Người Tà Mun
Bản mẫu:Short description Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “infobox”. Tà Mun được cho là một dân tộc thiểu số chưa được công nhận, sinh sống rải rác tại vùng ven Hồ Dầu Tiếng ở các tỉnh Tây Ninh và Đồng Nai.
Hiện tại dân tộc này không có tên trong 54 dân tộc Việt Nam, nhưng một số công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đều có đề cập đến nhóm người này. Đối với tỉnh Bình Phước, năm 2009 đã đưa tộc người này vào nhánh của người Xtiêng.
Người Tà Mun không có chữ viết, họ có ngôn ngữ nói riêng của mình thuộc Ngữ tộc Môn-Khmer, gần với ngôn ngữ của dân tộc Chơro. Nhiều năm qua người Tà Mun luôn đề nghị được công nhận và có tên trong danh sách các dân tộc ở Việt Nam. Tại tỉnh Tây Ninh và Bình Phước cũ đã có những hội thảo nghiên cứu về người Tà Mun nhằm xác định tính chính danh của họ.[1][2]
Lịch sử
Theo già làng Lâm Tăng ở Tân Hiệp (nay là Tân Khai), ngày xưa cộng đồng người Tà Mun sống du canh du cư. Ban đầu ở vùng rừng Nam Trường Sơn, sau đó di cư dần vào đây. Những năm đầu thế kỷ 20, một số người lên vùng Tây Ninh làm ăn, thấy được nên ở lại luôn. Rồi sau đó về đây dẫn thêm người nhà lên trên đó lập nghiệp.[3]
Có khả năng người Tà Mun là hệ quả của sự hòa huyết giữa các tộc người Mạ, Chơ Ro thuộc nhóm Côn Man với người S'tiêng do bị triều đình Huế đưa đến vùng người S'tiêng để chinh phạt Cao Miên năm 1755. Henri Maître đã có những mô tả về sự kiện này cùng với hiện trạng dân cư ở vùng Tây Ninh – Thủ Dầu Một trong cuốn Les jungles moï:[4]
Trang Bản mẫu:Quote/styles.css không có nội dung.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Trang Bản mẫu:Quote/styles.css không có nội dung.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Dân số và địa bàn cư trú
Theo khảo sát năm 2009 có gần 3000 người Tà Mun, sinh sống tập trung ở Tây Ninh và Đồng Nai.[5]
Người Tà Mun ở tỉnh Đồng Nai: Có 234 hộ với 1.143 nhân khẩu tập trung chủ yếu tại địa bàn sóc 5 và thôn Bàu Lùng, xã Tân Khai.
Người Tà Mun ở tỉnh Tây Ninh: Có 1.680 người cư trú rải rác ở các huyện cũ: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu và các phường Bình Minh, Ninh Thạnh.
Đặc điểm kinh tế
Người Tà Mun sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi. Lúa Tơ-rô và lúa Sau-sơ-ra là hai giống lúa rẫy phù hợp với thổ nhưỡng của cư dân Tà Mun. Loại lúa này có thời gian sinh trưởng từ đầu mùa mưa đến cuối tháng tám âm lịch; khi lúa chín vàng, người Tà Mun kéo nhau ra rẫy thu hoạch, họ đeo gùi trên lưng, dùng tay tuốt từng bông lúa bỏ vào gùi, mang về nhà cho vào củi, bồ.
Người Tà Mun trước đây sống du canh du cư (hiện nay đã tương đối ổn định) nên họ thường đốt rừng làm rẫy trồng lúa và tầm vông. Vào mùa nắng, sông suối khô cạn, người Tà Mun có dịp chứng tỏ mình giỏi đánh bắt cá.
Trong quá trình sản xuất, người Tà Mun đã chế tạo ra nhiều công cụ lao động như: cày, bừa, phảng, cù nèo, vòng hái, cối xay, lưới, chài, xịp, nơm, giỏ, ghế đập lúa... Hiện nay, khi hoà nhập với cuộc sống hiện đại, họ dần thay thế chúng bằng các công cụ lao động khác của người Kinh cho phù hợp với hoạt động sản xuất.[6]
Ngôn ngữ
Người Tà Mun không có chữ viết. Chỉ lưu giữ được tiếng nói riêng của mình thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer, gần với tiếng Chơ Ro.
Văn hóa cộng đồng
Theo các nhà nghiên cứu, tộc người có một số phong tục, tập quán và truyền thống khác với người S'tiêng. Các nét văn hóa có sự giao thoa, cộng cư với các nhóm dân tộc Nam Trường Sơn, và chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa của tộc người Khmer.
