Olympique de Marseille
Bản mẫu:Infobox football club Olympique de Marseille (phát âm tiếng Pháp: [ɔlɛ̃pik də maʁsɛj], phương ngữ [olɛ̃ˈpikə də maχˈsɛjə]; tiếng Occitan: Olimpic de Marselha, phát âm [ulimˈpi de maʀˈsejɔ]), còn được gọi đơn giản là Marseille hoặc viết tắt OM (IPA: [o.ɛm], địa phương [oˈɛmə]), là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại thành phố Marseille, Pháp; được thành lập năm 1899 và phần lớn chơi ở các giải bóng đá hàng đầu nước Pháp suốt lịch sử tồn tại. Marseille đã chín lần vô địch giải hạng nhất Pháp Ligue 1, mười lần đoạt Cúp nước Pháp và là đội bóng Pháp đầu tiên từng đoạt chức vô địch UEFA Champions League sau trận thắng AC Milan 1-0 bằng bàn thắng của hậu vệ Basile Boli ngày 26 tháng 5 năm 1993.
Sau chức vô địch Cúp C1 này không lâu, OM bị phát hiện dính vào vụ bán độ đầy tai tiếng với đội bóng Valenciennes trong cùng mùa giải 1992-1993, kết quả là dù vô địch Pháp năm đó Marseille vẫn bị tước danh hiệu đồng thời bị phạt rớt xuống hạng nhì.
Từ mùa 1996-1997, Olympique Marseille trở lại chơi tại Giải hạng nhất Pháp Ligue 1. Phải đến mùa giải 2009 - 2010, Marseille mới lại giành được chức vô địch quốc gia Pháp.
Sân vận động Vélodrome có sức chứa 67.000 khán giả là sân nhà của đội OM, nằm ở phía nam thành phố Marseille. OM đã chơi tại đây từ năm 1937. Từ năm 1997, chủ sở hữu đội bóng là tỉ phú người Thụy Sĩ Robert Louis-Dreyfus.
Áo thi đấu truyền thống của Olympique de Marseille có màu trắng với những đường viền phụ màu xanh lơ. Khẩu hiệu bằng tiếng Pháp của đội Droit Au But có nghĩa là "Thẳng tiến tới khung thành" được in trên áo cùng với một ngôi sao tượng trưng cho một chức vô địch Champions League đã giành được. Marseille còn là đội bóng được yêu thích nhất nước Pháp, có lực lượng cổ động viên trung thành rất hùng hậu thường lấp đầy các khán đài sân Vélodrome giúp OM đạt số lượng trung bình khán giả đến sân lớn nhất tại Pháp, chẳng hạn chỉ số cho mùa 2007-2008 là 52.600 khán giả/trận.[1]
Lịch sử
Thời kì đầu
Theo ông André Gascard, người đã từng chơi bóng cho OM trước thế chiến thứ nhất, sau đó trở thành huấn luyện viên, tham gia công tác điều hành, rồi là người lưu trữ sử liệu của câu lạc bộ, thì Olympique de Marseille được thành lập bởi ông René Dufaure de Montmirail[2] vào năm 1892,[3] nhưng đến năm 1899 đội mới sử dụng tên gọi như ngày nay là Olympique de Marseille. Trước đó đội lần lượt mang tên Sporting Club, US Phocéenne, rồi Football Club de Marseille. Các điều lệ của câu lạc bộ được đại hội thành viên thông qua vào tháng 8 năm 1899.[4] Khẩu hiệu "Thẳng tiến tới khung thành" (Droit au but) bắt nguồn từ môn bóng bầu dục vốn là môn thể thao chính của câu lạc bộ lúc bấy giờ.
Cũng theo André Gascard, sau khi gia nhập USFSA năm 1898, mãi đến năm 1902 nhờ người Anh và người Đức mà môn bóng đá mới bắt đầu được chơi tại l'OM. Do có nguồn lực tài chính mạnh hơn và tổ chức tốt hơn các đội bóng khác cùng thành phố Marseille như Sporting, Stade, Phocéenne... nên OM đã trở thành câu lạc bộ thống trị làng bóng đá thành phố cảng lúc đó. Đội thời đó thi đấu ở sân stade de l'Huveaune.[5]
Năm 1904[6] đội giành chức vô địch Championnat du Littoral (Giải vô địch vùng Duyên hải) lần đầu sau khi đánh bại nhiều đội bóng khác ở Marseille và vùng phụ cận, rồi giành quyền dự vòng chung kết của giải vô địch bóng đá Pháp. Thời đó, từ "football" dùng cho môn bóng bầu dục, còn môn bóng đá được gọi là "association". Ở giải đấu cấp quốc gia, đội liên tiếp bốn lần thất bại tại trận bán kết vào các năm 1904, 1905, 1906, 1908.[6] Nhưng tiếp tục vô địch vùng Duyên hải thêm năm năm liên tiếp nữa. Phải đến cuối thập niên 1910, với sự trưởng thành của Stade Helvétique de Marseille, OM mới hết làm mưa làm gió ở miền Nam nước Pháp. Stade Helvétique sau đó làm điều mà Olympique de Marseille không làm được là đoạt 3 chức vô địch giải bóng đá Pháp do USFSA tổ chức trước khi thế chiến thứ nhất bùng nổ.[6]
Thập niên 1920
Từ thập niên 1920, l'OM bắt đầu trở thành một đội bóng lớn tại Pháp. Marino Dallaporta trở thành chủ tịch câu lạc bộ năm 1921 và mang về Marseille một số ngôi sao lớn.[5] Như tại mùa giải 1923-1924, hai tuyển thủ Pháp Édouard Crut và Jean Boyer đã được chiêu mộ về từ Paris.[7]
