Bước tới nội dung

Mochida Kaori

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Mochida Kaori (持田香織? sinh ngày 24 tháng 3 năm 1978) là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát người Nhật Bản. Cô là đồng sáng lập và giọng ca chính của ban nhạc pop rock Every Little Thing - một trong những nghệ sĩ bán đĩa nhạc chạy nhất tại Nhật Bản.

Thân thế và sự nghiệp

Mochida sinh ra tại thị trấn Kameido, quận Kōtō, Tokyo.[1] Cô bắt đầu sự nghiệp với tư cách diễn viên nhí, xuất hiện trên các tạp chí và quảng cáo truyền hình. Sau đó, cô trở thành thành viên thế hệ thứ hai của nhóm nhạc thần tượng Kuro Buta All-Stars và bước chân vào làng giải trí với nghệ danh Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”. (Mochida Kaori, với Kaori viết bằng chữ hiragana).[2][3] Ít lâu sau, vào tháng 11 năm 1993, cô phát hành đĩa đơn solo đầu tay mang tên "Mō Ichido". Mãi cho đến khi lên trung học phổ thông, cô mới thực sự quyết định theo đuổi con đường ca hát chuyên nghiệp.[2]

với Every Little Thing

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Năm 1995, cô gặp Igarashi Mitsuru và ký hợp đồng với hãng Avex. Ban đầu, cô dự định ra mắt với tư cách ca sĩ solo, nhưng theo đề xuất của Max Matsuura, cô đã thành lập một nhóm song ca với Igarashi, rồi sau đó kết nạp thêm tay guitar Itō Ichirō thành nhóm ba thành viên.[4] Họ ra mắt vào năm 1996 với đĩa đơn "Feel My Heart".[5] Sau khi ra mắt cùng Every Little Thing, Mochida nhanh chóng trở thành một biểu tượng thời trang tại Nhật Bản[6] và bắt đầu xuất hiện trong các quảng cáo truyền hình cho nhiều sản phẩm làm đẹp đa dạng. Những mẩu quảng cáo cô đóng thường sử dụng chính các ca khúc của ban nhạc làm nhạc nền. Sau khi Igarashi Mitsuru rời Every Little Thing vào năm 2000, Mochida bắt đầu có nhiều đóng góp hơn vào quá trình sáng tạo của ban nhạc. Ca khúc đầu tiên cô viết lời cho Every Little Thing là "All Along" trích từ album Time to Destination và ca khúc đầu tiên cô sáng tác là "Jump", được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào năm 2001.[4]

Sự nghiệp solo

Cô không phát hành bất kỳ sản phẩm solo nào cho đến năm 2002, khi tham gia dự án từ thiện Song+Nation của Avex và thu âm ca khúc "In Case of Me", do Komuro Tetsuya sản xuất. Năm 2004, cô cho ra mắt "Itsunomanika Shōjo wa", một bản cover ca khúc của Inoue Yosui. Năm 2006, cô cùng Kobayashi Takeshi viết lời cho "Period" - đĩa đơn đầu tay của Ayase Haruka,[7] đồng thời tham gia dự án album của Yuichi Ohata. Năm 2007, cô viết "Sarai no Kaze" cho May cùng "Going Back Home" cho Nakashima Mika.[8] Cùng năm đó, Mochida cũng góp giọng trong ca khúc "Wipe Your Eyes" của Dragon Ash. Ngày 25 tháng 6 năm 2008, cô xuất hiện với tư cách diễn viên trong PV của ca khúc "Merry Life Goes Around" của ban nhạc Dreams Come True. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử làng nhạc Nhật Bản, một nghệ sĩ lại xuất hiện với vai trò nhân vật chính trong video clip của một nghệ sĩ khác.[9]

