Bản mẫu:Infobox Ethnic group Người Cống (tên gọi khác Xắm Khống, Mông Nhé, Xá Xeng) là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng bắc Lào, tây bắc Việt Nam và bắc Thái Lan. Tên dân tộc theo tiếng Thái-LàoPhu Noi (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).;Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).). Tổng số dân cỡ 40.000 người.

Tại Việt Nam người Cống là một trong số 54 dân tộc được công nhận. Họ cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè (cũ) và khu vực ven sông Đà tỉnh Lai Châu.[1][2]

Tiếng Cống là ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán-Tạng.

Nguồn gốc

Nguồn gốc của dân tộc Cống (hay còn gọi là Xá, Màng, Phuy A) được các nhà nghiên cứu và chính người Cống ghi nhận qua nhiều luồng thông tin khác nhau, nhưng tựu trung đều chỉ ra quá trình thiên di từ khu vực lân cận vào Tây Bắc Việt Nam.

Một số nhà nghiên cứu nhận định người Cống ở bên kia biên giới Trung Quốc được xếp vào nhóm dân tộc Hà Nhì với tên gọi là "Bạch Kông". Có giả thuyết cho rằng người Bạch Kông từ vùng Màng Là (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) đã thiên di vào vùng Phong Thổ, tỉnh Lai Châu của Việt Nam từ khoảng thế kỷ 17. Chính vì mối liên hệ với vùng Màng Là này mà người Cống ở Việt Nam còn được gọi là người Màng.[3] Bên cạnh đó, có những nhận định cho rằng người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang Việt Nam. Theo lời kể của các bậc cao niên tại bản Lả Chà (Điện Biên), tổ tiên họ từng ở vùng Nậm Mức (huyện Mường Mày, tỉnh Phong Sa Lỳ, Lào) trước khi sang Việt Nam vào khoảng năm 1920.[4] Từ các điểm dừng chân đầu tiên tại Phong Thổ hay Bình Lư, các nhóm người Cống đã phân tán đi nhiều nơi: một bộ phận di chuyển lên phía Bắc sông Đà (trở thành nhóm Cống ở Mường Tè ngày nay), một số sang Lào và sau đó một bộ phận từ Lào quay trở lại Điện Biên.[5]

Tiếng nói của người Cống thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng), có quan hệ gần gũi với tiếng Miến và cùng nhóm với các tiếng La Hủ, Phù Lá, Si La.[3]

Dân số và địa bàn cư trú

Dân số người Cống tại Việt Nam năm 2019 là 2.729 người,[6] năm 1999 là 1.676 người.[7]

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cống ở Việt Nam có 2.029 người, cư trú tại 13 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Cống cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (1.134 người, chiếm 55,9% tổng số người Cống tại Việt Nam), Điện Biên (871 người, chiếm 42,9% tổng số người Cống tại Việt Nam), còn lại 24 người sinh sống ở một số tỉnh, thành khác.[8]

Văn hóa

Xã hội người Cống được tổ chức theo chế độ phụ hệ chặt chẽ. Họ quan niệm vũ trụ chia làm 3 tầng: tầng trời (nơi tổ tiên sinh sống), tầng đất (nơi con người và thần linh trú ngụ) và tầng âm. Người Cống tin vào thuyết vạn vật hữu linh, cho rằng nam giới có 19 hồn và nữ giới có 12 hồn, trong đó quan trọng nhất là hồn trên đỉnh đầu.[5]

Kiến trúc

Đặc trưng kiến trúc của người Cống là nhà sàn gỗ 3 hoặc 4 gian. Điểm nhận diện riêng biệt là ngôi nhà chỉ có một cửa ra vào duy nhất ở đầu hồi và một cửa sổ ở gian giữa. Đặc biệt, dọc theo vách mặt chính của nhà luôn có một chiếc sàn nhỏ cao hơn sàn chính khoảng 15–16 cm, dù ít giá trị sử dụng nhưng là dấu hiệu đặc thù của tộc người này.[9]

Trang phục

Trang phục phụ nữ Cống gồm áo ngắn (màu trắng hoặc chàm), váy đen hoặc nâu thêu họa tiết hình núi, mây và hình người múa cách điệu.[10] Tình trạng hôn nhân được thể hiện qua mái tóc: phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, trong khi phụ nữ đã có chồng buộc búi tóc ngược trên đỉnh đầu và cài hai chiếc trâm đối xứng bằng xương hoặc bạc.[11] Mỗi cô gái khi lấy chồng đều có chiếc "Bem" (giỏ đan) làm hồi môn để đựng quần áo, trang sức và vật dụng này luôn được đặt cố định dưới bàn thờ gia đình. Nam giới thường mặc bộ đồ nhuộm chàm đơn giản, cúc thắt bằng nút vải.[11]

