Bước tới nội dung

Nhiễm virus Nipah

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hình ảnh virus Nipah qua kính hiển vi điện tử

Nhiễm virus Nipah (tiếng Anh: Nipah virus infection) là một bệnh truyền nhiễm ở người gây nên bởi virus Nipah. Bệnh lây truyền từ động vật (chủ yếu là dơi ăn quả, một số ít từ ngựa, lợn bị nhiễm bệnh) hoặc thực phẩm nhiễm virus (nước dừa, thốt nốt, nhựa cây, v.v.) sang người[1]. Bệnh lưu hành chủ yếu ở các quốc gia thuộc khu vực Nam ÁĐông Nam Á như Malaysia, Ấn Độ, Bangladesh, v.v. nhưng chưa từng phát hiện ca bệnh ngoài cộng đồng ở Việt Nam[2][3]. Bệnh có tốc độ lan truyền trong cộng đồng chậm nên khả năng tạo thành dịch khá thấp. Ở Việt Nam, Bộ Y tế xếp nhiễm virus Nipah thuộc bệnh truyền nhiễm nhóm A[4].

Sau khi xâm nhập vào cơ thể người, bệnh gây tổn thương nãophổi qua cơ chế viêm mạch máu lan tỏa và tăng hình thành huyết khối dẫn đến người bệnh có triệu chứng của nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương (viêm não) và hô hấp như sốt, đau đầu, buồn nôn, nôn mửa, v.v.[5]. Chẩn đoán bệnh dựa vào biểu hiện lâm sàng và kết quả xét nghiệm gợi ý nhiễm virus Nipah. Hiện nay, bệnh chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu và nên biện pháp can thiệp y khoa chủ yếu xoay quanh điều trị nâng đỡ nhằm cải thiện triệu chứng và hạn chế tối đa biến chứng. Tiên lượng nhiễm virus Nipah khá xấu, với tỷ lệ tử vong có thể lên đến 75% ở một số nghiên cứu[1]. Bên cạnh đó, hiện nay chưa có vắcxin phòng ngừa virus Nipah nên biện pháp dự phòng chủ yếu hạn chế phơi nhiễm với nguồn bệnh trong cộng đồng như không tiếp xúc hoặc ăn thịt dơi, không ăn quả có dấu hiệu bị động vật cắn, ăn chín uống sôi, v.v.[6].

Đại cương

Phân bố

Các đợt bùng phát henipavirus từ khi phát hiện lần đầu đến năm 2006 (ngôi sao màu xanh là bệnh nhiễm virus Nipah, màu đỏ là virus Hendra) và vùng phân bố của tàng chủ (vùng màu xanh là của virus Nipah, màu đỏ của virus Hendra)

Virus Nipahvirus RNA thuộc họ Paramyxoviridaechi Henipavirus. Nipah virus được phát hiện lần đầu qua đợt bùng phát bệnh ở người và lợn tại MalaysiaSingapore vào khoảng năm 1988 và 1989, theo đó danh pháp Nipah được đặt theo tên làng ở Malaysia mà người bệnh đầu tiên cư trú và đợt dịch này từng được nghĩ là dịch bệnh viêm não Nhật Bản[7].

Các quan sát thông kê sau đó ghi nhận người bệnh chủ yếu là nông dân (nhất là liên quan đến chăn nuôi lợn), gặp nhiều ở người lớn hơn là trẻ em, phân bố thành cụm theo gia đình và phần nhiều người bệnh đã tiêm ngừa vắcxin phòng viêm não Nhật Bản[8][5]. Từ khi phát hiện bệnh đến nay, bệnh gây các đợt dịch lẻ tẻ tái phát ở Bangladesh, Ấn Độ (bang Tây Bengal, Kerala), Philippines[9][10]. Gần đây nhất, ngày 13 tháng 01 năm 2026, Ấn Độ ghi nhận hai ca bệnh nhiễm virus Nipah (xác định qua phản ứng chuỗi polymerase) ở Kolkatta, bang Tây Bengal. Chính quyền địa phương đã truy vết, cách ly và theo dõi các cá nhân tiếp xúc gần với hai ca bệnh (kết quả 190 mẫu xét nghiệm đều âm tính)[11]. Tin tức đợt bùng phát năm 2026 đã dấy lên những lo ngại trong khu vực và toàn cầu. Các nước lân cận như Trung Quốc, Singapore, Việt Nam, v.v. đã nâng cao cảnh giác và có biện pháp chủ động phòng chống và đối phó dịch bệnh[12].

