et sentimentales (1911, phối dàn nhạc năm 1912), Alborada del gracioso (từ Miroirs, phối dàn nhạc năm 1918) và Le tombeau de Couperin (1914–17, phối dàn nhạc năm 1919).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

bức vẽ một người đàn ông trẻ tuổi với mái tóc đầy đặn, cạo râu sạch sẽ, đang nhìn về phía họa sĩ
Ralph Vaughan Williams, một trong số ít học trò của Ravel.

Vốn không nghiêng về nghiệp dạy học nhưng Ravel vẫn hướng dẫn một vài nhạc sĩ trẻ mà ông cho là có thể hưởng lợi từ sự dẫn dắt của mình. Manuel Rosenthal là một trong số đó; ông kể rằng Ravel là một người thầy rất khắt khe khi tin rằng học trò mình có tài. Giống như người thầy của mình là Fauré, Ravel đặc biệt quan tâm đến khả năng khám phá tiếng nói riêng và tránh việc chịu ảnh hưởng quá mức từ những bậc thầy đi trước.[23] Ông từng nhắc nhở Rosenthal rằng không thể học được gì từ việc nghiên cứu âm nhạc của Debussy: "Chỉ Debussy mới có thể viết ra những tác phẩm đó và làm cho chúng vang lên theo cách mà chỉ Debussy có thể làm được."[24] Khi George Gershwin ngỏ ý muốn theo học Ravel vào những năm 1920, ông đã từ chối sau thời gian suy nghĩ nghiêm túc với lý do là việc học "có thể khiến Gershwin viết ra những bản Ravel dở tệ và đánh mất món quà tuyệt vời là khả năng sáng tác giai điệu đầy tự nhiên và ngẫu hứng".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Học trò nổi tiếng nhất của Ravel có lẽ là Ralph Vaughan Williams, người chỉ theo học trong vòng ba tháng (1907–1908).Bản mẫu:Refn Vaughan Williams kể lại rằng Ravel đã giúp ông thoát khỏi "lối viết đối âm mang nặng phong cách Đức... Complexe mais pas compliqué (tạm dịch: Phức tạp nhưng không rối rắm) là phương châm của ông."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Hồi ký của Vaughan Williams đã làm sáng tỏ một phần đời tư của Ravel; tính cách kín đáo và bí ẩn của ông đã dẫn đến nhiều suy đoán. Vaughan Williams, Rosenthal và Marguerite Long đều đã ghi lại rằng Ravel thường xuyên lui tới nhà thổ;Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Long cho rằng điều này là do ông tự ti về vóc dáng nhỏ bé của mình, từ đó khiến ông thiếu tự tin với phụ nữ.[22] Những nguồn kể lại khác (dù không nguồn nào là trực tiếp) cho rằng Ravel đã đem lòng yêu Misia Edwards hoặc là muốn cưới nghệ sĩ vĩ cầm Hélène Jourdan-Morhange.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Rosenthal ghi nhận nhưng bác bỏ những suy đoán đương thời cho rằng Ravel, người suốt đời không lập gia đình, có thể là người đồng tính.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Những suy đoán trên xuất hiện trở lại trong cuốn sách Maurice Ravel: A Life (2000) của tác giả Benjamin Ivry;Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. các nghiên cứu về sau chỉ ra rằng đời sống riêng tư và khuynh hướng tính dục của Ravel vẫn còn là một ẩn số.[25]

Ravel có buổi hòa nhạc đầu tiên ngoài nước Pháp vào năm 1909. Là khách của nhà Vaughan Williams, ông đến thăm Luân Đôn và biểu diễn cho Société des Concerts Français. Màn trình diễn nhận được nhiều đánh giá tích cực và góp phần vào việc mở rộng danh tiếng quốc tế vốn đang ngày càng tăng của ông.[26]Bản mẫu:Refn

Từ 1910 đến Chiến tranh Thế giới thứ nhất

Tập tin:Maurice-Ravel-1913.png
Ravel năm 1913.

Société Nationale de Musique, được thành lập vào năm 1871 nhằm thúc đẩy nhạc phẩm của các nhà soạn nhạc trẻ người Pháp, từ giữa những năm 1880 đã bị chi phối bởi phe bảo thủ do Vincent d'Indy đứng đầu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel, cùng với một số cựu học trò của Fauré, đã thành lập một tổ chức hiện đại hơn mang tên Société Musicale Indépendente và để Fauré giữ chức chủ tịch.Bản mẫu:Refn Buổi hòa nhạc khai mạc của hội âm nhạc mới được tổ chức vào ngày 20 tháng 4 năm 1910; trong số bảy tác phẩm được trình diễn có buổi ra mắt liên ca khúc La chanson d'Ève của Fauré, tổ khúc dương cầm D'un cahier d'esquisses của Debussy, Six pièces pour piano của Zoltán Kodály và phiên bản song tấu cho dương cầm gốc của Ma mère l'Oye do Ravel sáng tác. Các nghệ sĩ biểu diễn gồm có Fauré, Florent Schmitt, Ernest Bloch, Pierre Monteux và, đối với tác phẩm của Debussy, Ravel.[27] Việc hội cho phép biểu diễn các tác phẩm của Satie trong một buổi hòa nhạc vào tháng 1 năm 1911 được Kelly xem là một dấu hiệu của sự ảnh hưởng mới có của Ravel.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Một trong hai vở opera đầu tiên của Ravel là vở hài một màn L'heure espagnoleBản mẫu:Refn được ra mắt lần đầu vào năm 1911. Tác phẩm được hoàn thiện vào năm 1907 nhưng quản lý của Opéra-Comique là Albert Carré đã nhiều lần trì hoãn buổi trình diễn tác phẩm. Ông lo ngại rằng cốt truyện của vở kịch – một trò hề trong phòng ngủ – sẽ không được những khán giả quan trọng của Opéra-Comique là những bà mẹ và cô con gái đáng kính đón nhận nồng nhiệt.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vở kịch chỉ gặt hái được thành công khiêm tốn trong lần công diễn đầu tiên và phải đến thập niên 1920 mới thực sự trở nên phổ biến.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Vũ công ballet nam trong trang phục Hy Lạp cổ đại đang tạo dáng
Michel Fokine thủ vai Daphnis trong vở Ballet Daphnis et Chloé.

Năm 1912, Ravel cho ra mắt ba vở ballet. Vở đầu tiên là bản phối khí mở rộng của Ma mère l’Oye, được công diễn tại Théâtre des Arts vào tháng 1.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tác phẩm nhận được nhiều lời khen ngợi: tạp chí Mercure de France gọi bản nhạc là "sự mê hồn tuyệt đối, một kiệt tác thu nhỏ”.[28] Bản nhạc nhanh chóng trở thành một phần trong chương trình biểu diễn thính phòng; chỉ vài tuần sau buổi ra mắt ở Paris, tác phẩm đã được trình diễn tại Queen’s Hall ở Luân Đôn và được biểu diễn lại tại Proms trong cùng năm. Tờ báo The Times ca ngợi "sự mê hoặc của tác phẩm… hiệu ứng như ảo ảnh, nơi điều gì đó hoàn toàn thực dường như trôi nổi trong hư vô”.[29] Khán giả New York cũng được thưởng thức tác phẩm trong cùng năm.[30] Vở ballet thứ hai của Ravel trong năm 1912 là Adélaïde ou le langage des fleurs, được dàn dựng với phần nhạc từ Valses nobles et sentimentales, công diễn tại nhà hát Châtelet vào tháng Tư. Daphnis et Chloé ra mắt tại cùng nhà hát vào tháng Sáu. Đây là tác phẩm viết cho dàn nhạc có quy mô lớn nhất của Ravel bởi ông đã tốn rất nhiều công sức trong vài năm để hoàn thành.[31]

