Bước tới nội dung

Núi Chứa Chan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.Bản mẫu:Template other

Núi Chứa Chan (còn gọi núi Gia Ray hay núi Gia Lào) thuộc phường Xuân Lộc, thành phố Đồng Nai, Việt Nam.[1] Ngọn núi này được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định số 1204/QĐ-BVHTTDL ngày 29 tháng 3 năm 2012.[2] Cao độ khoảng 837 m, nơi đây thường được xem là điểm cao thứ hai vùng Nam Bộ sau núi Bà Đen.[3][4]

Tên gọi

Tên Chứa Chan dùng trong văn bản quản lý di sản và phổ biến trên báo chí; cư dân địa phương còn gọi là núi Gia Lào hoặc núi Gia Ray theo địa danh lân cận.[3][5][6] Khu chùa trong hang đá đôi khi được gọi là “miệng rồng”, mang tính mô tả hình thái vách đá uốn cong.[7]

Địa lý và địa mạo

Tập tin:Canh quan bien may tren dinh nui.jpg
Cảnh quan biển mây trên đỉnh núi Chứa Chan

Núi Chứa Chan nằm trên địa bàn phường Xuân Lộc, Đồng Nai.[1] Khối núi ở rìa đông bắc đồng bằng Đông Nam Bộ, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100–110 km theo Quốc lộ 1; chân núi kết nối các tuyến ĐT.763, ĐT.766 và các đường mòn lên cụm chùa.[8]

Về hình thái, đây là sơn khối độc lập có thế vòng cung với ba đỉnh kề nhau; sườn nghiêng trung bình 30–35°, nhiều đoạn vách đá dựng đứng; địa hình này khiến việc di chuyển ngoài đường chính dễ lạc hướng khi tầm nhìn kém hoặc mùa mưa.[4][5][9][10] Hệ thống chia cắt bờ dốc theo khe suối hướng tỏa tròn hình thành các thung lũng hẹp theo bốn suối phát nguyên từ sườn: Gia Ui (đông), Gia Miên (tây), Gia Liêu (nam) và Gia Lào (bắc); tại một số hốc đá có mạch nước ngầm sủi lên tạo hố nước nhỏ dân gọi là giếng Tiên.[5][11]

Nền địa chất khu vực Xuân Lộc ghi nhận phân bố rộng rãi bazan Kainozoi (hệ tầng Xuân Lộc) bên cạnh các đá magma xâm nhập và trầm tích cổ hơn; các tổng quan địa chất–khoáng sản vùng Đông Nam Bộ xác định tiểu vùng bazan Xuân LộcCẩm Mỹ bao trùm huyện Xuân Lộc, trong đó núi Chứa Chan được nêu như một điểm di sản địa chất phục vụ du lịch trong danh mục địa điểm địa di sản vùng bazan Đông Nam Bộ.[12][13] Một số bài báo đại chúng suy đoán khối núi cấu tạo từ đá cổ trên 100 triệu năm; thông tin này cần nguồn học thuật để định tuổi chính xác.[14]

Tập tin:Canh quan nui Chua Chan nhin tu tren cao.jpg
Cảnh quan đỉnh núi Chứa Chan nhìn xuống vùng đồng bằng phía đông.

Khí hậu – vi khí hậu: dải đồi chân núi và sườn Chứa Chan chịu ảnh hưởng gió mùa nhiệt đới điển hình Đông Nam Bộ, với mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Trạm khí tượng Long Khánh (lân cận) ghi nhận nhiệt độ trung bình năm 26–27 °C, độ ẩm trung bình 81–83% và tổng lượng mưa năm 2.000–2.500 mm; đỉnh mưa tháng 6–10.[15] Trên đỉnh và vai núi cao đôi khi xuất hiện mây thấu kính khi dòng khí ẩm vượt sơn; báo chí nhiều lần ghi nhận “đĩa mây” cố định phủ qua đỉnh.[16][17][18]

Địa mạo động lực và rủi ro: mùa mưa có thể gây xói mòn, trượt lở cục bộ dọc lối mòn và khu vực hạ tầng du lịch; cơ quan chức năng Đồng Nai từng cảnh báo nhiều điểm nguy cơ sạt lở quanh khu cáp treo và đường lên chùa.[19]

Hệ sinh thái và cảnh quan

Tập tin:Canh quan mot goc rung tren nui Chua Chan.jpg
Cảnh quan rừng tự nhiên xen rừng phòng hộ và rừng trồng tại khu vực núi.