Tàng chủ và con đường lây truyền

Minh họa con đường lây truyền của virus Nipah qua trung gian động vật (tàng chủ)

Tàng chủ động vật ngoài tự nhiên là dơi ăn quả thuộc chi Pteropus[13]. Kháng thể kháng kháng nguyên virus Nipah được phát hiện ở dơi phân bố tại Malaysia, Bangladesh và Ấn Độ. Virus Nipah từng được phân lập từ mẫu nước tiểu của các cá thể dơi thuộc loài dơi ngựa bé (Pteropus hypomelanus), phân bố ở bờ Đông của Malaysia và từ loài Pteropus medius ở Bangladesh và Ấn Độ[14] [15]. Bằng chứng huyết thanh học cũng ghi nhận ở 23 loài dơi thuộc 10 chi phân bố ở vùng Vân Nam, đảo Hải Nam (Trung Quốc), Campuchia, Thái Lan, Ấn Độ, MadagascarGhanaTây Phi[16]. Ngoài ra, một số loài động vật khác cũng từng ghi nhận có mang mầm bệnh. Đợt bùng phát đầu tiên ghi nhận ở lợn, chúng có biểu hiện triệu chứng thần kinh và hô hấp[17]. Đối với đợt bùng phát năm 2014, ngựa được cho là tác nhân trung gian truyền bệnh[18]. Ngoài ra, cũng từng ghi nhận kết quả xét nghiệm dương tính ở một số động vật thú cưng như chó, mèo[5].

Triệu chứng, xét nghiệm và chẩn đoán

Biểu hiện lâm sàng

Virus Nipah gây tổn thương ở não và phổi với tỷ lệ tử vong cao. Tỷ lệ tử vong qua đợt bùng phát ở Malaysia khoảng 30 - 40%, trên 70% ở Bangladesh và trong đợt bùng phát ở bang Kerala (Ấn Độ) thì chỉ có 2 trong 23 ca được xác định bệnh sống sót[5][19][20].

Ở não, virus gây bệnh cảnh viêm não (Encephalitis). Sau khoảng thời gian ủ bệnh 7 – 40 ngày, người bệnh đột ngột xuất hiện sốt, đau đầu, đau cơ, buồn nônnôn mửa. Dấu hiệu kích thích màng não xuất hiện ở khoảng một phần ba người bệnh, nhưng dấu hiệu cổ cứng (Nuchal rigidity) hay sợ ánh sáng không phổ biến. Bệnh diễn tiến nhanh ở khoảng 60% người bệnh với rối loạn ý thức tiển triển thành hôn mê trong vòng 5 đến 7 ngày. Cơn động kinh toàn thể (Generalised seizure) xuất hiện ở khoảng 20% người bệnh. Một số dấu hiệu thần kinh khác bao gồm rung giật cơ từng đợt (ưu thế ở cơ hoành, chi trên và cơ cổ), hội chứng tiểu não, run và mất phản xạ. Người bệnh nặng có thể xuất hiện những dấu hiệu chỉ điểm tổn thương thân não đặc trưng bởi đồng tử co nhỏ đầu kim (pinpoint) và mất phản xạ, phản xạ mắt búp bê bất thường, tần số tim nhanh, tăng huyết áp; những triệu chứng ấy chỉ điểm tiên lượng xấu hơn. Một vài người bệnh có triệu chứng thần kinh tái phát thành các đợt rối loạn thần kinh bất thường. Ngoài ra, một vài người bệnh không có triệu chứng hoặc không có dấu hiệu chỉ điểm thần kinh rồi tiến triển thành bệnh lý thần kinh với các triệu chứng như sốt, đau đầu, co giật và các dấu hiệu thần kinh cục bộ (tỷ lệ tử vong khoảng 18%)[21].

Các triệu chứng hô hấp bao gồm ho, khó thở và xuất hiện hình ảnh bất thường trên phim X-quang ngực cũng ghi nhận ở những người bệnh trong trận dịch ở bang Kerala (Ấn Độ) và Bangladesh. Ngoài ra, người bệnh trong đợt bùng phát ở Kerala cũng xuất hiện tổn thương ở tim (ghi nhận qua điện tâm đồ), giảm động thất trái và tăng nồng độ troponin I.[20]

Đặc điểm cận lâm sàng

Xét nghiệm vi sinh và huyết thanh học

Do virus Nipah là tác nhân nguy hiểm, phương pháp phân lập virus phải thực hiện ở phòng thí nghiệm chuẩn an toàn sinh học bậc 4 (Biosafety level 4) nên phương pháp này ít được ứng dụng trong lâm sàng. Phản ứng chuỗi polymerase (Polymerase-chain reaction, PCR) được sử dụng để phát hiện virus Nipah.