Daphnis et Chloé được bầu Sergei Diaghilev đặt hàng vào khoảng năm 1909 cho đoàn Ballets Russes của ông.Bản mẫu:Refn Ravel bắt đầu làm việc với biên đạo múa Michel Fokine và họa sĩ thiết kế Léon Bakst của Diaghilev.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Fokine nổi tiếng với phong cách biên đạo hiện đại, thay vì chia thành từng màn riêng lẻ thì sử dụng âm nhạc liên tục xuyên suốt, điều này rất hợp với sở thích sáng tạo của Ravel. Sau khi bàn bạc kỹ lưỡng về nội dung vở diễn với Fokine, Ravel bắt tay vào sáng tác.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tuy nhiên, quá trình hợp tác giữa các nghệ sĩ thường xuyên xảy ra bất đồng và buổi công diễn đầu tiên lại không được tập dượt kỹ lưỡng do tác phẩm hoàn thành muộn.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vở ballet nhận được phản hồi không mấy nồng nhiệt và nhanh chóng bị rút khỏi chương trình, dù sau đó được hồi sinh thành công một năm sau ở Monte Carlo và Luân Đôn.[32] Quá trình hoàn thành tác phẩm đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của Ravel;Bản mẫu:Refn chứng suy nhược thần kinh buộc ông phải nghỉ ngơi trong vài tháng sau buổi ra mắt.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Ravel không viết nhiều tác phẩm trong năm 1913. Ông hợp tác với Stravinsky để hoàn thiện vở opera dang dở Khovanshchina của Mussorgsky. Những tác phẩm mà ông tự viết gồm Trois poèmes de Mallarmé cho giọng nữ cao và dàn nhạc thính phòng cùng với hai tác phẩm dương cầm ngắn À la manière de BorodineÀ la manière de Chabrier.[7] Năm 1913, Ravel và Debussy là một trong những nhạc sĩ có mặt tại buổi tổng duyệt Nghi lễ mùa xuân.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Stravinsky sau này kể lại rằng Ravel là người duy nhất ngay lập tức hiểu tác phẩm.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel dự đoán rằng buổi ra mắt tác phẩm này sẽ được xem là sự kiện mang ý nghĩa lịch sử ngang với Pelléas et Mélisande.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn

Thời chiến

Một người đàn ông trung niên mặc quân phục Pháp quấn trong áo khoác lông thú
Ravel trong Lục quân Pháp năm 1916.

Khi Đức xâm lược Pháp vào năm 1914, Ravel đã cố gắng gia nhập Không quân Pháp. Ông xem vóc dáng nhỏ bé và cân nặng nhẹ của mình phù hợp với vị trí phi công nhưng ông bị từ chối vì lý do tuổi tác và bệnh tim nhẹ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Trong lúc chờ nhập ngũ, Ravel đã sáng tác Trois Chansons, đây là tác phẩm duy nhất của ông viết cho hợp xướng a cappella trong đó ông sử dụng chính lời thơ của mình theo truyền thống các bài chanson Pháp thế kỷ 16. Ravel đề tặng ba ca khúc này cho những người mà ông hy vọng có thể giúp ông nhập ngũ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Sau nhiều nỗ lực không thành, Ravel đã được nhập ngũ vào tháng 3 năm 1915 ở độ tuổi 40; ông làm tài xế xe tải trong Trung đoàn Pháo binh số 13.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Stravinsky bày tỏ sự khâm phục trước lòng dũng của người bạn mình: "với tuổi tác và vị thế của bản thân, Ravel hoàn toàn có thể chọn một vị trí nhẹ nhàng hơn hoặc thậm chí không cần tham gia gì cả".[33] Một số nhiệm vụ của Ravel đã đe dọa đến tính mạng của ông, như việc lái xe chở đạn dược vào ban đêm dưới làn pháo kích dữ dội của quân Đức. Cùng lúc đó, sự thanh thản của ông bị xáo trộn bởi tình trạng sức khỏe ngày càng sa sút của mẹ. Bản thân Ravel cũng suy kiệt; ông bị mất ngủ và gặp các vấn đề về tiêu hóa; ông cũng phải trải qua một cuộc phẫu thuật ruột sau khi mắc bệnh lỵ amip vào tháng 9 năm 1916 và bị tê cóng ở chân vào mùa đông năm sau.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Trong thời chiến, Saint-Saëns, Dubois, d'Indy và nhiều người khác thành lập Ligue Nationale pour la Defense de la Musique Française (tạm dịch: Liên đoàn Quốc gia Bảo vệ Âm nhạc Pháp), một tổ chức có vai trò vận động để ngăn cấm biểu diễn âm nhạc Đức đương đại.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel từ chối tham gia và nói với ủy ban của liên đoàn vào năm 1916 rằng "sẽ thật nguy hiểm nếu các nhà soạn nhạc người Pháp phớt lờ tác phẩm của các đồng nghiệp nước ngoài một cách có hệ thống và do đó tự hình thành một nhóm quốc gia: nghệ thuật âm nhạc của chúng ta, vốn rất phong phú vào thời điểm hiện tại, sẽ sớm suy thoái và bị cô lập trong những công thức tầm thường."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Liên đoàn đáp trả bằng việc cấm biểu diễn các tác phẩm của Ravel trong các buổi hòa nhạc của họ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Tháng 1 năm 1917, việc chứng kiến người mẹ qua đời đã khiến Ravel rơi vào trạng thái "tuyệt vọng khủng khiếp", đè nặng lên nỗi đau trước cảnh khổ mà người dân đất nước ông phải chịu trong chiến tranh.[34] Trong thời chiến ông không viết nhiều tác phẩm. Ông gần như đã hoàn thành bản Tam tấu dương cầm trước khi chiến tranh nổ ra, tác phẩm quan trọng nhất trong thời chiến của ông là tổ khúc Le tombeau de Couperin, được sáng tác từ năm 1914 đến 1917. Bộ tổ khúc này tôn vinh truyền thống của nhà soạn nhạc người Pháp thế kỷ 18 François Couperin, với mỗi chương được Ravel đề tặng cho những người bạn đã qua đời trong chiến tranh.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Thập niên 1920