Phong tục

Người cùng họ phải cách nhau 7 đời mới được kết hôn.[12] Hôn nhân của người Cống là một vợ một chồng bền vững, truyền thống không có đa thê hay ly dị.[13] Một nét phong tục cổ là tục ở rể kéo dài từ 8 đến 12 năm trước khi chính thức đón dâu. Trong ngày cưới, đoàn đón dâu có tục vẩy nước tro để cầu may mắn.[14]

Sản phụ người Cống có tục đẻ ngồi và được chăm sóc bằng các loại lá thuốc rừng để phục hồi sức khỏe.[14]

Quan tài người chết được làm từ thân cây nguyên khối đẽo rỗng. Nghi lễ quan trọng nhất là cúng đưa đường để thầy cúng dẫn hồn người chết về tầng trời đoàn tụ với tổ tiên. Con cái để tang cha mẹ bằng cách cạo trọc đầu (con trai) hoặc cắt tóc mai (con gái).[5]

Lễ hội

Tết Ngô (01/06 âm lịch) là tết lớn nhất trong năm. Lễ vật dâng cúng không thể thiếu cua – loài vật được coi là thần bảo vệ mùa màng khỏi chim chóc, thú rừng.[15] Sau phần lễ, dân bản thường ra suối tắm để gột rửa vận đen và thực hiện các điệu múa giỏ (Pê lêm gian).[15] Ngoài ra còn có tết hoa Mào gà được tổ chức khi mùa màng đã xong để cầu sức khỏe và bình an, nổi bật với nghi lễ buộc chỉ cổ tay.[16]

Ẩm thực

Người Cống có kinh nghiệm lâu đời về cây thuốc nam, sử dụng vỏ, rễ, lá cây để chữa các bệnh gan, thận, dạ dày. Khi đi lấy thuốc trên rừng, thầy lang phải thực hiện lễ "làm lý" tại gốc cây bằng bạc trắng, chỉ và vải để xin phép các vị thần linh.

Về ẩm thực, người Cống ăn cơm gạo nếp, cơm tẻ và các món từ ngô. Món ăn đặc trưng dùng chữa bệnh dạ dày là "Cha khả cha vàng" gồm tiết lợn nấu với lá vón vén và rau đắng.[10] Ngoài ra còn có món nộm chít non độc đáo.[17]

Người Cống Việt Nam có danh tiếng

Những người Cống Việt Nam có danh tiếng
Tên Sinh thời Hoạt động
Lò Thị Phương 1979– Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 12,[18] quê xã Nậm Khao, huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu.[19]

Tham khảo

  1. ^ Các dân tộc Việt Nam - người Cống. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, 2016. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2017.
  2. ^ Các dân tộc Việt Nam Lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2018 tại Wayback Machine. Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Hậu Giang, 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2017
  3. ^ a ă "Dân tộc Cống". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  4. ^ "Khám phá tiểu vùng văn hóa của cộng đồng dân tộc Cống bên dòng Nậm Chả". Báo ảnh Dân tộc và Miền núi. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  5. ^ a ă â Nguyễn Cảnh Phương (2016). Tang ma của người Cống ở xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (Luận văn). Học viện Khoa học Xã hội.
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Dso2019
  7. ^ Điều tra dân số 1999, bảng tính 64.DS99.xls.
  8. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  9. ^ "Kiến trúc nhà ở của người Cống". Báo ảnh Dân tộc và Miền núi. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  10. ^ a ă "Dân tộc Cống". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 25 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  11. ^ a ă "Nét đẹp trong trang phục của đồng bào dân tộc Cống ở Mường Tè, Lai Châu". Báo ảnh Việt Nam (Thông tấn xã Việt Nam). Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  12. ^ "Hôn nhân gia đình của người Cống". Báo Gia đình và Xã hội. ngày 4 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  13. ^ "Người Cống". Ủy ban Dân tộc. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  14. ^ a ă "Hôn nhân gia đình của người Cống". Gia đình & Xã hội. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  15. ^ a ă "Độc đáo Tết Ngô của đồng bào người Cống xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  16. ^ "Đến Điện Biên khám phá Tết hoa của đồng bào dân tộc Cống". Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  17. ^ "Nộm chít non – món ăn độc đáo của đồng bào dân tộc Cống". Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  18. ^ "Danh sách Đại biểu Quốc hội khóa XII". Quốc hội Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2012.
  19. ^ Đại biểu quốc hội là người DTTS khóa 12. Lò Thị Phương. Ủy ban Dân tộc, ngày 7 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2016.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Các dân tộc Lào