Phong Thân Tế Luân (chữ Hán: 豐紳濟倫, 1763 - 1807), thuộc tộc Phú Sát thị (富察氏), là một tướng lĩnh quân sự và quan lại triều nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Phong Thân Tế Luân
丰绅济伦
Thông tin chung
Sinh1763
Mất1807
Thân phụPhúc Long An
Thân mẫuHòa Thạc Hòa Gia công chúa

Cuộc đời

Xuất thân

Phong Thân Tế Luân sinh năm Càn Long thứ 28 (1763), xuất thân từ Sa Tế Phú Sát thị danh giá, kỳ tịch thuộc Mãn Châu Tương Hoàng kỳ. Thân phụ của ông là Phúc Long An, con trai Đại học sĩ Phó Hằng - em trai Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu (nguyên phối của Càn Long Đế) và Diệp Hách Na Lạp thị (chị gái của Thư phi), làm quan đến Lại bộ Thượng thư. Sinh mẫu của ông là Hòa Thạc Hòa Gia Công chúa, con gái của Càn Long Đế với Thuần Huệ Hoàng quý phi.

Ông là cháu ngoại Càn Long Đế, cháu nội của Phó Hằng, có được thuận lợi không nhỏ trong quá trình làm quan sau này.

Hành trạng

Những năm Càn Long, ông được phép hành tẩu trong Tử Cấm Thành[1]. Năm Càn Long thứ 45 (1780), giữ chức Phó Đô thống Hán quân Tương Lam kỳ. Năm thứ 49 (1784), cha ông qua đời, ông được thừa kế tước vị Nhất đẳng Trung Dũng công (一等忠勇公)[2]. Năm thứ 55 (1790), giữ chức Phó Đô thống Mông Cổ Chính Lam kỳ và quản lý sự vụ của Quang Lộc tự[3]. Năm thứ 56 (1791), giữ chức Phó Đô thống Mãn Châu Tương Bạch kỳ kiêm Hộ quân Thống lĩnh Chính Hồng kỳ. Năm thứ 58 (1793), nhậm Thượng tứ viện khanh. Năm thứ 59 (1794), giữ chức Phó Đô thống Mãn Châu Chính Hồng kỳ, thăng làm Ngự tiền Thị vệ.

Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), ông giữ chức Binh bộ Hữu thị lang[4], cùng năm điều chuyển sang Bộ Hộ kiêm Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần[5] rồi Chính Giám đốc của Sùng Văn môn. Năm sau (1800), ông quản lý sự vụ của Nhạc bộ kiêm Đô thống Hán quân Tương Hồng kỳ, biên soạn sách Cao Tông Thuần Hoàng Đế Thực Lục. Năm thứ 6 (1801), giữ chức Đô thống Mãn Châu Chính Lam kỳ kiêm Chưởng vệ sự của Luyến Nghi vệ, Binh bộ Thượng thư. Năm thứ 8 (1803), giữ chức Tổng quản Nội vụ phủ Đại thàn, Càn Thanh môn Thị vệ, tham gia công việc của Văn Uyên các[6], kiêm nhiệm chức Phó Đô thống Hán quân Tương Lam kỳ và Hán quân Chính Bạch kỳ. Năm thứ 9 (1804), nhậm Mã Lan Tổng binh. Năm thứ 11 (1806), đảm nhiệm Lam linh Thị vệ và Thịnh Kinh Binh bộ Thị lang. Năm thứ 12 (1807), ông qua đời, hưởng thọ 44 tuổi.

Gia quyến

Thê thiếp

Con cái

Con trai

  1. Phú Lặc Hồn Ngưng Châu (富勒琿凝珠, 1781 - 1829), mẹ là Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị, thừa kế tước vị Nhất đẳng Trung Dũng công, làm quan đến Tán trật đại thần.
    1. Khánh Thiện (慶善), làm quan đến Lam linh Thị vệ.
    2. Khánh Hưng (慶興, ? - 1856), thừa kế tước vị Nhất đẳng Công, làm quan đến Phó Đô thống.
    3. Khánh Nghi (慶宜)
    4. Khánh Như (慶如, 1801 - 1860), làm quan đến Ô Lý Nhã Tô Đài Tướng quân kiêm Đô thống.
    5. Trưởng nữ, gả cho Trường Tú (長秀) thuộc Qua Nhĩ Giai thị.
  2. Thành Huân (成勳), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị, làm quan đến Viên ngoại lang.
    1. Khánh Lâm (圖敏, ? - 1790), làm quan đến Nội các học sĩ, Lễ bộ Thị lang.
    2. Khánh Thái (慶泰)
  3. Đồ Minh (圖敏), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị.
  4. Đức Minh (德銘), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị.

Con gái

  1. Trưởng nữ (1797 - ?), mẹ là Y Nhĩ Căn Giác La thị. Gả cho Cảnh Ân (景恩) thuộc tộc Nữu Hỗ Lộc, con trai đại thần Hòa Thế Tái (和世泰), tức em trai Hiếu Hòa Duệ Hoàng hậu của Gia Khánh Đế.

Chú thích

  1. ^ 國立故宮博物院圖書文獻處清國史館傳稿 ,701005683號
  2. ^ 中央研究院歷史語言研究所內閣大庫檔案 ,062744號
  3. ^ 中央研究院歷史語言研究所內閣大庫檔案 ,027789號
  4. ^ 中央研究院歷史語言研究所內閣大庫檔案 ,000925號
  5. ^ 中央研究院歷史語言研究所內閣大庫檔案 ,001382號
  6. ^ 中央研究院歷史語言研究所內閣大庫檔案 ,111022號