Sau thời chiến, những người thân cận với Ravel nhận ra rằng ông đã mất đi phần lớn sức bền thể chất và tinh thần. Theo lời của nhà âm nhạc học Stephen Zank, "sự cân bằng cảm xúc của Ravel, vốn rất khó khăn mới đạt được trong thập kỷ trước, đã bị tổn hại nghiêm trọng."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vốn dĩ sáng tác không nhiều, giờ ông càng sáng tác ít hơn.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Mặc dù vậy, sau khi Debussy qua đời vào năm 1918, Ravel thường được nhìn nhận, cả trong và ngoài Pháp, là nhà soạn nhạc hàng đầu của nền âm nhạc Pháp đương thời .[35] Fauré đã viết cho ông, "Tôi hạnh phúc hơn cậu nghĩ về vị thế vững chắc mà cậu đang nắm giữ và đạt được một cách xuất sắc và nhanh chóng như vậy. Đó là niềm vui và niềm tự hào cho vị giáo sư già của cậu."[35] Ravel được trao Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh vào năm 1920.Bản mẫu:Refn Mặc dù từ chối huân chương nhưng ông vẫn được thế hệ nhà soạn nhạc mới, tiêu biểu là Les Six (Tạm dịch: Nhóm Sáu) – những người được Erik Satie đỡ đầu – xem là một nhân vật của giới cầm quyền. Satie đã quay lưng lại với ông và bình luận rằng "Ravel từ chối Huân chương Bắc đẩu Bội tinh nhưng tất cả âm nhạc của ông đều chấp nhận nó".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Bất chấp sự công kích, Ravel vẫn tiếp tục ngưỡng mộ âm nhạc thời kỳ đầu của Satie và luôn thừa nhận ảnh hưởng của ông đối với sự phát triển của bản thân.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel có cái nhìn nhân từ về Les Six, đồng thời quảng bá âm nhạc của họ và bảo vệ nó trước sự công kích đến từ báo chí. Ravel xem phản ứng của họ đối với các tác phẩm của ông là điều tự nhiên và tốt hơn việc họ sao chép phong cách của mình.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Thông qua Société Musicale Indépendente, ông đã động viên họ và các nhà soạn nhạc từ các nước khác. Tổ chức đã cho trình diễn các tác phẩm mới của các nhà soạn nhạc người Mỹ là Aaron Copland, Virgil ThomsonGeorge Antheil cùng với các nhà soạn nhạc người Anh là Vaughan Williams, Arnold BaxCyril Scott.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

exterior shot of small 19th-century French country house
Le Belvédère tại Montfort-l'Amaury, nơi Ravel sinh sống từ 1921 cho đến khi ông qua đời.

Orenstein và Zank đều cho rằng mặc dù sau chiến tranh Ravel sáng tác không nhiều, trung bình mỗi năm một tác phẩm, nhưng đó lại là giai đoạn ông cho ra đời những tác phẩm xuất sắc nhất của mình.[36] Năm 1920, ông hoàn thành La valse theo đơn đặt hàng từ Diaghilev. Ông đã làm việc với tác phẩm này một cách ngắt quãng suốt vài năm, dự định biến nó thành một bản hòa nhạc, "một kiểu tán dương cao độ điệu valse kiểu Viên, pha trộn với, theo tôi hình dung, ấn tượng về một vòng xoay kỳ ảo và định mệnh."[37] Tác phẩm bị Diaghilev từ chối; ông nói rằng "Đây là kiệt tác nhưng không phải ba lê. Đó là bức họa mô tả lại một vở ba lê."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel, sau khi nghe quyết định của Diaghilev mà không phản đối hay tranh cãi, đã rời đi và từ đó không còn làm việc với ông.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Nichols bình luận rằng Ravel đã được thỏa lòng khi thấy vở ba lê được các nhà tổ chức khác dàn dựng hai lần trước khi Diaghilev qua đời.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một vở ba lê sử dụng bản phối khí giao hưởng của Le tombeau de Couperin đã được trình diễn tại Nhà hát Théâtre des Champs-Elysées vào tháng 11 năm 1920, theo sau là buổi ra mắt tác phẩm La valse vào tháng 12.[38] Một năm sau, vở Daphnis et ChloéL'heure espagnole được tái dựng thành công tại Nhà hát Opera Paris.[38]

Thời hậu chiến đã chứng kiến sự phản đối các tác phẩm quy mô lớn của các nhà soạn nhạc như Gustav MahlerRichard Strauss.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Stravinsky, tác giả của vở ba lê Nghi lễ mùa xuân cho dàn nhạc quy mô lớn, bắt đầu chuyển sang sáng tác ở quy mô nhỏ hơn nhiều. Vở ba lê năm 1923 Les noces được viết cho giọng hát và 21 nhạc cụ.[39] Mặc dù Ravel không thích tác phẩm này (ý kiến của ông đã khiến tình bạn giữa ông và Stravinsky trở nên lạnh nhạt),[40] nhưng ông đồng cảm với xu hướng “dépouillement” – tức là “lột bỏ” sự phô trương xa hoa trước chiến tranh để thể hiện những yếu tố cốt lõi.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhiều tác phẩm của Ravel trong thập niên 1920 có kết cấu âm nhạc rõ ràng thưa thớt hơn so với các sáng tác trước đó.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Trong giai đoạn này, ông cũng chịu ảnh hưởng từ nhạc jazz và phong cách vô điệu tính. Nhạc jazz rất phổ biến tại các quán cà phê ở Paris và một số nhà soạn nhạc Pháp như Darius Milhaud đã kết hợp những yếu tố của jazz vào tác phẩm của mình.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel bình luận rằng ông thích jazz hơn nhạc kịch nghiêm túc;Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. ảnh hưởng của jazz có thể được nghe thấy trong những sáng tác về sau của ông.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Việc Arnold Schönberg từ bỏ hệ thống điệu tính truyền thống cũng để lại dấu ấn trong một số tác phẩm của Ravel, chẳng hạn như trong Chansons madécassesBản mẫu:Refn (1926), mà Ravel cho rằng ông sẽ không thể hoàn thành nếu không có tác phẩm Pierrot Lunaire để làm mẫu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Các tác phẩm lớn khác của ông trong thập niên 1920 bao gồm bản phối khí tổ khúc Pictures at an Exhibition của Mussorgsky cho dàn nhạc (1922), vở opera L'enfant et les sortilègesBản mẫu:Refn với lời kịch của Colette (1926), Tzigane (1924) và bản Sonata cho vĩ cầm số 2 (1927).[38]

Cảm thấy mệt mỏi trước cuộc sống thành thị, Ravel chuyển về cư trú tại nông thôn.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vào tháng 5 năm 1921, ông chuyển đến sống ở Le Belvédère, một ngôi nhà nhỏ nằm ở rìa thị trấn Montfort-l'Amaury, cách Paris Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. về phía Tây và nằm ở tỉnh Seine-et-Oise. Ravel được bà quản gia Mme Revelot tận tâm chăm sóc và ông sống ở đây cho đến cuối đời.[41] Tại Le Belvédère, Ravel dành thời gian sáng tác và làm vườn khi không biểu diễn ở Paris hoặc nước ngoài.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Lịch trình lưu diễn của ông tăng lên đáng kể trong những năm 1920, với các buổi hòa nhạc ở Anh, Thụy Điển, Đan Mạch, Hoa Kỳ, Canada, Tây Ban Nha, Áo và Ý.[38]

Trang Bản mẫu:Quote box/styles.css không có nội dung.
Ravel bị lôi cuốn bởi nhịp sống sôi động của nước Mỹ, những thành phố rộng lớn, các tòa nhà chọc trời và công nghệ tiên tiến. Ông đặc biệt ấn tượng với nhạc jazz, các bài thánh ca của người da đen, cũng như trình độ xuất sắc của các dàn nhạc Mỹ. Nhưng ẩm thực Mỹ thì dường như lại là một chuyện khác.

