Ngôi Phúc Lâm
Ngôi Phúc Lâm | |
|---|---|
Chức vụ | |
Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc | |
| Nhiệm kỳ | Tháng 8 năm 1995 – Tháng 1 năm 2003 |
Tư lệnh Quân khu Thành Đô | |
| Nhiệm kỳ | Tháng 12 năm 1994 – Tháng 8 năm 1995 |
| Tiền nhiệm | Lý Cửu Long |
| Kế nhiệm | Liêu Tích Long |
Thông tin cá nhân | |
| Sinh | Tháng 2 năm 1938 người Tân Tân, tỉnh Liêu Ninh, Mãn Châu Quốc |
| Mất | 15 tháng 1 năm 2026 (87 tuổi) Bắc Kinh, Trung Quốc |
| Đảng chính trị | Đảng Cộng sản Trung Quốc |
Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Phục vụ | |
| Năm tại ngũ | 1956–2003 |
| Cấp bậc | |
Ngôi Phúc Lâm (tháng 2 năm 1938 – 15 tháng 1 năm 2026) là Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Ông từng giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Tư lệnh Quân khu Thành Đô.
Tiểu sử
Ngôi Phúc Lâm là người Mãn, sinh tháng 2 năm 1938, người Tân Tân, tỉnh Liêu Ninh.[1]
Năm 1956, Ngôi Phúc Lâm nhập học Trường Bộ binh Tề Tề Cáp Nhĩ (nay là Căn cứ Huấn luyện Tổng hợp số 7 Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc) và tốt nghiệp năm 1960. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1961. Từ năm 1958, ông lần lượt được phân công giữ các chức vụ như trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, phó trung đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng sư đoàn rồi sư đoàn trưởng sư đoàn 47, Quân đoàn 16, Quân khu Thẩm Dương và tham mưu trưởng Quân đoàn 16 thuộc Quân khu Thẩm Dương.[1]
Năm 1985, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Năm 1990, ông đồng thời giữ chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Phòng không toàn quốc. Năm 1992, ông được bổ nhiệm làm trợ lý Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.[2] Tháng 12 năm 1994, ông được điều giữ chức Tư lệnh Quân khu Thành Đô. Tháng 8 năm 1995, ông được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.[1]
Tháng 1 năm 2003, ông thôi giữ chức Phó Tổng Tham trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau đó, ông được bầu làm Ủy viên Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa 10 (2003-2008).
Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1988 và thăng quân hàm Trung tướng năm 1993. Ngày 21 tháng 6 năm 2000, ông được thăng quân hàm Thượng tướng.[1]
Ông là Đại biểu tham dự các kỳ Đại hội đại biểu Toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 13 (năm 1987) và lần thứ 14 (năm 1992). Ông cũng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15 (1997-2002).[1]
Ông qua đời tại Bắc Kinh ngày 15 tháng 1 năm 2026, ở tuổi 87.[3]