Olympique de Marseille đã ngay lập tức có được danh hiệu quốc gia đầu tiên khi liên tiếp đoạt ba chiếc Cúp bóng đá Pháp vào các năm 1924, 1926 và 1927, trong đó chiếc cúp năm 1924 là danh hiệu quan trọng đầu tiên đội có được sau khi đánh bại kình địch FC Sète, vốn là đội thống trị bóng đá Pháp thời đó, tại trận chung kết. Năm 1929, OM vô địch giải bóng đá nghiệp dư Pháp, tiền thân của Ligue 1 ngày nay.[8] Thời gian này nhiều tuyển thủ của đội tuyển Pháp đang chơi bóng tại Marseille, như Jules Dewaquez, Jean Boyer, Joseph Alcazar[9]
Chính vì những thành tích trên mà OM là một trong hai mươi đội bóng được chọn để tham gia giải vô địch bóng đá chuyên nghiệp đầu tiên của Pháp được tổ chức năm 1932. Đội bắt đầu chuyển sang hoạt động theo quy chế chuyên nghiệp.[10]
Kỷ nguyên chuyên nghiệp
Giải vô địch quốc gia chuyên nghiệp đầu tiên của Pháp được tổ chức vào năm 1932-1933 được chia làm hai bảng. OM đứng thứ hai ở bảng đấu của mình[11] sau đội vô địch giải là Olympique lillois, mặc dù Marseille đã hạ đội bóng phía Bắc nước Pháp tới 7 - 0 tại trận khai mạc giải.[12]
Mùa giải tiếp theo (1933-1934). Đội để vuột mất cú đúp đầu tiên trong lịch sử của mình sau khi cùng giành ngôi á quân ở các cúp Quốc gia và giải vô địch quốc gia sau FC Sète. Đáng tiếc nhất là tại giải vô địch quốc gia năm đó, khi Marseille còn ba trận đấu muộn trong khi Sète đã đấu tất cả các trận của mình và chỉ hơn OM đúng một điểm cũng như thua rất sa về hiệu số bàn thắng. OM chỉ cần hòa một trong ba trận đấu cuối là giành ngôi vô địch, tiếc là đội bóng thành phố cảng đã thất thủ ở cả ba trận đấu đó và ngậm ngùi về nhì.[13][14]
Năm 1937 Marseille lần đầu tiên vô địch giải chuyên nghiệp Pháp nhờ hiệu số bàn thắng +30 hơn đội xếp nhì FC Sochaux-Montbéliard có hiệu số +17 (tỉ số bàn thắng bàn thua 1,76 so với 1,33).[11] Hai danh hiệu khác mà OM giành được trong khoảng thời gian này là hai chiếc cúp bóng đá Pháp vào các năm 1935 và 1938.[15] Đội cũng giành ngôi á quân quốc gia vào các năm 1938, 1939.
Thập niên 1940
Năm 1938 Larbi Ben Barek ký hợp đồng với l'OM rồi trở thành "viên ngọc đen" của đội, nhưng thế chiến thứ hai đã kết thúc sự nghiệp của ông. Mùa bóng 1942-1943 ghi nhận rất nhiều kỉ lục của đội: 100 bàn thắng trong 30 trận; thắng Avignon 20-2 trong đó riêng cầu thủ Aznar ghi 9 bàn (gồm 8 bàn đầu tiên giúp OM dẫn 8-0); Aznar ghi tổng cộng 56 bàn sau 38 trận ở cả hai giải vô địch quốc gia và cúp quốc gia.
Năm 1948 OM vô địch Pháp nhờ trận hòa Sochaux cùng hai trận thắng quan trọng vào cuối mùa tại Stade Vélodrome trước Roubaix (6-0) và Metz (6-3) khi có sự trở lại của Aznar và Robin vào mùa xuân.
Năm 1952 đội suýt rớt hạng nhưng 31 bàn thắng của Gunnar Andersson đã giúp đội thoát được. Năm 1953 Andersson lập kỉ lục ghi 35 bàn thắng trong một mùa, còn OM thua OGC Nice 1-2 trong trận chung kết cúp nước Pháp năm 1954. OM thi đấu rất vất vả thời kì này nên rớt xuống hạng nhì lần đầu năm 1959. Trừ mùa 1962-1963 chơi tại hạng nhất thì từ năm 1959 đến 1965 OM chơi tại hạng nhì. Năm 1965, Marcel Leclerc thành chủ tịch đội bóng.
Kỷ nguyên của Marcel Leclerc và sự khủng hoảng
Khoảng thời gian Marcel Leclerc làm chủ tịch từ 1965 đến 1972 là kỷ nguyên đầu tiên OM thống trị giải vô dịch Pháp. Tham vọng của ông giúp OM trở lại Ligue 1 năm 1965 rồi sau đó đoạt cúp bóng đá Pháp năm 1969. Mùa 1970-1971, Roger Magnusson đã hỗ trợ tiền đạo Josip Skoblar ghi 44 bàn tại Ligue 1 giúp OM đoạt chức vô địch, còn Skoblar đoạt chiếc giày vàng châu Âu. Mùa 1971-1972, sự xuất hiện của hai cầu thủ Georges Carnus và Bernard Bosquier từ AS Saint-Etienne giúp OM giành cú đúp vô địch Ligue 1 và cúp nước Pháp.
Nhưng thành công không kéo dài được bao lâu khi ngày 19 tháng 7 năm 1972 Marcel Leclerc bị buộc rời khỏi đội. Vị chủ tịch cứng rắn này dọa sẽ rút OM khỏi Ligue 1 do liên đoàn không chấp nhận một đội bóng có ba cầu thủ nước ngoài, trong khi ông muốn mang về ngôi sao Hungary Zoltán Varga mà OM đã có đủ hai cầu thủ ngoại quốc theo quy định thời đó. Bất ngờ OM thay vì ủng hộ đã sa thải ông, bắt đầu thời kì khủng hoảng của đội với chỉ một cúp nước Pháp năm 1976 rồi bị rớt xuống hạng nhì.[16] Marseille chơi ở hạng nhì tám năm với đội hình gồm rất nhiều cầu thủ trẻ (như Éric Di Meco) sau này giúp đội trở lại hạng nhất năm 1984.