Khu vực núi có rừng tự nhiên xen rừng phòng hộ và rừng trồng, tạo cảnh quan đa dạng gồm vách đá, thảm cây gỗ lá rộng thường xanh và các dòng suối chảy quanh năm; từ sườn và đỉnh có thể quan sát toàn cảnh vùng đồng bằng Đông Nam Bộ.[11][20] Các khảo cứu về Chứa Chan – Xuân Lộc xếp các bãi đá, hang đá tự nhiên, khe suối, Thuyền Bát Nhã, giếng Tiên... vào nhóm tài nguyên nhân văn – tự nhiên quan trọng cho du lịch sinh thái tâm linh, gắn với hệ thống chùa Bửu Quang, Lâm Sơn, Linh Sơn.[21]

Đai cao – vi khí hậu: sườn dưới (dưới 400 m) khí hậu nóng ẩm điển hình Đông Nam Bộ; lên cao (khoảng 600–837 m) nhiệt giảm, ẩm tăng theo mùa mưa, thường có sương mù buổi sớm và mây tích tụ ở yên sườn, tạo điều kiện cho rêu – dương xỉ phát triển ở hốc đá ẩm.[15] Một số đợt thời tiết đặc biệt ghi nhận mây thấu kính ổn định trên đỉnh, tạo cảnh quan hiếm gặp ở đồng bằng lân cận.[16][18]

Hình ảnh chà vá chân đen, loài chà vá này được ghi nhận có mặt tại khu vực núi.

Khu vực núi ghi nhận quần thể chà vá chân đen quý hiếm. Điều tra 2020–2021 cho thấy có 7 đàn, khoảng 159–192 cá thể, phân bố ở cao độ 180–800 m; báo chí và cơ quan chức năng triển khai biện pháp bảo vệ.[22][23][24]

Một nghiên cứu năm 2022 tại núi Chứa Chan ghi nhận núi có 323 loài cây thuốc thuộc 241 chi, 90 họ của 2 ngành thực vật có giá trị dược liệu. Trong đó có 3 loài nằm trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2019), Sách Đỏ Việt Nam (2007) và thêm 3 loài thuộc diện hạn chế khai thác, buôn bán theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP.[25] Về các loài quý hiếm, Cốt toái bổ (Drynaria fortunei) đang ở mức Nguy cấp (EN); Lệ dương (Aeginetia indica) và Drynaria bonii ở mức Sắp nguy cấp (VU). Nhiều dược liệu được người dân khai thác và bày bán phổ biến dọc đường lên chùa Bửu Quang như mật nhân, bình vôi, ráng đuôi phụng lá sồi, huyết rồng, đỗ trọng dây, hà thủ ô trắng, khổ qua rừng, chuối rừng, nghệ đen, đậu nọc..., phản ánh giá trị y học cổ truyền phong phú của khu hệ này.[25]

Văn hóa dân gian

Tập tin:Cay da ba goc nui chua chan.jpg
Hình ảnh Cây đa ba gốc trên núi Chứa Chan.

Không gian núi gắn với hệ thống giai thoại dân gian. Tư liệu địa phương thuật lại các tích “Bóng thần nữ mài gươm”, chuyện hổ thần và những “dấu tích” ông Bạc, ông Chì, ông Vàng gán cho các khối đá, hang đá đặc thù trên sườn núi; các truyện kể này thường được báo chí địa phương dẫn lại khi giới thiệu về Chứa Chan và vùng phụ cận.[5][26] Trên các hốc đá ở đỉnh và sườn có mạch nước ngầm sủi lên, tụ thành hố nước tự nhiên được cư dân gọi là giếng Tiên; nhiều bài báo mô tả đây là mạch nước quanh năm, gắn với niềm tin về nguồn nước thiêng trong hành trình hành hương.[27][28]

Trên lối hành hương có cây đa “ba gốc một ngọn”; báo chí mô tả đây là điểm nhiều người ghé thắp hương và gọi đây là 'cây linh',[29] đồng thời có cách giải thích sinh học rằng đó là dạng dây đa ký sinh bám thân cây dầu rồi phát triển thành nhiều rễ không khí tạo hình như ba gốc hợp một ngọn.[30] Một số phóng sự cảnh báo các câu chuyện thêu dệt nhằm trục lợi, đề nghị nhìn nhận thận trọng các lời đồn về “phép mầu”.[7][31]

Truyền thuyết về công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Vạn xuất hiện trong báo chí địa phương ở dạng “tương truyền”, gắn cho bà việc dựng am miếu trên núi để cầu quốc thái dân an trong buổi đầu lưu dân khai phá Nam Bộ; do thiếu chứng cứ hàn lâm trực tiếp, nội dung được dẫn dưới dạng giai thoại.[32]

Lịch sử

Tập tin:Tram vien thong tren nui Chua Chan.JPG
Bãi cỏ và trạm bưu chính viễn thông trên đỉnh núi Chứa Chan

Trên đỉnh cao nhất, trước năm 1945 có nhà nghỉ xây bằng đá (khoảng 50 m²) và một hồ chứa nước đục từ khối đá nguyên để lấy nước dùng; báo chí địa phương nêu đây từng là nơi nghỉ của một số chức sắc thuộc địa Đông Dương thuộc Pháp, đồng thời cho biết hồ từng dẫn nước về ga Gia Ray phục vụ sinh hoạt.[5] Sau năm 1975, khu đỉnh núi được sử dụng đặt các trạm thông tin phục vụ nhiệm vụ quốc phòng; hệ thống này hiện vẫn duy trì theo quy định của Quân khu 7.[33]

