PLZ-05
| PLZ-05 | |
|---|---|
PLZ-05 trưng bày tại Bảo tàng Quân sự Cách mạng Nhân dân Trung Quốc ở Bắc Kinh | |
| Loại | Pháo tự hành |
| Nơi chế tạo | Trung Quốc |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Norinco |
| Năm thiết kế | những năm 1990 |
| Nhà sản xuất | Norinco |
| Giai đoạn sản xuất | 2003–2025 |
| Thông số | |
| Khối lượng | 35 đến 45 tấn[1] |
| Chiều dài | 11,60 m |
| Chiều rộng | 3,38 m |
| Chiều cao | 3,55 m |
| Kíp chiến đấu | 4 |
| Cỡ đạn | 155 mm |
| Cỡ nòng | L/52 (PLZ-05 & PLZ-05A) L/54 (PLZ-04) |
| Xoay ngang | 360° |
| Tốc độ bắn | 8-10 phát/phút (PLZ-05)[2] 8-10 viên/phút (PLZ-05A) Tốc độ bắn loạt: 4 phát trong 15 giây (PLZ-05)[3] |
| Tầm bắn xa nhất | Tùy thuộc loại đạn pháo. 20km (laser-homing) 39km (ERFB-BB)[2] 50km (ERFB-BB-RA)[4][5] 60km (WS-35B)[6] |
Vũ khí chính | Pháo 155mm |
Vũ khí phụ | Đại liên W85 12 ly 7 2 cụm súng phóng lựu 4 nòng |
| Động cơ | Động cơ diesel có làm mát siêu nạp 8V150 800 hp (PLZ-05)[7] 1000 hp (PLZ-05A) |
| Công suất/trọng lượng | 23 hp/t (17,15 kW/t) |
| Hệ thống treo | Thanh xoắn và hệ thống treo thủy khí nén[3] |
| Tầm hoạt động | 550 km (PLZ-05) 450 km (PLZ-05A) |
| Tốc độ | 56 km/h (PLZ-05) 65 km/h (PLZ-05A) |
PLZ-05 hay còn gọi là Type 05 là một pháo tự hành cỡ nòng 155 mm do Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc phát triển nhằm thay thế pháo kéo Type 59-1 130 mm và pháo tự hành Type 83 152 mm. PLZ-05 được chính thức ra mắt tại Bảo tàng Quân sự Cách mạng Nhân dân Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào tháng 7 năm 2007, và bắt đầu được đưa vào trang bị từ năm 2008.[8]
Lịch sử
Vào những năm 1980, Norinco đã mua giấy phép sản xuất lựu pháo 155 mm GHN-45 từ Noricum, một công ty con của tập đoàn Áo Voest-Alpine, đơn vị đã phát triển GHN-45 dựa trên thiết kế pháo GC-45. GHN-45 (Gun, Howitzer, Noricum) có nhiều cải tiến so với GC-45 ban đầu, như đạn tốt hơn và hệ thống điều khiển hỏa lực tiên tiến hơn. Nhờ các cải tiến này, GHN-45 có tầm bắn xa hơn đáng kể so với các hệ thống pháo 155 mm khác được NATO và các nước phương Tây sử dụng. Khả năng này ban đầu đã gây lo ngại cho lực lượng liên minh trong Chiến tranh Vùng Vịnh.[9] Nhà thiết kế Gerald Bull đã được Trung Quốc liên hệ vào cuối những năm 1980 để tiếp tục phát triển các nghiên cứu của ông, và ông đã đồng ý. Trung Quốc cũng mua công nghệ đạn tầm xa từ ông.[10]
Tên định danh sản xuất của GHN-45 tại Trung Quốc là WAC-021 và PLL-01,[11][12] được đưa vào trang bị từ năm 1987.[13][14] Trung Quốc tiếp tục tiếp nhận và phát triển các công nghệ khác cho PLL-01, chẳng hạn như đạn dẫn đường chính xác GP1. Trung Quốc cũng lắp đặt PLL-01 lên khung gầm bánh xích do nước này tự thiết kế, tạo ra pháo tự hành PLZ-45 (còn gọi là Type 88) cùng các phương tiện hỗ trợ dựa trên cùng khung gầm. Hai lô lớn PLZ-45 đã được bán cho Kuwait vào năm 1997 và Ả Rập Xê Út vào năm 2008. Tuy nhiên, PLZ-45 không được đưa vào trang bị trong Lục quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc do Trung Quốc khi đó vẫn sử dụng học thuyết pháo binh dựa trên tiêu chuẩn đạn 152 mm của Liên Xô.[15][16][17]
Năm 2003, Trung Quốc bắt đầu phát triển các nguyên mẫu PLZ-05, một phiên bản phát triển từ PLZ-45, nhằm phục vụ nhu cầu trong nước. PLZ-05 được quân đội Trung Quốc tiếp nhận vào năm 2008 để thay thế pháo tự hành Type 83 cỡ 152 mm cũ. Việc đưa PLZ-05 vào trang bị đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng trong học thuyết pháo binh của Trung Quốc, từ mô hình Liên Xô sang mô hình phương Tây. PLZ-45 ban đầu sử dụng pháo 155 mm/L45, nhưng PLZ-05 có nòng dài hơn cùng tầm bắn, độ chính xác và tốc độ bắn được cải thiện.[8]
Thiết kế
PLZ-05 sử dụng khung gầm do Trung Quốc tự phát triển, có nguồn gốc từ PLZ-45. Mặc dù PLZ-45 đã có cơ cấu nạp đạn bán tự động,[8] PLZ-05 được cho là trang bị hệ thống nạp đạn hoàn toàn tự động tương tự như 2S19 Msta, cho tốc độ bắn đạt 8–10 phát/phút. Bộ nạp tự động này có thể hỗ trợ tốc độ bắn cao hơn, với chế độ bắn loạt đạt 4 phát trong 15 giây, tuy nhiên sẽ làm giảm tuổi thọ của hệ thống. Pháo cũng có thể duy trì tốc độ bắn liên tục ở mức 3–5 phát/phút.