Kỷ nguyên của Bernard Tapie
Ngày 12 tháng 4 năm 1986 nhờ sự hậu thuẫn của thị trưởng Marseille Gaston Defferre, ông Bernard Tapie trở thành chủ tịch đội bóng, bắt đầu thời kì tạo nên đội hình mạnh nhất trong lịch sử bóng đá Pháp. Hai hợp đồng chất lượng đầu tiên ông mang về OM là Karl-Heinz Forster và Alain Giresse sau Giải vô địch bóng đá thế giới năm 1986. Những năm tiếp theo ông ký hàng loạt hợp đồng với rất nhiều danh thủ như Jean-Pierre Papin, Chris Waddle, Klaus Allofs, Enzo Francescoli, Abedi Pelé, Didier Deschamps, Basile Boli, Marcel Desailly, Rudi Völler, Eric Cantona, cùng nhiều huấn luyện viên nổi tiếng như Franz Beckenbauer, Gérard Gili, Raymond Goethals với tham vọng mang về nhiều thành tích cho đội. Từ năm 1989 đến 1992, OM vô địch Ligue 1 bốn lần liên tiếp cùng một Cúp bóng đá Pháp. Đỉnh cao của OM thời kì này là chức vô địch Champions League bằng bàn thắng của hậu vệ Basile Boli vào lưới AC Milan trong trận chung kết ngày 26 tháng 5 năm 1993 trên sân vận động Olympic tại Munich, Đức. Đây cũng là chức vô địch Champions League duy nhất bóng đá Pháp đạt được đến bây giờ, đồng thời giúp Didier Deschamps trở thành đội trưởng trẻ nhất còn Fabien Barthez là thủ môn trẻ nhất từng đoạt danh hiệu này.
Vụ bán độ OM/Valenciennes
Thành công này không ngờ là điểm bắt đầu cho một thập niên xuống dốc của đội khi chủ tịch Tapie bị phát hiện đã dàn xếp một vụ bán độ tai tiếng bậc nhất trong lịch sử bóng đá Pháp, là vụ bán độ OM/VA. Ông đã mua chuộc các cầu thủ đội Valenciennes (VA) trước trận OM-VA mùa 1992-1993 để đảm bảo Marseille thắng trận để vô địch sớm và không ai bị thương trước trận chung kết Champions League với AC Milan diễn ra ngay sau đó. Hậu quả là OM bị tước chức vô địch Ligue 1 mùa 1992-1993, không được tham dự cúp châu Âu và cúp liên lục địa mùa kế tiếp, đồng thời bị đánh rớt xuống giải hạng nhì Pháp Ligue 2.
Con đường trở lại vinh quang?
Marseille trở lại hạng nhất năm 1996 do sự hậu thuẫn của ông chủ mới của đội Robert Louis-Dreyfus cũng là chủ hãng Adidas. Ông chọn Rolland Courbis làm huấn luyện viên, ký hợp đồng với các cầu thủ Fabrizio Ravanelli, Laurent Blanc, Andreas Köpke để cuối mùa bóng 1996-1997 OM xếp thứ 11. Mùa 1998-1999 OM kỉ niệm 100 năm thành lập với đội hình gồm những ngôi sao như Robert Pirès, Florian Maurice, Christophe Dugarry, William Gallas và vị trí thứ hai sau Girondins Bordeaux tại Ligue 1. Cũng mùa này, đội lọt vào chung kết UEFA Cup rồi thua Parma 0-3. Tháng 11 năm 1999, Courbis phải rời đội do khởi đầu mùa bóng mới khá thất vọng.
Năm 2004 OM lại vào trận chung kết cúp UEFA, sau khi lần lượt đánh bại Dnipro Dnipropetrovsk, Inter Milan, Liverpool và Newcastle United đầy ấn tượng rồi lại thua Valencia bấy giờ vừa vô địch Tây Ban Nha với tỉ số 0-2. Người hâm mộ OM lại phải tiếp tục chờ một chức vô địch quan trọng từ 1993 đến nay.
Tháng 1 năm 2007, doanh nhân Canada Jack Kachkar đàm phán với Dreyfus để mua OM nhưng do ông thương thảo quá lâu nên ngày 22 tháng 3 ông Dreyfus quyết định không bán đội.[17]
Tháng 5 năm 2007 OM vào trận chung kết Cúp bóng đá Pháp gặp FC Sochaux-Montbéliard, và lại thua trên loạt sút luân lưu sau khi hòa 2-2 trong giờ đấu chính thức. Đội kết thúc mùa 2006-2007 ở hạng thứ hai sau Lyon, giành quyền tham dự Champions League mùa sau. Trước đó đội đã thua PSG 1-2 trong trận chung kết cúp quốc gia năm 2006.
Tại giải Champions League, bằng trận thắng bất ngờ 1-0 trên sân Anfield của Liverpool năm 2007 bởi bàn thắng đẹp của Mathieu Valbuena, OM là đội bóng Pháp đầu tiên thắng tại sân nhà Liverpool. Nhưng đội lại thua Liverpool 0-4 tại Vélodrome qua đó Liverpool là đội bóng Anh đầu tiên thắng trận tại đây.[18]
Đầu tháng 5 năm 2009 khi OM đang dẫn đầu Ligue 1 thì huấn luyện viên Eric Gerets tuyên bố sẽ ra đi vào cuối mùa, và việc này đã gây ít nhiều xáo trộn trong đội. Ngay sau đó ban lãnh đạo Marseille tuyên bố Didier Deschamps cựu cầu thủ OM sẽ dẫn dắt đội từ mùa bóng 2009-2010.