Arbie Orenstein[42]

Sau hai tháng lên kế hoạch, Ravel đã có một chuyến lưu diễn kéo dài bốn tháng ở Bắc Mỹ vào năm 1928, nơi ông biểu diễn và chỉ huy dàn nhạc. Ông được đảm bảo khoản phí tối thiểu $10,000 và nguồn cung thuốc lá Gauloises dồi dào.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông đã ra mắt cùng với hầu hết các dàn nhạc hàng đầu ở Canada và Hoa Kỳ và đã đến thăm 25 thành phố.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Khán giả đã rất nhiệt tình và ông được các nhà phê bình khen ngợi.Bản mẫu:Refn Trong một chương trình toàn tác phẩm của Ravel do Serge Koussevitzky chỉ huy tại New York, toàn bộ khán giả đã đứng dậy vỗ tay khi nhà soạn nhạc ngồi vào chỗ của mình. Ravel, xúc động trước cử chỉ tự phát này, nhận xét rằng "điều này không xảy ra với tôi ở Paris."[42] Orenstein, bình luận rằng chuyến lưu diễn này đánh dấu đỉnh cao danh tiếng quốc tế của Ravel, liệt kê những điểm nổi bật không liên quan đến âm nhạc của chuyến lưu diễn là chuyến thăm nhà Poe ở New York và các chuyến đi đến Thác NiagaraGrand Canyon.[42] Ravel không hề nao núng trước sự nổi tiếng quốc tế mới của mình. Ông bình luận rằng sự nhiệt tình gần đây của các nhà phê bình không quan trọng hơn những đánh giá trước đây của họ, khi họ gọi ông là "ví dụ hoàn hảo nhất về sự vô cảm và thiếu cảm xúc".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Tác phẩm cuối cùng mà Ravel hoàn thành vào thập niên 1920, Boléro, trở thành nhạc phẩm nổi tiếng nhất của ông. Ông nhận được đơn đặt hàng viết nhạc cho đoàn ba lê của Ida Rubinstein, và khi không thể xin được quyền phối khí tác phẩm Iberia của Albéniz, ông quyết định thực hiện "một thử nghiệm theo một hướng rất đặc biệt và giới hạn... một tác phẩm dài 17 phút, hoàn toàn cấu thành từ kết cấu dàn nhạc mà không có âm nhạc.”[43] Ravel nói thêm rằng tác phẩm này là "một đoạn crescendo kéo dài và rất từ từ. Tác phẩm không có sự tương phản và hầu như không có sự sáng tạo nào ngoài bố cục và cách thực hiện. Các chủ đề của tác phẩm hoàn toàn phi cá nhân.”[43] Ông rất ngạc nhiên và không hoàn toàn hài lòng khi nhạc phẩm này trở thành một thành công đại chúng. Khi một khán giả lớn tuổi tại Nhà hát Opéra Garnier hét lên "vớ vẩn" tại buổi ra mắt, Ravel thản nhiên nhận xét: "Bà cụ đó hiểu đúng thông điệp rồi đấy!".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tác phẩm được nhạc trưởng Arturo Toscanini phổ biến và đã được ghi âm vài trăm lần.[44]Bản mẫu:Refn Ravel bình luận với thành viên Arthur Honegger của Les Six rằng "Tôi chỉ viết một kiệt tác là Boléro nhưng đáng tiếc là trong đấy chẳng có tí âm nhạc nào."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Những năm cuối đời

Trong những năm đầu thập niên 1930, Ravel đang cùng lúc soạn hai bản concerto cho dương cầm. Trong đó, ông hoàn thành bản Concerto cho dương cầm tay trái cung Rê trưởng trước tiên. Bản concerto này được viết theo đơn đặt hàng của nghệ sĩ piano người Áo Paul Wittgenstein, người đã mất cánh tay phải trong Thế chiến thứ nhất. Ravel đã bị cuốn hút bởi những thách thức kỹ thuật mà dự án này đặt ra: "Đối với một tác phẩm như vậy, điều cốt yếu là phải tạo ra cảm giác về kết cấu âm nhạc không hề mỏng hơn so với khi viết cho cả hai tay."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Vì không đủ thành thạo để biểu diễn chỉ bằng tay trái nên Ravel đã trình bày bản concerto này bằng cả hai tay.Bản mẫu:Refn Ban đầu Wittgenstein tỏ ra thất vọng với tác phẩm, nhưng sau một thời gian dài tìm hiểu, ông cảm thấy ấn tượng và xem đây là một kiệt tác.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Wittgenstein cho ra mắt tác phẩm ở Viên vào tháng 1 năm 1932 và ngay lập tức nhận được sự hoan nghênh; rồi sau đó biểu diễn tác phẩm ở Paris với chính Ravel làm nhạc trưởng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhà phê bình Henry Prunières đã viết: "Từ những ô nhịp đầu tiên, ta đã được dẫn dắt vào một thế giới mà trước đó Ravel rất hiếm khi để chúng ta bước vào."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Ravel hoàn thành bản Concerto cho dương cầm cung Sol trưởng một năm sau đó. Sau buổi ra mắt vào tháng 1 năm 1932, tác phẩm và màn biểu diễn của nghệ sĩ độc tấu Marguerite Long (người được đề tặng) đã nhận được nhiều lời khen ngợi, song phần chỉ huy của ông thì không được đánh giá cao.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Long đã biểu diễn bản concerto tại hơn 20 thành phố khắp Châu Âu, với Ravel làm nhạc trưởng;Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. họ định thu âm tác phẩm cùng nhau, nhưng trong quá trình thu âm, Ravel chỉ còn giám sát các buổi biểu diễn và để Pedro de Freitas Branco làm nhạc trưởng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Trang Bản mẫu:Quote box/styles.css không có nội dung.
Những năm cuối đời của ông thật tàn khốc bởi trí nhớ và khả năng phối hợp vận động đang dần suy giảm – và ông dĩ nhiên hoàn toàn ý thức được điều đó.

Igor Stravinsky[45]

Vào tháng 10 năm 1932, Ravel bị chấn thương đầu trong một vụ tai nạn taxi. Vết thương lúc đó không được xem là nghiêm trọng, nhưng trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí British Medical Journal năm 1988, bác sĩ thần kinh R. A. Henson kết luận rằng chấn thương này có thể đã làm trầm trọng thêm một căn bệnh não trước đây.[46] Từ năm 1927, những người thân cận đã bắt đầu lo ngại về sự đãng trí ngày càng rõ rệt của Ravel, và chỉ trong vòng một năm sau tai nạn, ông bắt đầu cho thấy các biểu hiện của chứng vong ngôn.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Trước khi xảy ra vụ tai nạn, Ravel đã bắt đầu soạn nhạc cho bộ phim Don Quixote (1933) nhưng ông không thể hoàn thành đúng tiến độ, và phần lớn phần nhạc được giao cho Jacques Ibert viết.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel hoàn thành ba bài hát cho baritone và dàn nhạc, vốn được viết cho bộ phim này; chúng được xuất bản với tên Don Quichotte à Dulcinée. Tổng phổ cho dàn nhạc do Ravel giữ, nhưng Lucien Garban và Manuel Rosenthal đã giúp ông chép lại. Sau đó Ravel không còn sáng tác thêm bất kỳ tác phẩm nào.[46] Thực hư căn bệnh của Ravel vẫn chưa được biết. Các chuyên gia đã loại trừ khả năng xuất hiện khối u, và đã đưa ra các chẩn đoán có thể như sa sút trí tuệ thùy trán–thái dương, bệnh Alzheimerbệnh Creutzfeldt–Jakob.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Mặc dù không còn khả năng soạn nhạc hay biểu diễn, nhưng Ravel vẫn duy trì các hoạt động thể chất và xã giao cho đến những tháng cuối đời.[46]

Năm 1937, Ravel phải hứng chịu những cơn đau từ căn bệnh của mình và được Clovis Vincent, một bác sĩ phẫu thuật thần kinh nổi tiếng ở Paris, thăm khám. Vincent khuyên nên can thiệp phẫu thuật. Ông cho rằng khả năng có khối u là rất thấp và dự đoán sẽ tìm thấy tình trạng giãn não thất do não úng thủy – điều mà phẫu thuật có thể giúp ngăn chặn tiến triển. Em trai của Ravel, Edouard, đã đồng ý làm theo lời khuyên này; như Henson nhận xét, bản thân bệnh nhân lúc đó không còn đủ tỉnh táo để tự đưa ra quyết định. Sau ca phẫu thuật, tình trạng của ông dường như có dấu hiệu cải thiện, nhưng chẳng bao lâu sau, ông rơi vào trạng thái hôn mê. Ravel qua đời vào ngày 28 tháng 12, hưởng thọ 62 tuổi.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Mộ của Ravel.