Về tín ngưỡng, người Tà Mun tin rằng có các thần linh mà họ gọi là uncô dùng để chỉ các thần linh trên cao (như uncôhe là thần đất, uncômir là thần rẫy, uncôpanâm là thần núi và uncôlê là thần sông...) và chỉ ông, bà tổ tiên. Người Tà Mun còn có phong tục "cưới chồng" rất riêng. Điểm khác biệt trong phong tục này là có ông mai bên nhà trai sang nhà gái dạm hỏi trước (Hanh-Lip-Xana) nhưng do bên nhà gái tổ chức rước rể (Hanh num-Kon Klô Xua) hay (Chun Kon Klô). Khi đưa chàng rể qua nhà gái, nhà trai sẽ hát múa những bài hát đưa rể gọi là Xavên-Keo Kôc. Theo thời gian, những nét văn hóa này hiện cũng còn rất ít người trong làng biết đến, chủ yếu là những già làng.
Những tư liệu về văn hóa dân gian cũng như vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc Tà Mun ngày càng bị mai một do đời sống hiện đại và do quá trình cộng cư diễn ra nhiều năm qua.[7]
Lễ hội - Phong tục
Các lễ hội chính của người Tà Mun như:
- Tết Saunco Khamun: Đây là lễ hội lớn nhất, diễn ra vào đầu tháng 9 âm lịch và được xem như lễ bắt đầu năm mới của người Tà Mun
- Lễ cúng ông Tà hay còn gọi là cúng miếu diễn ra vào ngày 16.11 âm lịch hằng năm. Lúc này làm nông xong, việc đồng áng đã thong thả, tạ ơn ông Tà sau một vụ mùa. Ông Tà có các vị thần Núi, thần Rừng, thần Sông, thần Suối, thần Nông. Chủ lễ là già làng (tà tapathuôk), sẽ là người đại diện thắp hương khấn vái, tạ ơn thần linh đã ban cho dân làng mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Ngày này, bà con mời quý ông về để tạ ơn quý ông phù trợ khi làm mùa, không để ruộng nương bị quậy phá[8]
Người Tà Mun còn có lễ rước bông, mang ý nghĩa cầu nguyện cho vong linh tổ tiên, những người đã khuất phù hộ cho đời sống hằng ngày của họ được an lành.
Các làn điệu dân ca nguyên thủy của người Tà Mun được sưu tầm, như các bài hát nghi lễ, hát ru và hát sinh hoạt giao duyên qua lao động sản xuất có nhiều nét độc đáo. Ngoài ra, nghệ thuật thổi kèn môi (chế tác từ những lá đồng) được xem là nét văn hóa độc đáo của người Tà Mun. Hiện chưa có tài liệu ghi nhận chính xác thời điểm xuất hiện kèn môi trong cộng đồng người Tà Mun, rất ít người còn nhớ tiếng kèn môi, nhất là thanh niên, gần như xa lạ với loại nhạc cụ này.[9]
Trang phục
Trang phục truyền thống của người Tà Mun có nét đặc trưng riêng, đó là váy ống, trùm từ vai xuống chân, không xẻ vạt, không có khuy.[10]
Thực tế
Nhiều năm qua, trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam, không có dân tộc Tà Mun, tộc người này được xếp vào một nhánh của dân tộc S'Tiêng.
Chính quyền địa phương ở tỉnh Bình Long thời Việt Nam Cộng hòa và chính quyền xã Đồng Nơ trước đây và Tân Hiệp từ khi thống nhất đến nay đều sử dụng, xác nhận thành phần dân tộc của nhóm người này là Tà Mun trong các văn bản, giấy tờ như: Chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy Khai sinh, Giấy Đăng ký kết hôn, Hương ước. Việc này gây phiền toái cho người Tà Mun sau khi CMND (sau này là CCCD) được đồng bộ và không còn giống với các giấy tờ khác[11]
Việc đề nghị công nhận tộc người này đã được đưa ra từ nhiều năm nay nhưng hiện chưa có câu trả lời chính thức từ các cơ quan chức năng.
Những già làng Tà Mun đang đau đáu khát vọng dân tộc mình được công nhận và được Nhà nước hỗ trợ để bảo vệ các di sản văn hóa.
Liên kết ngoài
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Khám phá văn hóa dân tộc thứ 55 - Tà Mun trên Đài truyền hình Việt Nam Bản mẫu:Webarchive
- Người Tà Mun sẽ là dân tộc thứ 55? Người đưa tin Bản mẫu:Webarchive
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Article stub box”.