Pháo chính có tầm bắn tối đa khoảng 40 km khi sử dụng đạn ERFB-BB và hơn 50 km với đạn ERFB-BB-RA. Hệ thống có thể đạt tầm bắn tới 70 km khi sử dụng đạn tăng tầm bằng động cơ phản lực. Pháo có thể triển khai hoàn toàn tự động, cho phép kíp chiến đấu luôn ở trong xe trong quá trình tác chiến.[4][5]
PLZ-05 được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực kỹ thuật số, máy tính đường đạn, hệ thống ngắm ảnh nhiệt ngày/đêm cho pháo thủ, máy đo xa laser và kính quan sát ảnh nhiệt độc lập cho trưởng xe. Ngoài nhiệm vụ chi viện hỏa lực gián tiếp, pháo chính còn có thể được sử dụng như pháo chống tăng hoặc pháo công phá công sự trong tình huống khẩn cấp.[3][8]
Giáp của PLZ-05 có thể bảo vệ kíp xe trước hỏa lực vũ khí bộ binh và mảnh đạn pháo. Phần giáp trước có khả năng chống lại đạn súng máy cỡ 14,5 mm. Khung gầm được trang bị hệ thống bảo vệ NBC (hạt nhân, sinh học, hóa học) và hệ thống chữa cháy tự động.
Pháo tự hành PLZ-05 còn được hỗ trợ bởi nhiều biến thể khác cùng dòng, bao gồm xe chỉ huy cấp đại đội, xe chỉ huy cấp tiểu đoàn, xe trinh sát pháo binh, xe chở đạn, xe radar, xe thu thập dữ liệu khí tượng và xe cứu kéo bọc thép, v.v.[3][8]
PLZ-05 được trang bị động cơ diesel 8V150 công suất 800 mã lực. Động cơ này cho phép xe đạt tốc độ tối đa trên đường khoảng 55 km/h. Xe có sáu bánh chịu tải mỗi bên, sử dụng hệ thống treo thanh xoắn kết hợp với treo thủy khí nén. Các bộ phận treo thủy khí nén được lắp ở bánh thứ nhất và thứ sáu, giúp tăng khả năng hấp thụ chấn động và thích nghi với địa hình.
Phương tiện được trang bị hộp số CH700, mang lại khả năng cơ động tốt hơn so với các thế hệ xe trước của Trung Quốc. Ngoài ra, một bộ nguồn phụ (APU) có thể cung cấp điện cho các hệ thống vũ khí trên xe khi động cơ chính không hoạt động.[3][18][19]
Các phiên bản
PLZ-05 (Type 05)
PLZ-05 là pháo tự hành trang bị pháo nòng dài L/52, động cơ diesel 800 mã lực và có khối lượng toàn bộ khoảng 35 tấn.[7] Hệ thống này hiện chỉ được triển khai trong Quân đội Trung Quốc[1] PLZ-05 có thể bắn đạn WS-35, một loại đạn dẫn đường nặng khoảng 18 kg với độ chính xác khoảng 40 m và tầm bắn tối đa được cho là lên tới 100 km. Đạn này được dẫn đường bằng hệ thống định vị vệ tinh Bắc Đẩu (Beidou) của Trung Quốc kết hợp với dẫn đường quán tính.[20]
PLZ-05A (PLZ-52)
PLZ-52 là pháo tự hành bánh xích cỡ 155 mm L/52, có cấu hình tương tự PLZ-45 nhưng dựa trên khung thân khác đôi chút. Với trọng lượng 43 tấn, PLZ-52 được trang bị tổ hợp động lực mới gồm động cơ diesel công suất 1.000 mã lực tại 2.300 vòng/phút, kết hợp với hộp số hoàn toàn tự động. Nhờ đó, xe đạt tốc độ tối đa trên đường tới 65 km/h và tầm hoạt động khoảng 450 km.[21] The Pháo của PLZ-52 có tầm bắn tối đa khoảng 50 km (khi sử dụng đạn ERFB-BB-RA), tốc độ bắn tối đa 8 phát/phút, tốc độ bắn loạt 3 phát trong 15 giây và có khả năng bắn nhiều viên đạn cùng lúc rơi trúng mục tiêu (MRSI) với 4 viên.[4][5]
Người lái và khoang động lực được bố trí ở phía trước thân xe, trong khi tháp pháo kín hoàn toàn đặt ở phía sau. Xe sử dụng hệ thống treo thanh xoắn kết hợp thủy khí nén,[3] với sáu bánh chịu tải bọc cao su mỗi bên, bánh dẫn động phía trước, bánh dẫn hướng phía sau và các con lăn đỡ xích. PLZ-52 được chào bán cho thị trường xuất khẩu.[21]
PLZ-04
Pháo tự hành trang bị pháo nòng dài L/54 (nòng dài gấp 54 lần đường kính) và dường như được chào bán cho thị trường xuất khẩu.[1] Phiên bản này được cho là đã xuất khẩu sang Kuwait và Ả Rập Xê Út.[8]
PLZ-05B
Phiên bản pháo tự hành với thân xe được kéo dài, sử dụng bảy cặp bánh chịu tải (tổng cộng 14 bánh). Ngoài ra còn có biến thể xe tiếp đạn đi kèm.[22]
Vận hành
- Lục quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc - 320 hệ thống PLZ-05[23]
Ảnh
-
PLZ-05 trưng bày tại Bảo tàng Quân sự Cách mạng Nhân dân Trung Quốc ở Bắc Kinh trong triển lãm "Quân ta hướng về phía mặt trời" năm 2007.