Bên cạnh đó, xét nghiệm huyết thanh học được sử dụng phổ biến để phát hiện virus Nipah nhất là xét nghiệm miễn dịch hấp thu kháng thể (Enzyme-linked immunosorbent assay, ELISA). Xét nghiệm tìm kháng thể IgM là xét nghiệm đầu tay để chẩn đoán ca bệnh nghi ngờ nhiễm virus Nipah với độ đặc hiệu cao, kế đến xác nhận qua phát hiện các kháng thể trung hòa virus. Xét nghiệm IgG cũng được sử dụng phổ biến[22][23].

Xét nghiệm khác

Xét nghiệm máu thường không ghi nhận bất thường. Số lượng bạch cầu đa phần ở khoảng giá trị bình thường, một số trường hợp ghi nhận giảm số lượng tiểu cầu nhẹ. Một số mẫu máu ghi nhận tình trạng tăng hoạt độ men gan transaminase từ nhẹ đến trung bình.

Tương tự như viêm não siêu vi do các tác nhân khác, kết quả phân tích dịch não tủy thường ghi nhận bất thường ở đa số người bệnh. Số lượng bạch cầu tăng cao trong khoảng 10 đến 800 tế bào/mm3 với lympho bào chiếm ưu thế, nồng độ protein tăng (từ 50 đến 250mg/dL) nhưng nồng độ glucose không tăng và thường không ghi nhận hồng cầu trong dịch não tủy.

Hình ảnh chụp cộng hưởng từ (MRI) não là công cụ quan trọng trong chẩn đoán viêm não do Nipah dù hình ảnh không đặc hiệu cho tác nhân này. Bất thường đặc trưng thường là tổn thương đa ổ kích thước bé (dưới 5 milimét), sang thương khu trú bất đối xứng phân bố ở vùng dưới vỏ não và chất trắng mà không có xuất hiện phù xung quanh. Sang thương gợi ý vùng vi nhồi máu khi quan sát trên mẫu mô bệnh học. Tuy nhiên, tổn thương trên hình ảnh cộng hưởng từ không tương quan với dấu hiệu thần kinh khu trú[24].

Điện não đồ (EEG) ghi nhận sóng chậm liên tục lan tỏa kèm hoặc không kèm theo các phóng điện sóng nhọn độc lập chu kỳ ở hai bên vùng thái dương.

Chẩn đoán

Chẩn đoán viêm não do virus Nipah dựa vào đặc điểm lâm sàng kèm bằng chứng hiện diện tác nhân virus ở dịch cơ thể (dịch phết hầu họng, mẫu mô, dịch não tủy, mẫu máu, nước tiểu) qua các phương pháp sinh học phân tử (PCR), huyết thanh học (tìm kháng thể trung hòa virus)[25].