Ngày 30 tháng 12 năm 1937, Ravel được mai táng bên cạnh cha mẹ mình trong một ngôi mộ bằng đá granit tại Nghĩa trang Levallois-Perret, nằm ở phía tây bắc Paris. Ông là người vô thần và không có nghi lễ tôn giáo nào được tổ chức cho đám tang của ông.[47]

Âm nhạc

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”. Theo Marcel Marnat, danh mục đầy đủ các tác phẩm của Ravel bao gồm 85 nhạc phẩm, trong đó nhiều bản nhạc chưa được hoàn thành hoặc bị bỏ dở.[48] Mặc dù con số này tương đối khiêm tốn nếu so với khối lượng sáng tác của các nhà soạn nhạc lớn đương thời,Bản mẫu:Refn nhưng nó vẫn bị thổi phồng do Ravel thường xuyên có thói quen viết một tác phẩm cho piano trước, rồi chuyển thể chúng lại thành bản độc lập dành cho dàn nhạc.[21] Khoảng 60 tác phẩm của Ravel có thể biểu diễn được, trong đó hơn một nửa là cho nhạc cụ. Âm nhạc của Ravel bao gồm các tác phẩm cho dương cầm, nhạc thính phòng, hai bản hòa tấu dương cầm, nhạc ballet, opera và các liên ca khúc. Ông không viết bất kỳ bản giao hưởng hay tác phẩm nhà thờ nào.[48]

Ravel chịu ảnh hưởng từ nhiều thế hệ nhà soạn nhạc Pháp, từ Couperin và Rameau cho đến Fauré và những đổi mới của Satie và Debussy. Ảnh hưởng nước ngoài bao gồm Mozart, Schubert, Liszt và Chopin.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông tự nhìn nhận mình theo nhiều cách là một người theo trường phái cổ điển, thường sử dụng các cấu trúc và hình thức truyền thống như hình thức ba đoạn để thể hiện những ý tưởng giai điệu, tiết tấu mới và hòa âm sáng tạo của mình.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ảnh hưởng của nhạc jazz trong các tác phẩm sau này của ông có thể được nghe thấy trong các khuôn khổ cổ điển quen thuộc, như trong bản Concerto cho dương cầmSonata cho vĩ cầm.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Trang Bản mẫu:Quote box/styles.css không có nội dung.
Cậu tô điểm quanh giai điệu như thế nào thì tùy cậu. Điều quan trọng là dòng giai điệu.

Ravel nói với Vaughan Williams[49]

Ravel là người xem trọng giai điệu; ông nói với Vaughan Williams rằng "trong tất cả các bản nhạc quan trọng đều có một dòng giai điệu ngụ ý".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Các chủ đề của ông thường mang tính điệu thức và ông tránh các âm giai trưởng hoặc thứ quen thuộc.[50] Các hợp âm quãng chín và quãng mười một và các âm dựa chưa giải quyết, chẳng hạn như trong Valses nobles et sentimentales là phong cách hòa âm đặc trưng của Ravel.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Ravel say mê nhiều loại điệu nhảy khác nhau như minuet, forlane, rigaudon, waltz, csárdás, habanerapassacaglia, nhất là điệu boleropavane. Ý thức dân tộc và vùng miền quan trọng đối với ông, và mặc dù một bản concerto mà ông dự định viết theo chủ đề Basque chưa bao giờ thành hiện thực, nhưng ông đã viết các tác phẩm gợi nhắc đến chủ đề Do Thái, Hy Lạp, Hungary và về người Digan.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel viết một vài tác phẩm ngắn nhằm tri ân các nhà soạn nhạc ông ngưỡng mộ như Borodin, Chabrier, Fauré và Haydn. Ông diễn giải phong cách của họ trong các nhạc phẩm này theo lối viết đậm chất Ravel.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel cho biết ông học từ Poe rằng “nghệ thuật chân chính là sự cân bằng hoàn hảo giữa lý trí thuần túy và cảm xúc,”Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. và theo đó, một tác phẩm âm nhạc phải là một chính thể cân đối, không để bất kỳ yếu tố thừa nào xen vào.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Opera

pencil sketches of characters in comic opera, head and shoulders only
Phác thảo dàn diễn viên cho buổi ra mắt L'heure espagnole năm 1911 của Bản mẫu:Ill.

Ravel hoàn thành hai vở opera và từng bắt tay vào ba dự án khác nhưng chưa bao giờ hoàn thiện. Ba tác phẩm chưa thành hình đó là Olympia, La cloche engloutieJeanne d'Arc. Vở Olympia, dựa trên câu chuyện "The Sandman" của Hoffmann, được ông phác thảo trong giai đoạn 1898–1899 nhưng không tiến triển nhiều. La cloche engloutie, dựa trên câu chuyện The Sunken Bell của Hauptmann đã chiếm nhiều thời gian của Ravel từ khoảng năm 1906 đến 1912. Ravel tiêu hủy bản nháp của cả hai tác phẩm, ngoại trừ vở "Symphonie horlogère" mà ông phối hợp vào phần mở đầu của L'heure espagnole.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Dự án chưa hoàn thiện thứ ba là một phiên bản opera của tiểu thuyết năm 1925 về Jeanne d'Arc do Joseph Delteil viết. Tác phẩm dự kiến sẽ trở thành một vở opera đầy đủ với quy mô lớn dành cho nhà hát Paris Opéra, nhưng căn bệnh cuối đời của Ravel đã khiến ông không thể hoàn thiện tác phẩm.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Vở opera đầu tiên mà Ravel đã hoàn thành là một bản nhạc kịch mang tên L'heure espagnole (ra mắt năm 1911).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đây là một trong những tác phẩm lấy bối cảnh hoặc miêu tả Tây Ban Nha mà Ravel đã viết trong sự nghiệp của mình. Nichols bình luận rằng Sắc thái Tây Ban Nha đặc trưng trong tác phẩm đã tạo cho Ravel cơ hội để phô diễn tài nghệ phối khí điêu luyện của mình với dàn nhạc hiện đại – một công cụ mà ông cho là "được thiết kế hoàn hảo để nhấn mạnh và cường điệu hóa các hiệu ứng hài kịch."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Edward Burlingame Hill đánh giá cao khả năng viết tuyến giọng của Ravel trong tác phẩm này khi ông "cho các ca sĩ một thứ hơn cả lối hát nói đơn thuần mà không cản trở diễn tiến của vở kịch," đồng thời “sử dụng dàn nhạc để bình luận âm nhạc về các tình huống kịch tính và cảm xúc của nhân vật mà không khiến khán giả sao lãng khỏi sân khấu.”Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một số người thì thấy rằng các nhân vật mang tính giả tạo còn tác phẩm thì thiếu chiều sâu nhân bản.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhà phê bình David Murray viết rằng tổng phổ "tỏa sáng với sự dịu dàng nổi tiếng của Ravel."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Vở opera thứ hai, cũng chỉ với một màn, là L'enfant et les sortilèges (1926), một bản "fantasie trữ tình" với lời kịch được viết bởi Colette. Cô và Ravel dự định sáng tác một vở ba lê, nhưng Colette đã biến tác phẩm thành một opera libretto theo đề xuất của Ravel. Tác phẩm mang phong cách âm nhạc hiện đại hơn rất nhiều so với L'heure espagnole, với các yếu tố jazz và nhị âm thể xuất hiện dày đặc trong nhạc phẩm đã khiến khán giả đi xem opera của Paris khó chịu. Ravel một lần nữa bị chỉ trích là giả tạo và thiếu chiều sâu cảm xúc, nhưng Nichols thì tìm thấy "một cảm xúc nghiêm túc sâu sắc nằm ở trung tâm của tác phẩm sinh động và lôi cuốn này."[51] Tổng phổ cho thấy sự đơn giản, nhưng lại ẩn chứa những mối liên kết tinh vi giữa các chủ đề, với thứ mà Murray gọi là “những âm thanh kỳ lạ và mê hoặc phát ra từ dàn nhạc suốt toàn bộ vở diễn.”Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Mặc dù các vở opera một màn thường ít được dàn dựng hơn so với các vở opera dài với nhiều màn,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. nhưng các vở opera như vậy của Ravel thì lại được dàn dựng thường xuyên ở trong và ngoài Pháp.[52]