Tại mùa bóng đầu tiên dẫn dắt Marseille, Deschamps đã đưa Marseille đến chức vô địch nước Pháp lần thứ 9 trong lịch sử sau 18 năm chờ đợi. Cùng trong mùa giải 2009 - 2010, Marseille còn giành chiếc cúp Liên đoàn lần đầu tiên.
Sau khi ông chủ Robert Louis-Dreyfus qua đời, Marseille được chuyển giao cho con gái của ông Robert Louis-Dreyfus. Ở mùa giải 2010 - 2011, đội bóng đã lọt vào vòng 2 của Champions League. Kết thúc mùa giải, Marseille bảo vệ thành công chiếc cúp Liên đoàn, song chỉ xếp thứ 2 ở Ligue 1 và để mất chức vô địch vào tay Lille.
Vào mùa hè năm 2012, sau khi Deschamps từ chức để dẫn dắt đội tuyển Pháp, Élie Baup đã được chọn làm người kế nhiệm. Dưới sự chèo lái của Baup, Marseille đã gây bất ngờ khi giành ngôi Á quân mùa giải 2012–13, dù trước đó họ đã chia tay hàng loạt trụ cột như Loïc Rémy, César Azpilicueta và Stéphane Mbia. Trở lại đấu trường Champions League, đội bóng đã chi mạnh tay gần 40 triệu euro cho các tân binh như Dimitri Payet, Florian Thauvin và Giannelli Imbula. Dù khởi đầu thuận lợi và dẫn đầu bảng xếp hạng quốc nội vào cuối tháng 8 năm 2013, nhưng tại châu Âu, OM lại gây thất vọng lớn khi thua trắng cả sáu trận. Kết quả này khiến họ trở thành đội bóng Pháp đầu tiên, và là câu lạc bộ danh tiếng nhất châu Âu tính đến lúc bấy giờ, kết thúc vòng bảng Champions League với 0 điểm tròn trĩnh Thất bại 0–1 trước Nantes ngay tại Stade Vélodrome vào ngày 7 tháng 12 năm 2013 đã khiến Baup bị sa thải. José Anigo lên nắm quyền tạm thời, nhưng trong nhiệm kỳ ngắn ngủi này, OM liên tiếp bị loại khỏi các giải đấu cúp và thi đấu sa sút, dẫn đến làn sóng la ó, phản đối dữ dội từ các cổ động viên. Câu lạc bộ khép lại mùa giải 2014 ở vị trí thứ sáu, chính thức vắng mặt tại đấu trường châu Âu lần đầu tiên sau một thập kỷ. Sau đó, Anigo cũng rời đội để chuyển sang làm công tác đại sứ và tuyển trạch tại Bắc Phi. Đây là lần đầu tiên ông rời xa thành phố cảng sau hơn 40 năm gắn bó.
Kỷ nguyên Bielsa và sự sa sút
Ngày 2 tháng 5 năm 2014, Marseille thông báo bổ nhiệm Marcelo Bielsa vào chiếc ghế huấn luyện viên. Bielsa trở thành chiến lược gia người Argentina đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ, đồng thời là người đầu tiên dẫn dắt đội bóng thi đấu tại Vélodrome sau khi sân vận động này hoàn tất cải tạo và mở cửa trở lại vào tháng 8 trong trận gặp Montpellier. Trong mùa giải đầu tiên dưới thời Bielsa, đội bóng đã đứng ngôi đầu bảng xếp hạng suốt bảy tháng, nhưng sau cùng chỉ cán đích ở vị trí thứ tư và giành vé tham dự UEFA Europa League. Tháng 6 năm 2015 chứng kiến sự ra đi của ba trụ cột: André-Pierre Gignac và André Ayew lần lượt gia nhập Tigres và Swansea City sau khi hết hạn hợp đồng, trong khi Dimitri Payet chuyển sang West Ham United với mức giá 15 triệu euro.
Sau một giai đoạn tiền mùa giải đầy hứa hẹn với chiến thắng 2–0 trước Juventus tại cúp giao hữu Robert Louis-Dreyfus và việc chiêu mộ thành công chín tân binh, Bielsa bất ngờ từ chức chỉ vài phút sau trận mở màn Ligue 1 2015–16 gặp Caen. Thất bại 1–0 trong trận đấu đó đã bị che mờ bởi quyết định gây sốc của Bielsa; ông tuyên bố mất niềm tin vào ban lãnh đạo câu lạc bộ khi cho rằng họ đã lật lọng trong việc gia hạn hợp đồng. Sự ra đi đột ngột của Bielsa khiến các cầu thủ sững sờ, nhiều người trong số họ chỉ biết tin qua mạng xã hội ngay trong phòng thay đồ.
Vào ngày 19 tháng 8 năm 2015, Míchel được công bố là huấn luyện viên mới của Marseille. Tuy nhiên, ông đã trải qua một mùa giải đáng thất vọng khi OM không thể giành nổi một chiến thắng nào trên sân nhà tại Ligue 1 trong suốt hơn sáu tháng. Sau chuỗi thành tích bết bát, Míchel bị bà chủ câu lạc bộ Margarita Louis-Dreyfus sa thải vào tháng 4 với lý do "có hành vi không phù hợp" trong công tác huấn luyện. Quyết định này được đưa ra ngay trước thềm trận bán kết Coupe de France. Giống như năm 2015, Franck Passi lại được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền. Dưới sự dẫn dắt của ông, Marseille lần đầu tiên lọt vào chung kết Coupe de France sau chín năm, nhưng đã để thua 2–4 trước kình địch Paris Saint-Germain. OM kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 13, thứ hạng thấp nhất của câu lạc bộ trong vòng 15 năm.