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b "Nipah virus infection". www.who.int (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  2. ^ Editor, Blog (ngày 27 tháng 1 năm 2026). "Nipah virus: what is it, where is it found and how does it spread? – UK Health Security Agency". ukhsa.blog.gov.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích web}}: |last= có tên chung (trợ giúp)
  3. ^ "Bộ Y tế: Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah - Thông tin chỉ đạo điều hành - Cổng thông tin Bộ Y tế". moh.gov.vn. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  4. ^ "Virus Nipah - cơ chế gây bệnh và các biện pháp phòng ngừa - Tin tổng hợp - Cổng thông tin Bộ Y tế". moh.gov.vn. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  5. ^ a b c d Goh, Khean Jin; Tan, Chong Tin; Chew, Nee Kong; Tan, Patrick Seow Koon; Kamarulzaman, Adeeba; Sarji, Sazilah Ahmad; Wong, Kum Thong; Abdullah, Basri Johan Jeet; Chua, Kaw Bing (ngày 27 tháng 4 năm 2000). "Clinical Features of Nipah Virus Encephalitis among Pig Farmers in Malaysia". New England Journal of Medicine (bằng tiếng Anh). Quyển 342 số 17. tr. 1229–1235. doi:10.1056/NEJM200004273421701. ISSN 0028-4793.
  6. ^ Singh, Raj Kumar; Dhama, Kuldeep; Chakraborty, Sandip; Tiwari, Ruchi; Natesan, Senthilkumar; Khandia, Rekha; Munjal, Ashok; Vora, Kranti Suresh; Latheef, Shyma K. (tháng 12 năm 2019). "Nipah virus: epidemiology, pathology, immunobiology and advances in diagnosis, vaccine designing and control strategies - a comprehensive review". The Veterinary Quarterly. Quyển 39 số 1. tr. 26–55. doi:10.1080/01652176.2019.1580827. ISSN 1875-5941. PMC 6830995. PMID 31006350.
  7. ^ Lim, C. C.; Sitoh, Y. Y.; Hui, F.; Lee, K. E.; Ang, B. S.; Lim, E.; Lim, W. E.; Oh, H. M.; Tambyah, P. A. (tháng 3 năm 2000). "Nipah viral encephalitis or Japanese encephalitis? MR findings in a new zoonotic disease". AJNR. American journal of neuroradiology. Quyển 21 số 3. tr. 455–461. ISSN 0195-6108. PMC 8174990. PMID 10730635.
  8. ^ Chua, Kaw Bing; Goh, Khean Jin; Wong, Kum Thong; Kamarulzaman, Adeeba; Tan, Patrick Seow Koon; Ksiazek, Thomas G; Zaki, Sherif R; Paul, George; Lam, Sai Kit (tháng 10 năm 1999). "Fatal encephalitis due to Nipah virus among pig-farmers in Malaysia". The Lancet. Quyển 354 số 9186. tr. 1257–1259. doi:10.1016/s0140-6736(99)04299-3. ISSN 0140-6736.
  9. ^ Hsu, Vincent P.; Hossain, Mohammed Jahangir; Parashar, Umesh D.; Ali, Mohammed Monsur; Ksiazek, Thomas G.; Kuzmin, Ivan; Niezgoda, Michael; Rupprecht, Charles; Bresee, Joseph (tháng 12 năm 2004). "Nipah virus encephalitis reemergence, Bangladesh". Emerging Infectious Diseases. Quyển 10 số 12. tr. 2082–2087. doi:10.3201/eid1012.040701. ISSN 1080-6040. PMC 3323384. PMID 15663842.
  10. ^ Ching, Paola Katrina G.; de los Reyes, Vikki Carr; Sucaldito, Maria Nemia; Tayag, Enrique; Columna-Vingno, Alah Baby; Malbas, Fedelino F.; Bolo, Gilbert C.; Sejvar, James J.; Eagles, Debbie (tháng 2 năm 2015). "Outbreak of henipavirus infection, Philippines, 2014". Emerging Infectious Diseases. Quyển 21 số 2. tr. 328–331. doi:10.3201/eid2102.141433. ISSN 1080-6059. PMC 4313660. PMID 25626011.
  11. ^ "Close contacts: All 190 samples Nipah -ve". The Times of India. ngày 19 tháng 1 năm 2026. ISSN 0971-8257. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  12. ^ "CDA taking first steps in response to Nipah virus infections, closely monitoring situation in West Bengal". Communicable Diseases Agency (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2026.
  13. ^ Yob, J. M.; Field, H.; Rashdi, A. M.; Morrissy, C.; van der Heide, B.; Rota, P.; bin Adzhar, A.; White, J.; Daniels, P. (2001). "Nipah virus infection in bats (order Chiroptera) in peninsular Malaysia". Emerging Infectious Diseases. Quyển 7 số 3. tr. 439–441. doi:10.3201/eid0703.010312. ISSN 1080-6040. PMC 2631791. PMID 11384522.