Tác phẩm thanh nhạc khác

Ravel đã soạn một lượng lớn tác phẩm dành cho thanh nhạc. Các tác phẩm thanh nhạc thời kỳ đầu của ông gồm các bản cantata được viết cho các lần tranh giải Khôi nguyên La Mã bất thành. Các tác phẩm thanh nhạc khác trong thời kỳ này thể hiện ảnh hưởng của Debussy, được Kelly mô tả là “lối hát nói vừa cân bằng vừa ổn định,” kèm theo phần đệm dương cầm nổi bật và nhịp điệu linh hoạt.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đến năm 1906, Ravel còn đẩy xa hơn cả Debussy trong việc xử lý tiếng Pháp một cách tự nhiên, đôi khi mang tính khẩu ngữ, như trong Histoires naturelles. Cách tiếp cận tương tự cũng được nhấn mạnh trong Trois poèmes de Mallarmé (1913); Debussy cũng viết hai trong ba bài thơ này trong cùng thời điểm với Ravel, nhưng Debussy có cách đặt lời trang trọng hơn trong khi Ravel thường lược âm tiết. Trong các liên ca khúc ShéhérazadeChansons madécasses, Ravel thể hiện rõ sở thích với những gì ngoại lai, thậm chí mang tính gợi cảm, cả trong tuyến giai điệu thanh nhạc lẫn phần đệm.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Các ca khúc của Ravel thường mang phong cách bình dân, kết hợp các yếu tố từ nhiều truyền thống dân gian, như trong Cinq mélodies populaires grecques, Deux mélodies hébraïquesChants populaires.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông phổ nhạc cho lời thơ của nhiều thi sĩ như Marot, Léon-Paul Fargue, Leconte de Lisle và Verlaine. Ông tự viết phần lời cho 3 ca khúc sáng tác từ năm 1914 đến 1915.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Mặc dù Ravel có viết cho hợp xướng hỗn hợp và giọng nam đơn ca, trong các ca khúc ông chủ yếu gắn liền với giọng nữ cao và nữ trung. Ngay cả khi phổ lời thơ rõ ràng là do nhân vật nam kể lại, ông thường ưu ái lựa chọn giọng nữ,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. và dường như ông muốn liên ca khúc Shéhérazade nổi tiếng được trình bày bởi giọng nữ, mặc dù bản tổng phổ cho phép dùng giọng nam cao để thay thế.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Tác phẩm cho dàn nhạc

Trong suốt cuộc đời của mình, Ravel nổi tiếng trên hết với tư cách là bậc thầy về phối khí.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ông nghiên cứu tỉ mỉ về khả năng của các nhạc cụ giao hưởng khác nhau để xác định tiềm năng của chúng và vận dụng tối đa màu âm và âm sắc riêng của nhạc cụ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhà phê bình Alexis Roland-Manuel viết rằng "Trên thực tế, cùng với Stravinsky, Ravel là người duy nhất trên thế giới hiểu rõ nhất về sức nặng của một nốt trên kèn trombone, âm bội của một 'cello hoặc tiếng cồng nhỏ vừa (pp) trong mối quan hệ của một nhóm nhạc giao hưởng với một nhóm khác."[53]

cảnh sân khấu trông mộc mạc mô tả một túp lều cổ
Bối cảnh gốc của Daphnis et Chloé do Léon Bakst phục dựng năm 1912.

Mặc dù là bậc thầy phối khí, nhưng ông chỉ cho ra đời bốn tác phẩm hòa nhạc dành cho dàn nhạc giao hưởng là Rapsodie espagnole, La valse và hai bản concerto. Các tác phẩm cho dàn nhạc khác thì được viết cho sân khấu, như Daphnis et Chloé, hoặc là bản chuyển soạn từ các tác phẩm dương cầm, như Alborada del graciosoUne barque sur l'ocean (Miroirs), Valses nobles et sentimentales, Ma mère l'Oye, Tzigane (ban đầu cho vĩ cầm và dương cầm) và Le tombeau de Couperin.[54] Trong các phiên bản dành cho dàn nhạc, cách phối nhạc thường làm rõ ngôn ngữ hòa âm của tác phẩm và nhấn mạnh sự sắc nét của những nhịp điệu vũ khúc cổ điển.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhưng trong một số trường hợp – như trong Alborada del gracioso – các nhà phê bình cho rằng phiên bản phối khí về sau không thuyết phục bằng bản độc tấu dương cầm sắc bén.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Trong một số tổng phổ từ thập niên 1920, bao gồm Daphnis et Chloé, Ravel thường chia bè dây cao thành sáu đến tám phần riêng biệt, trong khi các nhạc cụ gỗ được yêu cầu phải biểu diễn một cách cực kỳ linh hoạt. Ông viết cho bộ kèn đồng với độ tương phản lớn, từ những đoạn êm dịu cho đến các cao trào dùng cường độ cực mạnh.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Bước sang thập niên 1930, Ravel có xu hướng giản lược kết cấu phối khí của mình. Trong thập niên 1930 ông thường đơn giản hóa các cấu trúc hòa nhạc. Âm hưởng nhẹ nhàng trong bản Concerto cho dương cầm cung Sol trưởng theo khuôn mẫu của Mozart và Saint-Saëns, đồng thời lồng ghép nhiều yếu tố mang âm hưởng jazz.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Hai nhà phê bình Edward Sackville-West và Desmond Shawe-Taylor nhận xét rằng trong chương chậm của bản concerto – “một trong những giai điệu đẹp nhất mà Ravel từng viết” – ông “thực sự có thể được xem như đã bắt tay với Mozart.”Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tác phẩm giao hưởng nổi tiếng nhất của Ravel, Boléro (1928), đã được ông hình thành ý tưởng từ nhiều năm trước khi được hoàn thành; vào năm 1924, ông cho biết mình đang ấp ủ “một khúc thơ giao hưởng không có chủ đề, trong đó toàn bộ sức hút sẽ nằm ở nhịp điệu.”Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Một số tác phẩm dương cầm của Schumann, Chabrier và Debussy, cùng tổ khúc Pictures at an Exhibition của Mussorgsky đã được Ravel chuyển soạn thành nhạc giao hưởng. Các bản phối dàn nhạc của tổ khúc trên đã được Mikhail Tushmalov, Sir Henry WoodLeo Funtek thực hiện trước bản phối năm 1922 của Ravel; nhiều bản phối nhạc khác của tổ khúc cũng đã ra đời sau này, nhưng phiên bản của Ravel vẫn phổ biến nhất.[55] Kelly nhận xét rằng bản phối này mang “một bảng màu âm rực rỡ đến choáng ngợp”,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. còn một nhà phê bình đương thời thì bình luận rằng khi xử lý âm nhạc của một nhà soạn nhạc khác, Ravel đã tạo nên một âm thanh dàn nhạc hoàn toàn khác xa phong cách của ông.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Nhạc dương cầm

