Mulloidichthys martinicus là một loài cá biển thuộc chi Mulloidichthys trong họ Cá phèn. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1829.

Mulloidichthys martinicus
Tập tin:Mulloidichthys martinicus, Nassau, The Bahamas imported from iNaturalist photo 330819123 (cropped 2).jpg
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Syngnathiformes
Họ: Mullidae
Chi: Mulloidichthys
Loài:
M. martinicus
Danh pháp hai phần
Mulloidichthys martinicus
(Cuvier, 1829)
Các đồng nghĩa
  • Upeneus martinicus Cuvier, 1829
  • Upeneus preorbitalis Cuvier, 1829
  • Upeneus queketti Poey, 1853

Từ nguyên

Từ định danh martinicus được đặt theo tên gọi của đảo Martinique, là nơi đã thu thập mẫu định danh của loài cá này.[2]

Phân bố và môi trường sống

M. martinicus có phân bố rộng khắp bờ tây Đại Tây Dương, từ Bermuda và đông nam Florida, băng qua khắp vịnh Méxicobiển Caribe, dọc theo Nam Mỹ đến Brasil, bao gồm cả quần đảo Fernando de NoronhaTrindade và Martin Vaz, cũng như các đảo ngoài khơi bờ đông Đại Tây Dương, gồm quần đảo Canaria, đảo Ascension, Saint Helena, Cabo Verdeđảo São Tomé.[1]

M. martinicus sống trên thảm cỏ biển (đối với cá con), rạn san hô, nền đáy cát và đá trầm tích, độ sâu đến ít nhất là 135 m, thỉnh thoảng cũng được quan sát thấy ở vùng rừng ngập mặn.[1]

Mô tả

Chiều dài cơ thể lớn nhất được ghi nhận ở M. martinicus là 45 cm.[3] Cá có màu nâu lục ở vùng lưng, trắng ở toàn bộ phần còn lại. Có một sọc vàng ở giữa thân, thường có viền xanh lam từ mắt đến gốc vây đuôi màu vang tươi. Vây lưng và vây hậu môn màu vàng nhạt. Râu cá màu trắng.[4]

Gai vây lưng: 8; Tia vây lưng: 9; Gai vây hậu môn: 1; Tia vây hậu môn: 7; Tia vây ngực: 15–17; Vảy đường bên: 34–39.[4]

Sinh thái

Thức ăn của M. martinicus bao gồm các loài thủy sinh không xương sống đáy.[3]

M. martinicus thường sống thành đàn, có khi hợp vào đàn của cá sạo Haemulon chrysargyreum (= Brachygenys chrysargyrea). Sự tương đồng về màu sắc và hình dạng giữa hai loài cho phép chúng tạo thành đàn hỗn hợp và tăng cường khả năng bảo vệ chống lại những kẻ săn mồi.[5]

Khai thác

M. martinicus được khai thác trong nghề đánh bắt ở vùng biển Caribe. Loài cá này có tầm quan trọng thương mại tương đối nhỏ ở VenezuelaCabo Verde.[1]

Tham khảo

  1. ^ a b c d Dooley, J.; Collette, B.B.; Aiken, K.A.; Marechal, J.; Pina Amargos, F.; Kishore, R.; Singh-Renton, S. (2015). "Mulloidichthys martinicus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2015 e.T190429A1951474. doi:10.2305/IUCN.UK.2015-4.RLTS.T190429A1951474.en. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2026.
  2. ^ Christopher Scharpf, biên tập (2025). "Order Syngnathiformes". The ETYFish Project Fish Name Etymology Database.
  3. ^ a b Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Mulloidichthys martinicus trên FishBase. Phiên bản tháng 2 năm 2026.
  4. ^ a b D. Ross Robertson & J. Van Tassell (2023). "Species: Mulloidichthys dentatus, Mexican goatfish". Shorefishes of the Greater Caribbean online information system. Smithsonian Tropical Research Institute.
  5. ^ Krajewski, João Paulo; Bonaldo, Roberta Martini; Sazima, Cristina; Sazima, Ivan (2004). "The association of the goatfish mulloidichthys martinicus with the grunt haemulon chrysargyreum: an example of protective mimicry" (PDF). Biota Neotropica. Quyển 4. tr. 1–4. doi:10.1590/S1676-06032004000200016. ISSN 1676-0611.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).