2016–nay: Chủ sở hữu mới và sự hồi sinh
Marseille bắt đầu mùa giải 2016–17 với huấn luyện viên tạm quyền Franck Passi. Vào ngày 29 tháng 8 năm 2016, doanh nhân người Mỹ Frank McCourt thông báo đã đạt được thỏa thuận mua lại câu lạc bộ từ tay bà Margarita Louis-Dreyfus.[19] Thương vụ được hoàn tất vào ngày 17 tháng 10 năm 2016 với mức giá báo cáo là 45 triệu euro.[20] Chỉ trong vài ngày sau đó, McCourt đã bổ nhiệm Jacques-Henri Eyraud làm chủ tịch, Rudi Garcia làm huấn luyện viên trưởng và Andoni Zubizarreta làm giám đốc thể thao.[21]
Ngày 3 tháng 5 năm 2018, Marseille tiến vào trận chung kết UEFA Europa League 2017–18 sau khi vượt qua Red Bull Salzburg với tổng tỷ số 3–2 ở bán kết. Đây là trận chung kết châu lục đầu tiên của họ sau 14 năm kể từ trận chung kết năm 2004 gặp Valencia. Tuy nhiên, họ đã thất thủ trong trận chung kết trước Atlético Madrid.[22]
Tại mùa giải 2019–20, dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên trưởng André Villas-Boas, Marseille đã giành ngôi Á quân Ligue 1 sau khi mùa giải bị kết thúc sớm do đại dịch COVID-19. Kết quả này giúp họ giành quyền tham dự UEFA Champions League 2020–21 lần đầu tiên kể từ mùa 2013–14.[23]
Tháng 2 năm 2021, sau chuỗi trận thất bại, mâu thuẫn với cầu thủ và sự thiếu ủng hộ từ ban lãnh đạo, André Villas-Boas đã nộp đơn từ chức. Quyết định này diễn ra chỉ ba ngày sau một vụ bạo động dữ dội của người hâm mộ Marseille tại sân tập, khiến trận đấu với Rennes phải hoãn lại. Marseille sau đó đã sa thải Villas-Boas và bổ nhiệm chiến lược gia người Argentina Jorge Sampaoli thay thế. Câu lạc bộ cũng bổ nhiệm Pablo Longoria làm tân Chủ tịch thay thế Jacques-Henri Eyraud.[24]
Vào tháng 1 năm 2022, cầu thủ Pape Gueye của Marseille đã bị FIFA cấm thi đấu 4 tháng, đồng thời Marseille cũng phải nhận án phạt cấm chuyển nhượng trong cả hai kỳ mùa hè 2022 và tháng 1 năm 2023, kèm theo khoản bồi thường 2,5 triệu euro cho Watford. Án phạt này xuất phát từ vụ kiện của đội bóng Anh liên quan đến việc chuyển nhượng Gueye – người ban đầu đã ký hợp đồng với Watford nhưng sau đó hủy kèo để gia nhập Marseille vì phát hiện người đại diện lừa dối về mức lương. Marseille sau đó đã nộp đơn kháng cáo quyết định này của FIFA.[25]
Tại mùa giải 2021–22, Marseille cán đích ở vị trí thứ hai, qua đó giành vé trở lại Champions League lần đầu tiên kể từ năm 2020. Ở vòng đấu cuối cùng, họ đã lách qua khe cửa hẹp nhờ bàn gỡ hòa muộn của Lens trong trận hòa 2–2 với Monaco, giúp Marseille vượt mặt đối thủ trên bảng xếp hạng.[26]
Sân vận động
Từ năm 1904 đến 1937, Marseille chơi tại sân Stade de l'Huveaune sức chứa 15 000 khán giả do chính đội sở hữu, khác với sân Stade Vélodrome hiện nay do đội thuê lại. Từ năm 1937 đến nay OM thuê Stade Vélodrome làm sân nhà tuy vậy có một số thời điểm đội vẫn dùng sân l'Huveaune, như thời Marcel Leclerc để buộc chính quyền thành phố Marseille phải giảm giá cho thuê sân Vélodrome, hoặc khi sân Vélodrome sửa chữa chuẩn bị cho vòng chung kết Euro 1984 và World Cup 1998.
Lần sửa năm 1998 tạo thêm hai khán đài bắc (Virage Nord) và khán đài nam (Virage Sud) cùng với hai khán đài chính Jean Bouin và Ganay có tổng sức chứa 60 013 khán giả, thường xuyên đầy kín các cổ động viên trung thành của đội. Người hâm mộ hy vọng chính quyền thành phố sẽ sớm tăng sức chứa cũng như lợp mái che tất cả các khán đài.
Trước mỗi trận đấu tại Vélodrome người ta thường được nghe bài hát Jump của ban nhạc rock Van Halen, còn khi OM ghi bàn cổ động viên hay hát bài Come with Me của Puff Daddy.
Hiện tại, để chuẩn bị cho Euro 2016, một dự án nâng cấp sân Velodrome đã được thông qua, theo đó, toàn bộ khán đài sẽ được lợp mái che và sức chứa sẽ lên tới 65000 đến 70000 người.
Cổ động viên
Không khí trên sân Stade Vélodrome khi OM thi đấu luôn sôi động so sự cuồng nhiệt của khán giả, đặc biệt từ sức cổ vũ của các hội cổ động viên của đội ở hai khán đài bắc và nam phía sau khung thành. Họ thường sử dụng pháo sáng, những lá cờ to và thường ngồi xếp thành biểu trưng của đội bóng.
- Khán đài bắc-Patrice de Peretti
Khán đài bắc dành cho các hội cổ động viên Yankee Nord Marseille, Marseille Trop Puissant, Fanatics, Dodgers. Các hội thường mua vé xem trọn mùa từ đầu giải rồi chia lại cho các hội viên. Từ năm 2002 khán đài bắc chính thức mang tên Patrice de Peretti (1972-2000), cố sáng lập viên đồng thời là lãnh đạo hội cổ động viên Marseille Trop Puissant.
- Khán đài nam
Khán đài nam thường dành cho các hội cổ động viên Commando Ultras 1984, South Winners, Amis de l'OM, Club Central des Supporteurs.