-
Mặt trước của PLZ-05
Xem thêm
- AHS Krab – pháo tự hành 155 mm của Ba Lan (kết hợp khung gầm Hàn Quốc và tháp pháo Anh)
- K9 Thunder – pháo tự hành 155 mm L/52 của Hàn Quốc, được xuất khẩu rất rộng rãi
- M109 – pháo tự hành 155 mm tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, được sử dụng từ thập niên 1960
- Panzerhaubitze 2000 – pháo tự hành 155 mm L/52 hiện đại của Đức, có tốc độ bắn cao và tầm xa lớn
- Raad-2 – pháo tự hành 155 mm của Iran, phát triển dựa trên thiết kế tương tự M109
- SSPH Primus – pháo tự hành 155 mm của Singapore
- T-155 Fırtına – pháo tự hành 155 mm của Thổ Nhĩ Kỳ, phát triển dựa trên K9 Thunder
- Pháo tự hành 155 mm Type 99 – pháo tự hành 155 mm L/52 của Nhật Bản
- 2S35 Koalitsiya-SV – pháo tự hành thế hệ mới 152 mm của Nga, có mức độ tự động hóa cao
Tham khảo
- ^ a b c "China Upgrades Self-Propelled Artillery". strategypage.com. ngày 25 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013.
- ^ a b "PLZ05 155mm Self-Propelled Howitzer". SinoDefence.com. ngày 20 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ 28 tháng 3 2010. Truy cập 21 tháng 3 2010.
- ^ a b c d e f "PLZ-05式155mm自行加榴炮". 中国网. ngày 27 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2017.
- ^ a b c Ben Lowsen (ngày 9 tháng 3 năm 2016). "Overview: China's People's Liberation Army Equipment at a Glance". The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2022.
- ^ a b c "PLZ05". Weaponsystems.net. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2022.
- ^ Janes (ngày 26 tháng 10 năm 2023), "155 mm WS-35 guided artillery projectile", Janes Weapons: Ammunition, Coulsdon, Surrey: Jane's Group UK Limited., truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2023.
- ^ a b "PLA in volume equipment PLZ-05 self-propelled howitzer". comhaha.com. ngày 22 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013.
- ^ a b c d e f "PLZ05". military-today. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2008.
- ^ "G5 155mm 45-calibre, towed gun howitzer". GlobalSecurity.org. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2013.
- ^ William Scott Malon (ngày 10 tháng 2 năm 1991). "THE GUNS OF SADDAM". The Washington Post. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2020.
- ^ "PLL01". military-today.[liên kết hỏng]
- ^ "PLL01". globalsecurity.
- ^ "A general survey of recent artillery developments". Armada International. 1989. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2011.
- ^ "PLL01 155mm Gun-Howitzer". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2013.
- ^ "PLZ-45". weaponsystems.
- ^ "plz-45". globalsecurity.
- ^ "plz45". military-today. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2008.
- ^ "PLZ05". weaponsystems.
- ^ "PLZ-05 Artillery SPG". tanks-encyclopedia.
- ^ Artillery: The Chinese Magical Mystery Shell - Strategypage.com, 28 November 2013
- ^ a b F Foss, Christopher (ngày 18 tháng 10 năm 2012). "China details latest PLZ52 155 mm self-propelled artillery system". Jane's International Defence Review. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013.
- ^ "US report lifts a lid on PLA fighting status". ANI. ngày 6 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2022.
- ^ The International Institute for Strategic Studies 2022, tr. 257.
Nguồn
- The International Institute for Strategic Studies (2022). The Military Balance 2022. Routledge. ISBN 978-1-032-27900-8.