Mặc dù Ravel viết chưa đến 30 tác phẩm cho dương cầm, nhưng chúng thể hiện rõ sự đa dạng trong phong cách của ông; Orenstein nhận xét rằng nhà soạn nhạc luôn giữ được dấu ấn cá nhân của mình, "từ sự giản dị nổi bật trong Ma mère l’Oye cho đến kỹ thuật xuất chúng trong Gaspard de la nuit".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tác phẩm lớn đầu tiên dành cho dương cầm của Ravel, Jeux d'eau (1901), thường được dùng làm bằng chứng cho sự phát triển phong cách của ông mà không phụ thuộc vào Debussy (các tác phẩm dương cầm quan trọng của Debussy đều ra đời sau đó).[56] Khi soạn nhạc cho độc tấu dương cầm, Ravel hiếm khi hướng tới hiệu ứng thính phòng thân mật đặc trưng của Debussy, mà thay vào đó ông hướng tới sự xuất chúng theo phong cách của Liszt.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tác giả của cuốn The Record Guide nhìn nhận rằng các tác phẩm như Gaspard de la NuitMiroirs có vẻ đẹp và sự độc đáo với cảm hứng sâu sắc hơn, với nguồn gốc từ "thiên tài hòa âm và giai điệu của chính Ravel."Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Listen”. Hầu hết các tác phẩm dương cầm của Ravel đều rất khó biểu diễn, đòi hỏi nghệ sĩ phải cân bằng giữa kỹ thuật và biểu cảm nghệ thuật.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Refn Nhà phê bình Andrew Clark viết về các tác phẩm duơng cầm của Ravel vào năm 2013 rằng "Một màn trình diễn Ravel thành công là sự cân bằng chuẩn xác. Nó đòi hỏi cảm quan âm nhạc tinh tế, cảm nhận về màu sắc của cây đàn, và một kỹ thuật điêu luyện được thể hiện một cách nhẹ nhàng để sao cho che giấu những thách thức kỹ thuật đầy tinh vi mà ông đưa ra trong Alborada del gracioso ... và hai chương đầu và cuối của Gaspard de la nuit. Nhiều cảm xúc quá thì tác phẩm mất đi hình thức cổ điển; quá ít thì nghe lại nhạt nhòa."[57] Chính đòi hỏi về sự cân bằng này đã dẫn đến rạn nứt giữa Ravel và Ricardo Viñes; Viñes cho rằng nếu tuân thủ những sắc thái và tốc độ mà Ravel yêu cầu trong Gaspard de la nuit, thì chương "Le gibet" sẽ "khiến khán giả buồn ngủ đến chết".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một số nghệ sĩ dương cầm ngày nay vẫn bị chỉ trích vì đã diễn giải thái quá các tác phẩm dương cầm của Ravel.[58]Bản mẫu:Refn

Sự kính trọng của Ravel đối với các bậc tiền bối được thể hiện trong nhiều tác phẩm dương cầm của ông; các tác phẩm Menuet sur le nom de Haydn (1909), À la manière de Borodine (1912), À la manière de Chabrier (1913) và Le tombeau de Couperin đều kết hợp một số yếu tố của nhà soạn nhạc được đề cập và ông diễn giải chúng theo phong cách Ravel đặc trưng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Clark nhận xét rằng những tác phẩm dương mà sau này Ravel phối khí thường bị lu mờ bởi các phiên bản được dàn dựng lại: " Một khi lắng nghe Le tombeau de Couperin và toàn bộ phần nhạc ba lê của Ma mère l’Oye trong các bản thu kinh điển do André Cluytens chỉ huy, thì phiên bản dương cầm sẽ không còn vang lên theo cách cũ nữa.”[57]

Nhạc thính phòng

Ngoài bản Sonata cho vĩ cầm và dương cầm có niên đại từ năm 1899 nhưng không được xuất bản trong suốt cuộc đời của nhà soạn nhạc, Ravel đã viết 7 tác phẩm thính phòng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tác phẩm sớm nhất là bản Tứ tấu đàn dây (1902–03), được đề tặng Fauré, và cho thấy ảnh hưởng của bản tứ tấu đàn dây 10 năm trước của Debussy. Tương tự tác phẩm của Debussy, bản tứ tấu thể hiện sự khác biệt với phong cách đồ sộ của trường phái Pháp do Franck và những người theo ông đại diện, bằng việc sử dụng những giai điệu súc tích hơn, linh hoạt trong chuyển tiếp giữa các nhạc cụ, tiết tấu uyển chuyển và đa dạng về màu sắc âm thanh.[59] Bản Introduction et Allegro cho đàn hạc, flute, clarinet và tứ tấu dây (1905) được hoàn thành rất nhanh chóng theo tiêu chuẩn của Ravel. Tác phẩm này mang tính chất mộng ảo theo phong cách của Pavane pour une infante défunte.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ravel nhanh chóng soạn bản Tam tấu dương cầm (1914) nhằm hoàn thành trước khi gia nhập Lục quân Pháp. Tác phẩm này mang ảnh hưởng từ âm nhạc xứ Basque, Baroque và phương Đông, đồng thời thể hiện kỹ thuật ngày càng tinh luyện của Ravel trong việc xử lý sự tương phản giữa âm thanh gõ của dương cầm và âm thanh kéo dài của vĩ cầm và cello. Theo lời của nhà bình luận Keith Anderson, ông đã “kết hợp hai yếu tố khác biệt trong một ngôn ngữ âm nhạc không thể nhầm lẫn là của riêng mình.”Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Bốn tác phẩm thính phòng được Ravel viết sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất là bản Sonata cho vĩ cầm và cello (1920–22), bản "Berceuse sur le nom de Gabriel Fauré" cho vĩ cầm và dương cầm (1922), tác phẩm thính phòng gốc Tzigane vĩ cầm và dương cầm (1924) và bản Sonata cho vĩ cầm (1923–27).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tác phẩm thứ hai là một lời tri ân đầy trìu mến dành cho thầy của Ravel,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. còn tác phẩm thứ ba là một màn biểu diễn điêu luyện cho nghệ sĩ vĩ cầm Jelly d'Arányi.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Bản Sonata cho vĩ cầm và cello đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp của Ravel, khác biệt rõ rệt với kết cấu phong phú và hòa âm tinh tế trong bản Tam tấu dương cầm viết trước thời chiến: theo lời của chính nhà soạn nhạc, ông đã đẩy sự giản lược về kết cấu đến mức cực đoan và từ bỏ sự quyến rũ hòa âm để tập trung hoàn toàn vào giai điệu.[60] Tác phẩm thính phòng cuối cùng, bản Sonata cho vĩ cầm (đôi khi gọi là bản Sonata số 2 sau khi bản sonata thời học sinh của Ravel được xuất bản sau khi ông mất), là một sáng tác thường xuyên sử dụng các quãng nghịch tai. Ravel nói rằng vĩ cầm và dương cầm là hai nhạc cụ "về cơ bản không tương thích", và bản sonata này nhằm phơi bày sự không tương thích đó.[60] Sackville-West và Shawe-Taylor gọi các bản sonata thời hậu chiến là "khá gượng ép và không thỏa đáng";Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. cả hai bản sonata đều không nổi tiếng bằng các bản nhạc thình phòng trước thời chiến của Ravel.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Thu âm