- Livorno - AEK - Marseille
Giữa ba đội bóng AS Livorno (Ý), AEK Athens (Hy Lạp), và Olympique Marseille có quan hệ rất mật thiết. Cổ động viên OM thường trưng biểu ngữ ủng hộ hai câu lạc bộ này.
Các mùa bóng của Olympique de Marseille
Các kỷ lục
- Đội bóng Pháp đầu tiên vô địch Champions League/European Cup: 1993
- Bị thủng lưới ít nhất trong một mùa bóng: 21 bàn thua (mùa 1991-1992).
- Thắng trên sân khách nhiều nhất trong một mùa: 12 trận (mùa 1971-1972). (kỉ lục ngang với Saint-Etienne và Lyon).
- Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa: Josip Skoblar, 44 bàn, đoạt chiếc giày vàng châu Âu mùa 1970-1971.
Danh hiệu
OM đã 9 lần vô địch hạng nhất Pháp, xếp sau AS Saint-Étienne với 10 lần, Marseille hai lần đoạt "cú đúp" gồm chức vô địch hạng nhất và cúp quốc gia năm 1972 và 1989. Đội cũng là câu lạc bộ Pháp duy nhất từng vô địch UEFA Champions League với danh hiệu năm 1993.
Danh hiệu quốc tế
- Tập tin:Coppacampioni.png UEFA Champions League/Cúp C1
- Vô địch (1): 1993
- UEFA Cup
- Cúp Intertoto:
- Vô địch (1): 2005
Danh hiệu trong nước
- Division 1/Ligue 1[27]
- Vô địch (9): 1937, 1948, 1971, 1972, 1989, 1990, 1991, 1992, 2010
- Division 2
- Vô địch (1): 1995
- Cúp bóng đá Pháp
- Vô địch (10): 1924, 1926, 1927, 1935, 1938, 1943, 1969, 1972, 1976, 1989
- Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp
- Vô địch (3): 2010, 2011, 2012
- Challenge des champions[28]
- Vô địch (3): 1971, 2010, 2011
- Coupe Charles Drago
- Vô địch (1): 1957
- Championnat de France Amateurs
- Vô địch (1): 1929
Danh hiệu vùng
- Championnat DH Sud-Est
- Vô địch (4): 1927, 1929, 1930, 1931
- Championnat USFSA Littoral
- Vô địch (6): 1904, 1905, 1906, 1907, 1908, 1919
Các giải giao hữu
- 1 Tournament of Bruxelles (1937)
- 1 Ludo Coeck Trophy (1987)
- 1 Tournament of Auxerre (1988)
- 1 Tournament of Marseille (1990)
- 1 Tournament of Paris (1991)
- 1 Tournoi de l'Amitié (1992)
- 1 Mediterranean Cup (1995)
- 1 Coupe des Rois (2000)
- 1 Défi Celte TV Breizh (2001)
- 1 Ciutat de Barcelona Trophy (2005)
- 1 Challenge Michel Moretti (2008)
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
Bản mẫu:Fs start Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs mid Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs end
Cho mượn
Bản mẫu:Fs start Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs mid Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs end
Đội dự bị và đội trẻ
Bản mẫu:Fs start Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs mid Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs player Bản mẫu:Fs end
Cầu thủ nổi tiếng
Bản mẫu:Col-begin-small Bản mẫu:Col-4
- Pháp Manuel Amoros (1989-1993)
- Pháp Fabien Barthez (1992-1995), (2002-2006)
- Pháp Laurent Blanc (1997-1999)
- Pháp Alain Boghossian (1993-1994)
- Pháp Basile Boli (1990-1994)
- Pháp Joseph Bonnel (1967-1973)
- Pháp Éric Cantona (1988-1991)
- Pháp Benoît Cauet (1987-1990)
- Pháp Benoît Cheyrou (2007-nay)
- Pháp Djibril Cissé (2006-2008)
- Pháp Didier Deschamps (1989-1990), (1991-1994)
- Pháp Éric Di Meco (1981-1986), (1988-1994)
- Pháp Alou Diarra (2011-2012)
- Pháp Jean Djorkaeff (1966-1970)
- Pháp Jean-François Domergue (1986-1988)
- Pháp Christophe Dugarry (1998-2000)
- Pháp Mathieu Flamini (2003-2004)
- Pháp William Gallas (1997-2001)
- Pháp Bernard Genghini (1986-1988)
- Pháp André-Pierre Gignac (2010-2015)
- Pháp Alain Giresse (1986-1988)
- Pháp Sabri Lamouchi (2005-2006)
- Pháp Frank Leboeuf (2001-2003)
- Pháp Bixente Lizarazu (2004-2005)
- Pháp Steve Mandanda (2007-nay)
- Pháp Florian Maurice (1998-2001)
- Pháp Samir Nasri (2004-2008)
- Pháp Dimitri Payet (2013-2015), (2017-nay)
- Pháp Bruno N'Gotty (2001-2002)
- Pháp Pascal Olmeta (1990-1993)
- Pháp Robert Pirès (1998-2000)
- Pháp Jean-Pierre Papin (1986-1992)
- Pháp Loïc Rémy (2010-2013)
- Pháp Franck Ribéry (2005-2007)
- Pháp Franck Sauzée (1988-1990), (1991-1993)
- Pháp Didier Six (1978-1980)
- Pháp Mathieu Valbuena (2006-nay)
- Pháp Sylvain Wiltord (2009)
- Pháp Mario Zatelli (1935-1938), (1944-1948)
- Pháp Jules Zvunka (1966-1973)
- Pháp Bản mẫu:Country data Democratic Republic of the Congo Claude Makélélé (1997-1998)
- Pháp Bản mẫu:Country data Ghana Marcel Desailly (1992-1993)
- Pháp Bản mẫu:Country data Guadeloupe Jocelyn Angloma (1991-1994)
- Pháp Bản mẫu:Country data Guadeloupe Marius Trésor (1972-1980)
- Pháp Bản mẫu:Country data Mali Jean Tigana (1989-1991)
- Pháp Bản mẫu:Country data Senegal Ibrahim Ba (2002)
- Pháp Bản mẫu:Country data Democratic Republic of the Congo Yssa Christian Catulusi (1996-1998)
- Bản mẫu:Country data Albania Lorik Cana (2005-2009)
- Bản mẫu:Country data Algeria Brahim Hemdani (2001-2005)