Trên sườn bắc, cụm Mật khu Hầm Hinh từng dùng làm căn cứ kháng chiến; hiện là điểm “về nguồn” trong quần thể di tích và xuất hiện trong tài liệu quảng bá du lịch của tỉnh Đồng Nai.[34] Một số tư liệu báo chí ghi nhận dấu tích “vườn trà” được cho là do Bảo Đại trồng quanh khu biệt thự nghỉ dưỡng trên đỉnh; hiện còn lác đác vài gốc trà cổ.[35] Năm 2012, núi Chứa Chan được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia (Quyết định số 1204/QĐ-BVHTTDL).[2][21]

Cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng

Tập tin:Chua tren nui chua chan.JPG
Một ngôi chùa trên núi Chứa Chan

Trên sườn núi hình thành cụm cơ sở Phật giáo dựa theo địa hình đá:

  • Chùa Bửu Quang (chùa Gia Lào) ở cao độ khoảng 660 m, ẩn trong hang đá có thế uốn cong; ghi chép địa phương nêu chùa được khai sơn đầu thế kỷ 20 và qua nhiều lần trùng tu để đáp ứng nhu cầu hành hương ngày càng lớn.[5][27]
  • Chùa Lâm Sơn (khoảng 250 m) và chùa Linh Sơn (khoảng 450 m) tựa lưng sườn đá, thường được nêu như các thành tố của quần thể tâm linh Chứa Chan.[36][37]

Trên các cung đường hành hương hiện diện nhiều điểm thờ tự nhỏ (am, miếu, Quan Âm Các), dấu vết tu ẩn trong hang đá và các điểm dừng chân như khối đá “Thuyền Bát Nhã”; tài liệu học thuật liệt kê những điểm này như một phần tài nguyên nhân văn kết nối với cảnh quan tự nhiên của khu di tích.[21]

Du lịch

Tập tin:Du lich di bo duong dai nui chua chan.JPG
Một bạn trẻ đang đi bộ đường dài ở núi Chứa Chan, cung đường đỉnh núi xuống chùa Gia Lào.

Từ chân núi lên cụm chùa có lối bộ hơn 3 km men theo sườn; nhiều đoạn đã làm bậc tam cấp liên hoàn, bố trí mặt bằng nghỉ chân cho đoàn hành hương và người leo núi.[5] Hệ thống cáp treo núi Chứa Chan khánh thành ngày 24 tháng 1 năm 2016, do Công ty TNHH Thương mại & Sản xuất Toàn Xuân Hưng đầu tư; tuyến có khoảng 44 cabin, tổng chiều dài hơn 1,3 km, năng lực vận chuyển khoảng 2.400 khách/giờ, góp phần giảm tải cho tuyến bộ trong dịp cao điểm.[38][39][40] Vị trí cách TP.HCM khoảng 100–110 km giúp Chứa Chan trở thành điểm đi – về trong ngày phổ biến; dịp Tết ghi nhận lượng khách chiêm bái lớn tại chùa Gia Lào.[3][41] Một số nhà cung cấp tổ chức dịch vụ dù lượn xuất phát từ sườn đỉnh; ảnh và bài tường thuật du lịch – văn hóa đã ghi nhận hoạt động này tại khu vực đỉnh núi.[27]

Quy hoạch, bảo tồn và phát triển

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam thẩm định quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích danh lam thắng cảnh núi Chứa Chan (giai đoạn 2016–2020, tầm nhìn 2030).[42] Năm 2025, tỉnh Đồng Nai điều chỉnh quy hoạch, định hướng bổ sung các tuyến cáp treo và đường sắt leo núi nhằm phát huy giá trị di tích; đồng thời siết trật tự xây dựng quanh khu vực núi và hồ Núi Le.[8][43][44] Cùng năm, tỉnh tổ chức lễ khởi động Dự án Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí núi Chứa Chan quy mô khoảng 107 ha; ngày 3 tháng 10 năm 2025 tỉnh phê duyệt giá đất cụ thể làm giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất khu đất thuộc dự án, và ngày 7 tháng 10 năm 2025 thông tin đấu giá được công bố rộng rãi trên báo chí.[36][45][46][47] Theo thông tin tỉnh Đồng Nai, khu vực dự án giáp rừng phòng hộ núi Chứa Chan và kết nối với các tuyến ĐT 763, ĐT 766 cũng như khu du lịch núi Chứa Chan hiện hữu qua các đường mòn leo núi; tỉnh đồng thời siết trật tự xây dựng quanh khu vực núi Lehồ Núi Le nhằm bảo đảm quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững.[8]

Xem thêm

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên VnExpress2019
  4. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên BaoDN2012
  5. ^ a ă â b c d đ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên CAND2016
  39. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  41. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  45. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.