2009–2011: Moka, Niu

Năm 2009, sự nghiệp solo của Mochida chính thức khởi động và cô bắt tay thực hiện album solo đầu tay. Cô phát hành đĩa đơn solo chính thức đầu tiên - "Ame no Walts" vào ngày 28 tháng 1 năm 2009.[10] Ca khúc được ghi nhận là sản phẩm hợp tác giữa Mochida và Sakerock, một ban nhạc chơi nhạc khí người Nhật. Tháng 3, cô cùng Tajima Takao (Original Love) lập nên siêu nhóm nhạc mang tên Caocao và thu âm bản cover ca khúc "Kojin Jugyō" của Finger 5. Ca khúc đã được sử dụng làm nhạc chủ đề cho bộ phim điện ảnh Oppai Volleyball.[10] Tháng 7, cô phát hành đĩa đơn hai mặt A "Shizuka na Yoru / Weather", và một tháng sau, vào ngày 12 tháng 8, cô cho ra mắt album solo đầu tay mang tên Moka. Album có sự tham gia hợp tác của nhiều nghệ sĩ như Lisa Ono, Harada Ikuko, Ohata Yuichi, Bic Runga, ohashiTrio và Sean Lennon.[11] Album ra mắt ở vị trí thứ 9 trên bảng xếp hạng Oricon và gặt hái thành công khiêm tốn.

Vào ngày 25 tháng 8 năm 2009, album thứ hai của cô - Niu được phát hành.[11] Album này không có đĩa đơn thương mại nào ngoại trừ đĩa CD single ca khúc "Green", vốn được đính kèm trong một ấn bản đặc biệt của tạp chí thời trang Journal Standard. Để quảng bá cho album, cô đã thực hiện chuyến lưu diễn solo trong nước đầu tiên, diễn ra từ tháng 9 đến tháng 10.

2012–2019: Manu a Manu, Ten to Ten

Ngày 1 tháng 8 năm 2012, album solo thứ ba của cô - Manu a Manu được phát hành.[12] Ca khúc "Utsukushiki Uruwashiki Hibi" đã được sử dụng làm nhạc chủ đề cho bộ phim truyền hình Cleopatra na Onna-tachi của TV Tokyo. Năm 2019, Mochida phát hành mini album đầu tiên Ten to Ten nhân dịp kỷ niệm 10 năm hoạt động solo.[13][14]

2021–nay: Sen, qq

Ngày 23 tháng 6 năm 2021, Sen được phát hành với tư cách là EP thứ hai của Mochida.[15] Đĩa nhạc bao gồm ca khúc "Still Swimmy" (bài hát chủ đề cho bộ phim truyền hình năm 2019 The Man Who Still Can't Get Married) và "Jasmine" (bài hát được sử dụng trong các quảng cáo cho dòng sản phẩm chăm sóc da Menard Fairlucent).[16] Tiếp nối là qq, EP thứ ba phát hành vào ngày 16 tháng 5 năm 2025. Mochida được ghi nhận là người sáng tác và sản xuất cho cả năm ca khúc.[17] Khi miêu tả về ý tưởng chung cho album, nữ ca sĩ cho biết cô mong muốn tạo ra thứ âm nhạc "vừa hoài niệm vừa ấm áp", và kết nối những điều mà mình yêu thích lại với nhau.

Đời tư

Ngày 26 tháng 7 năm 2015, trên sân khấu của sự kiện "Tokai Summit" tổ chức tại Nagashima Spa Land, thành phố Kuwana, tỉnh Mie, Mochida thông báo đã đính hôn với một huấn luyện viên thể thao, là người ngoài giới giải trí.[18] Cô và chồng đã chính thức nộp đơn đăng ký kết hôn vào ngày 8 tháng 8.[19][20] Ngày 16 tháng 3 năm 2022, báo chí đưa tin cô đã hạ sinh đứa con đầu lòng vào cuối năm trước đó, và sau đó công ty quản lý đã xác nhận thông tin này là sự thật.[21][22]

Cô thường xuyên giao lưu với nhiều bạn bè trong giới nghệ sĩ Nhật Bản như Aiko, Ayase Haruka, Aragaki Yui, Imoto Ayako, Kochi Machiko, Sakai Maki, Hara Sachie, Domoto Tsuyoshi, Megamasso, Nakashima Mika, Nakayama Emiri, Yaida Hitomi, Yuki và nhiều người khác. Sở thích của Mochida là bowling, bơi lội[23] và nấu ăn.[24][25][26] Cô rất thích dâu tây, đặc biệt yêu thích giống dâu "Amaou" đến từ tỉnh Fukuoka. Cô rất thích đọc manga, đặc biệt là các tác phẩm Slam Dunk của Inoue Takehiko, GeGeGe no Kitarō của Mizuki ShigeruKobo-chan của Ueda Masashi.[27]