Một số bản diễn tấu của Ravel đối với các tác phẩm dương cầm của ông đã được ghi lại qua piano roll (tạm dịch: cuộn băng điều khiển piano) trong khoảng thời gian từ năm 1914 đến 1928, mặc dù một số cuộn băng được cho là do ông chơi thực chất có thể là do Robert Casadesus – một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện hơn – biểu diễn dưới sự giám sát của ông.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Các bản thu âm dùng piano roll đã được phát hành dưới dạng đĩa CD.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Năm 1913 đã xuất hiện bản thu âm tác phẩm Jeux d'eau do Mark Hambourg thực hiện; đến đầu thập niên 1920 thì xuất hiện đĩa ghi của các tác phẩm như Pavane pour une infante défunte, Ondine, cùng với các chương trích từ Tứ tấu đàn dây, Le tombeau de CouperinMa mère l'Oye.[61] Ravel là một trong những nhà soạn nhạc đầu tiên nhận ra tiềm năng của ghi âm trong việc đưa âm nhạc của mình đến với công chúng.Bản mẫu:Refn Trong suốt thập niên 1920, nhiều bản thu các tác phẩm của ông đã được phát hành, một số thì có sự tham gia của chính Ravel với vai trò nghệ sĩ dương cầm hoặc là nhạc trưởng.[62] Một bản thu âm tác phẩm Concerto cho dương cầm cung Sol trưởng năm 1932 được quảng bá là “do nhà soạn nhac chỉ huy”,[63] nhưng thực chất ông chỉ giám sát các buổi thu âm, trong khi công việc chỉ huy được giao cho một nhạc trưởng có kỹ năng hơn.[64] Những bản thu mà Ravel thực sự chỉ huy bao gồm bản Boléro năm 1930 và một bộ phim có âm thanh ghi lại buổi biểu diễn bản concerto Rê trưởng năm 1933 với nghệ sĩ Wittgenstein làm nghệ sĩ độc tấu.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Vinh danh và di sản

Ravel không chỉ từ chối Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, mà ông còn từ chối mọi giải thưởng nhà nước từ Pháp; ông cũng không đưa tên của mình để ứng cử vào Institut de France.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Trái lại, ông chấp nhận các giải thưởng quốc tế, bao gồm hội viên danh dự của Royal Philharmonic Society vào năm 1921,[65] huân chương Ordre de Léopold của Bỉ vào năm 1926, và bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Oxford vào năm 1928.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Sau khi Ravel qua đời, em trai và người thừa kế Edouard đã chuyển đổi căn nhà của nhà soạn nhạc tại Montfort-l'Amaury thành một bảo tàng, giữ nguyên phần lớn ngôi nhà theo phong cách của Ravel. Tính đến năm 2023, bảo tàng Maurice Ravel vẫn mở cửa cho các chuyến tham quan cùng hướng dẫn viên.[66]

Trong những năm cuối đời, Edouard Ravel công khai ý định để lại phần lớn tài sản của nhà soạn nhạc cho thành phố Paris để tài trợ cho Giải thưởng Nobel về âm nhạc, nhưng về sau ông đã đổi ý.[67] Sau khi ông qua đời vào năm 1960, tài sản đã qua tay nhiều người. Mặc dù có khoản tiền bản quyền đáng kể được trả cho việc biểu diễn âm nhạc của Ravel, tạp chí tin tức Le Point đã đưa tin vào năm 2000 rằng không rõ ai là người thụ hưởng.[68] Tờ báo The Guardian đưa tin vào năm 2001 cho rằng không có khoản tiền bản quyền nào được chuyển đến để bảo trì bảo tàng Ravel tại Montfort-l'Amaury, nơi đang trong tình trạng hư hỏng.[67]

Satie, Stravinsky và một số nghệ sĩ khác đã viết nhiều tác phẩm để tưởng nhớ hoặc tôn vinh Ravel.Bản mẫu:Refn

Ghi chú

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

Tham khảo

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  2. ^ Bản mẫu:Harvnb
  3. ^ Bản mẫu:Harvnb
  4. ^ Bản mẫu:Harvnb
  5. ^ Bản mẫu:Harvnb
  6. ^ Bản mẫu:Multiref
  7. ^ a ă â b Bản mẫu:Harvnb
  8. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  9. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  10. ^ Bản mẫu:Harvnb
  11. ^ Bản mẫu:Multiref
  12. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Bản mẫu:Harvnb
  15. ^ Bản mẫu:Multiref
  16. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  17. ^ Bản mẫu:Harvnb
  18. ^ Bản mẫu:Multiref
  19. ^ Bản mẫu:Cite Grove(yêu cầu đăng ký)
  20. ^ Bản mẫu:Multiref
  21. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  22. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  23. ^ Bản mẫu:Multiref
  24. ^ Bản mẫu:Harvnb
  25. ^ Bản mẫu:Multiref
  26. ^ Bản mẫu:Multiref
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Bản mẫu:Harvnb
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Bản mẫu:Multiref
  32. ^ Bản mẫu:Multiref
  33. ^ Bản mẫu:Harvnb
  34. ^ Bản mẫu:Multiref
  35. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  36. ^ Bản mẫu:Multiref
  37. ^ Bản mẫu:Harvnb
  38. ^ a ă â b Bản mẫu:Harvnb
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “citation/CS1”.
  40. ^ Bản mẫu:Harvnb
  41. ^ Bản mẫu:Multiref
  42. ^ a ă â Bản mẫu:Harvnb
  43. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  44. ^ Bản mẫu:Multiref
  45. ^ Bản mẫu:Harvnb
  46. ^ a ă â Bản mẫu:Harvnb
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  48. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  49. ^ Bản mẫu:Harvnb
  50. ^ Bản mẫu:Multiref
  51. ^ Bản mẫu:Cite Grove
  52. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  53. ^ Bản mẫu:Harvnb
  54. ^ Bản mẫu:Multiref
  55. ^ Bản mẫu:Cite Grove
  56. ^ Bản mẫu:Multiref
  57. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  58. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  59. ^ Bản mẫu:Cite Grove
  60. ^ a ă Bản mẫu:Harvnb
  61. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  62. ^ Bản mẫu:Multiref
  63. ^ Quảng cáo của Columbia_Graphophone_Company, The Gramophone. Tập 10, tr. xv
  64. ^ Bản mẫu:Harvnb
  65. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  66. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  67. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  68. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Thư mục

Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Bản mẫu:Cite Grove
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Tổng phổ miễn phí

Khác

Học viện

Bản mẫu:Maurice Ravel Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”. Bản mẫu:Thanh cổng thông tin

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Category handler”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.