- Bản mẫu:Country data Algeria Foued Kadir (2013-nay)
- Bản mẫu:Country data Algeria Karim Ziani (2007-2009)
- Bản mẫu:Country data Argentina Lucho González (2009-2012)
- Bản mẫu:Country data Argentina Gabriel Heinze (2009-2011)
- Bản mẫu:Country data Argentina Héctor Rial (1962-1963)
- Bản mẫu:Country data Argentina Héctor Yazalde (1976-1977)
- Bản mẫu:Country data Argentina Renato Civelli (2006-2007) (2008-2009)
- Bỉ Daniel van Buyten (2001-2004)
- Bản mẫu:Country data Bosnia Blaž Slišković (1986-1987)
- Bản mẫu:Country data Brazil Sonny Anderson (1993-1994)
- Bản mẫu:Country data Brazil Brandão (2009-2012)
- Bản mẫu:Country data Brazil Hilton (2008-2011)
- Bản mẫu:Country data Brazil Jaguaré (1936-1939)
- Bản mẫu:Country data Brazil Jairzinho (1974-1975)
- Bản mẫu:Country data Brazil Paulo Cézar Lima (1974-1975)
- Bản mẫu:Country data Brazil Carlos Mozer (1989-1992)
- Bulgaria Yordan Letchkov (1996-1997)
- Bản mẫu:Country data Cameroon Joseph-Antoine Bell (1985-1988)
- Bản mẫu:Country data Cameroon Stéphane Mbia (2009-2012)
- Bản mẫu:Country data Cameroon Nicolas Nkoulou (2011-nay))
- Bản mẫu:Country data Cameroon François Omam-Biyik (1992)
- Bản mẫu:Country data Cameroon Joseph Yegba Maya (1962-1970)
- Bản mẫu:Country data Ivory Coast Cyril Domoraud (1997-1999)
- Bản mẫu:Country data Ivory Coast Didier Drogba (2003-2004)
- Bản mẫu:Country data Ivory Coast Bakari Koné (2008-2010)
- Bản mẫu:Country data Croatia Alen Bokšić (1992-1993)
- Bản mẫu:Country data Croatia Vedran Runje (2001-2004)
- Bản mẫu:Country data Croatia Josip Skoblar (1966-1967), (1969-1975)
- Bản mẫu:Country data Egypt Mido (2003-2004)
- Đức Klaus Allofs (1987-1989)
- Đức Karlheinz Förster (1986-1990)
- Đức Andreas Köpke (1996-1998)
- Đức Rudi Völler (1992-1994)
- Bản mẫu:Country data Ghana André Ayew (2007-2008) (2010-nay)
- Bản mẫu:Country data Ghana Jordan Ayew (2009-nay)
- Bản mẫu:Country data Ghana Abedi Pelé (1987-1989), (1990-1993)
- Bản mẫu:Country data England Joey Barton (2012-nay)
- Bản mẫu:Country data England Laurie Cunningham (1984-1985)
- Bản mẫu:Country data England Trevor Steven (1991-1992)
- Bản mẫu:Country data England Chris Waddle (1989-1992)
- Cộng hòa Ireland Tony Cascarino (1994-1997)
- Bản mẫu:Country data Italy Angelo Bollano (1948-1950)
- Bản mẫu:Country data Italy Fabrizio Ravanelli (1998-2000)
- Bản mẫu:Country data Liberia George Weah (2000-2001)
- Bản mẫu:Country data Mali Salif Keita (1972-1973)
- Bản mẫu:Country data Mali Seydou Keita (1999-2000)
- Bản mẫu:Country data Morocco Larbi Benbarek (1938-1939), (1953-1955)
- Bản mẫu:Country data Poland Piotr Świerczewski (2001-2003)
- Bồ Đào Nha Paulo Futre (1993-1994)
- Bồ Đào Nha Rui Barros (1993-1994)
- Hà Lan Boudewijn Zenden (2007-2009)
- Bản mẫu:Country data Nigeria Taye Taiwo (2005-2011)
- Nga Igor Dobrovolski (1992-1993)
- Nga Dmitri Sychev (2002-2004)
- Bản mẫu:Country data Senegal Habib Beye (2003-2007)
- Bản mẫu:Country data Senegal Souleymane Diawara (2009-nay)
- Bản mẫu:Country data Senegal Mamadou Niang (2005-2010)
- Bản mẫu:Country data Serbia Dragan Stojković (1990-1994)
- Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha César Azpilicueta (2010-2012)
- Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha Rafael Martín Vázquez (1992)
- Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha Iván de la Peña (1999-2000)
- Bản mẫu:Country data Tây Ban Nha Alfonso Pérez (2001-2002)
- Bản mẫu:Country data South Africa Piere Issa (1995-2000)
- Bản mẫu:Country data South Africa Steve Mokone (1958-1959)
- Thụy Điển Gunnar Andersson (1950-1958)
- Thụy Điển Dan Ekner (1950-1951)
- Thụy Điển Klas Ingesson (2000-2001)
- Thụy Điển Anders Linderoth (1977-1980)
- Thụy Điển Roger Magnusson (1968-1974)
- Bản mẫu:Country data Thụy Sĩ Fabio Celestini (2002-2004)
- Bản mẫu:Country data Uruguay Enzo Francescoli (1989-1990)
|}
Quả bóng vàng châu Âu
Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu khi đang chơi cho Olympique de Marseille:
Chiếc giày vàng châu Âu
Cầu thủ đoạt giải Chiếc giày vàng châu Âu khi đang chơi cho Olympique de Marseille:
- Bản mẫu:Country data YUG Josip Skoblar (44 bàn) – 1971
Huấn luyện viên và chủ tịch nổi tiếng
Bản mẫu:Col-begin-small Bản mẫu:Col-2
- Huấn luyện viên
- Pháp Mario Zatelli
- Pháp Lucien Leduc
- Bỉ Raymond Goethals
- Pháp Rolland Courbis
- Bản mẫu:Country data Croatia Tomislav Ivić
- Đức Franz Beckenbauer
- Bản mẫu:Country data ESP Javier Clemente
- Bỉ Eric Gerets
- Pháp Didier Deschamps
- Bản mẫu:Country data Argentina Marcelo Bielsa
- Chủ tịch
|}
Tham khảo
- Alain Pécheral (2007). La grande histoire de l'OM. L'Équipe. ISBN 2-916400-07-9.