Mochida cho biết kể từ khi lấy bằng lái xe ở tuổi 20, cô luôn trung thành với dòng xe Volkswagen Golf.[28] Ngày 14 tháng 12 năm 2014 theo giờ địa phương, cô lần đầu thử sức với giải Honolulu Marathon tại Hawaii. Dù điều kiện thời tiết không hề thuận lợi với mưa và gió mạnh trên đường chạy, ngay trong lần đầu tham gia chạy marathon đầy đủ cự ly, cô đã hoàn thành đường đua với thành tích khoảng 6 giờ 40 phút.[29]

Sức khỏe

Cuối tháng 1 năm 2005, Mochida từng gặp viêm phế quản cấp tính, làm ELT phải tạm hoãn tour diễn Commonplace Tour của họ. Mặc dù Mochida đã lưu diễn trở lại cùng ELT vào tháng 2 năm đó, căn bệnh đã ảnh hưởng không nhỏ đến giọng hát của cô, sau đó cô đã phải thay đổi cách hát để bảo vệ giọng của mình.[30][31]

Phong cách nghệ thuật

Sau khi Igarashi Mitsuru (người đảm nhiệm vai trò sáng tác chính của Every Little Thing) rời nhóm, Mochida bắt đầu chắp bút sáng tác một cách nghiêm túc.[32][33] Là một nhạc sĩ chuyên viết lời ca khúc, Mochida chịu ảnh hưởng bởi phần lời ca khúc của Kusano Masamune (Spitz), Matsumoto TakashiYoshida Miwa (Dreams Come True).[33]

Giống như chị gái mình, từ nhỏ cô chịu ảnh hưởng lớn bởi giọng hát của Matsuda Seiko và thường thể hiện cover các ca khúc của Seiko.[34][35][36] Nói về bài "Time Goes By" (do Igarashi sáng tác), Mochida từng chia sẻ rằng ở thời điểm thể hiện ca khúc, cô không hiểu rõ ý nghĩa của ca khúc.[37]

Danh sách đĩa nhạc

với Every Little Thing

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.

Sự nghiệp solo

Album
  • Moka (2009)
  • Niu (2010)
  • Manu a Manu (2012)
EP
  • Ten to Ten (2019)
  • Sen (2021)
  • qq (2025)
Đĩa đơn
Năm Tựa ca khúc Vị trí
cao nhất
Oricon
Album
1993 "Mō Ichido" 14
2004 "Itsunomanika Shōjo wa" (いつのまにか少女は?) 15
2009 "Ame no Waltz" (雨のワルツ?) 11 Moka
"Kojin Jugyō" (個人授業?) (đề tên là Caocao) 22
"Shizuka na Yoru/Weather" (静かな夜/weather?) 20 Moka
2010 "Green/Acacia" (green/アカシア?) Niu
2011 "To" 26 Manu a Manu
2012 "Megumi/Kanashii Toki mo Ureshii Toki mo" (めぐみ/悲しいときも嬉しいときも?) 24
"Utsukushiki Uruwashiki Hibi" (美しき麗しき日々?) 29
Vai trò khác
Năm Tựa bài hát Album
1999 "Kiyoshi kono Yoru" (きよしこの夜?) (phiên bản accapella gospel) Avex the Album
2002 "In Case of Me" Song+Nation
"In Case of Me (Tatsumaki Remix)" Song+Nation 2 -Trance-
2006 "Futari no Ongaku" (ふたりの音楽?) (Ohata Yuichi với Mochida Kaori) Futatsu no Asa
2007 "Wipe Your Eyes" (Dragon Ash hợp tác với Mochida Kaori từ ELT) The Best of Dragon Ash with Changes Vol.2
2008 "Atarashii Asa" (あたらしい朝?) (Ohata Yuichi với Mochida Kaori) Music From The Magic Shop
2010 "Sorairo no Crayon" (空いろのくれよん?) (cover của Happy End) Matsumoto Takashi ni Sasagu: Kazemachi DNA
2011 "Pocket" (Nakajima Nobuyuki w/ Mochida Kaori) Pianona

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Official website”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
  1. đổi Bản mẫu:Anime News Network

Bản mẫu:Redirect category shell

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”.