  14. ^ Yadav, Pragya D.; Shete, Anita M.; Kumar, G. Arun; Sarkale, Prasad; Sahay, Rima R.; Radhakrishnan, Chandni; Lakra, Rajen; Pardeshi, Prachi; Gupta, Nivedita (tháng 5 năm 2019). "Nipah Virus Sequences from Humans and Bats during Nipah Outbreak, Kerala, India, 2018". Emerging Infectious Diseases. Quyển 25 số 5. tr. 1003–1006. doi:10.3201/eid2505.181076. ISSN 1080-6059. PMC 6478210. PMID 31002049.
  15. ^ Chua, Kaw Bing; Koh, Chong Lek; Hooi, Poh Sim; Wee, Kong Fatt; Khong, Jenn Hui; Chua, Beng Hooi; Chan, Yee Peng; Lim, Mou Eng; Lam, Sai Kit (tháng 2 năm 2002). "Isolation of Nipah virus from Malaysian Island flying-foxes". Microbes and Infection. Quyển 4 số 2. tr. 145–151. doi:10.1016/s1286-4579(01)01522-2. ISSN 1286-4579. PMID 11880045.
  16. ^ Chong, Victor; Abdullah, Suhailah; Tan, Chong (2009). "Nipah virus and bats". Neurology Asia. Quyển 14. doi:10.5281/zenodo.13531251.
  17. ^ Mohd Nor, M. N.; Gan, C. H.; Ong, B. L. (tháng 4 năm 2000). "Nipah virus infection of pigs in peninsular Malaysia". Revue Scientifique Et Technique (International Office of Epizootics). Quyển 19 số 1. tr. 160–165. doi:10.20506/rst.19.1.1202. ISSN 0253-1933. PMID 11189713.
  18. ^ Ching, Paola Katrina G.; de los Reyes, Vikki Carr; Sucaldito, Maria Nemia; Tayag, Enrique; Columna-Vingno, Alah Baby; Malbas, Fedelino F.; Bolo, Gilbert C.; Sejvar, James J.; Eagles, Debbie (tháng 2 năm 2015). "Outbreak of henipavirus infection, Philippines, 2014". Emerging Infectious Diseases. Quyển 21 số 2. tr. 328–331. doi:10.3201/eid2102.141433. ISSN 1080-6059. PMC 4313660. PMID 25626011.
  19. ^ Hossain, M. Jahangir; Gurley, Emily S.; Montgomery, Joel M.; Bell, Michael; Carroll, Darin S.; Hsu, Vincent P.; Formenty, P.; Croisier, A.; Bertherat, E. (ngày 1 tháng 4 năm 2008). "Clinical presentation of nipah virus infection in Bangladesh". Clinical Infectious Diseases: An Official Publication of the Infectious Diseases Society of America. Quyển 46 số 7. tr. 977–984. doi:10.1086/529147. ISSN 1537-6591. PMID 18444812.
  20. ^ a b Arunkumar, Govindakarnavar; Chandni, Radhakrishnan; Mourya, Devendra T.; Singh, Sujeet K.; Sadanandan, Rajeev; Sudan, Preeti; Bhargava, Balram; Nipah Investigators People and Health Study Group (ngày 24 tháng 5 năm 2019). "Outbreak Investigation of Nipah Virus Disease in Kerala, India, 2018". The Journal of Infectious Diseases. Quyển 219 số 12. tr. 1867–1878. doi:10.1093/infdis/jiy612. ISSN 1537-6613. PMID 30364984.
  21. ^ Tan, Chong Tin; Goh, Khean Jin; Wong, Kum Thong; Sarji, Sazilah Ahmad; Chua, Kaw Bing; Chew, Nee Kong; Murugasu, Paramsothy; Loh, Yet Lin; Chong, Heng Thay (tháng 6 năm 2002). "Relapsed and late-onset Nipah encephalitis". Annals of Neurology. Quyển 51 số 6. tr. 703–708. doi:10.1002/ana.10212. ISSN 0364-5134. PMID 12112075.
  22. ^ Tamin, Azaibi; Harcourt, Brian H.; Lo, Michael K.; Roth, James A.; Wolf, Mike C.; Lee, Benhur; Weingartl, Hana; Audonnet, Jean-Christophe; Bellini, William J. (tháng 9 năm 2009). "Development of a neutralization assay for Nipah virus using pseudotype particles". Journal of Virological Methods. Quyển 160 số 1–2. tr. 1–6. doi:10.1016/j.jviromet.2009.02.025. ISSN 1879-0984. PMC 2704486. PMID 19559943.
  23. ^ Kaku, Yoshihiro; Noguchi, Akira; Marsh, Glenn A.; Barr, Jennifer A.; Okutani, Akiko; Hotta, Kozue; Bazartseren, Boldbaatar; Fukushi, Shuetsu; Broder, Christopher C. (tháng 1 năm 2012). "Second generation of pseudotype-based serum neutralization assay for Nipah virus antibodies: sensitive and high-throughput analysis utilizing secreted alkaline phosphatase". Journal of Virological Methods. Quyển 179 số 1. tr. 226–232. doi:10.1016/j.jviromet.2011.11.003. ISSN 1879-0984. PMID 22115786.
  24. ^ Sarji, S. A.; Abdullah, B. J.; Goh, K. J.; Tan, C. T.; Wong, K. T. (tháng 8 năm 2000). "MR imaging features of Nipah encephalitis". AJR. American journal of roentgenology. Quyển 175 số 2. tr. 437–442. doi:10.2214/ajr.175.2.1750437. ISSN 0361-803X. PMID 10915690.
  25. ^ Daniels, P.; Ksiazek, T.; Eaton, B. T. (tháng 4 năm 2001). "Laboratory diagnosis of Nipah and Hendra virus infections". Microbes and Infection. Quyển 3 số 4. tr. 289–295. doi:10.1016/s1286-4579(01)01382-x. ISSN 1286-4579. PMID 11334746.