- Thierry Agnello (2008). Droit au but: l'histoire de l'Olympique de Marseille. Hugo Sport. ISBN 978-2-7556-0183-1.
Ghi chú
- ^ "Attendances 2007/08". ligue1.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009.
- ^ (bằng tiếng Pháp) "L'histoire de l'Olympique de Marseille". om4ever.com. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008.
- ^ (bằng tiếng Pháp) "L'Olympique de Marseille". Football magazine. Số 23. tháng 12 năm 1961. tr. 12.
- ^ (bằng tiếng Pháp) Pécheral, Alain (2007). L'Équipe (biên tập). La grande histoire de l'OM (Des origines à nos jours). tr. tr. 10-11. ISBN 2916400079.
- ^ a ă (bằng tiếng Pháp) Collectif. L'Équipe (biên tập). Olympique de Marseille - Un club à la une. tr. tr. 7. ISBN 2915535019.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|yẻa=(trợ giúp) - ^ a ă â (bằng tiếng Anh) Frédéric Pauron (ngày 24 tháng 4 năm 2004). "France 1892-1919". rsssf.com. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008.
- ^ (bằng tiếng Pháp) "La Saison 1922-1923, l'OM recrute des vedettes". Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|source=(trợ giúp) - ^ (bằng tiếng Pháp) "Finale du Championnat de France 1929 OM Club Français 3 à 2". om4ever.com. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008.
- ^ "History of l'OM". OM official site. ngày 8 tháng 4 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2007.
- ^ "La Saison 1931/1932, l'OM Champion du Sud-Est adhère au professionnalisme". om4ever.com. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008.
- ^ a ă (bằng tiếng Anh) "France - First Division Results and Tables 1932-1998". rsssf.com. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008.
- ^ "Première journée du championnat de France 1932-1933". lfp.fr. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008.
- ^ (bằng tiếng Pháp) Collectif (2007). L'Équipe (biên tập). Coupe de France: la folle épopée. tr. tr. 350. ISBN 2915535620.
- ^ (bằng tiếng Pháp) Collectif (1982). Atlas (biên tập). 100 ans de football en France. tr. tr. 131-132. ISBN 2731201088.
- ^ (bằng tiếng Pháp) Collectif (2007). L'Équipe (biên tập). Coupe de France: la folle épopée. tr. tr. 431. ISBN 2915535620.
- ^ France Football, N°2936 bis, PP 28-29 La nuit des longs couteaux à l'OM
- ^ "Kachkar, It's over now". RTL. ngày 29 tháng 3 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2007.
- ^ Marseille 0-4 Liverpool BBC Sport - ngày 11 tháng 12 năm 2007
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênThe Wall Street Journal - ^ "Marseille: Frank McCourt promises £180m investment after buying Ligue 1 club". BBC Sport. ngày 17 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Andoni Zubizarreta nommé directeur sportif de l'OM". OM.net. ngày 27 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2016.
- ^ "UEFA Europa League – Marseille-Atlético". UEFA. ngày 18 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2018.
- ^ "Marseille keep Champions League place despite breaking UEFA FFP rules". Goal.com. ngày 19 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2020.
- ^ Laurens, Julien (ngày 5 tháng 2 năm 2021). "Marseille in crisis: Why fans invaded training ground, why Villas-Boas left, what's next for club". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2021.
- ^ "L'OM interdit de recrutement dans l'affaire Pape Gueye ?". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2022.
- ^ "L'OM en Ligue des champions, Monaco en tour préliminaire et Rennes en Ligue Europa" [OM in the Champions League, Monaco in the preliminary round and Rennes in the Europa League]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 21 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022.
- ^ Trước năm 2002, giải vô địch bóng đá Pháp có tên là Division 1.
- ^ The trophy was known as Challenge des champions until 1995, and as Trophée des Champions ever since.
- ^ "First Team - Season 2025–2026". Olympique de Marseille. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025.
Liên kết ngoài
- (bằng tiếng Pháp và tiếng Anh) OM.net Trang web chính thức
- (bằng tiếng Việt) Marseille: Kẻ bị số phận thử thách Lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2009 tại Wayback Machine Cập nhật tình hình đội bóng, và một số bổ sung, thay đổi...
- Trang có lỗi chú thích
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Pháp (fr)
- Lỗi CS1: tham số không rõ
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có IPA tiếng Pháp
- Bài viết có văn bản tiếng Occitan (post 1500)
- Trang có IPA tiếng Occitan
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Câu lạc bộ bóng đá Pháp
- Marseille
- Câu lạc bộ Ligue 1
- Olympique de Marseille
- Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1899
- Câu lạc bộ G-14
- Câu lạc bộ bóng đá Marseille
- Khởi đầu năm 1899 ở Pháp
- Câu lạc bộ vô địch UEFA Champions League
- Câu lạc bộ vô địch UEFA Intertoto