Bước tới nội dung

Quan Kế Huy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.

Quan Kế Huy (tên tiếng Trung: 關繼威, Hán Việt: Quan Kế Uy; tên tiếng Anh Ke Huy Quan; sinh ngày 20 tháng 8 năm 1971), hay còn được biết đến với nghệ danh Jonathan Ke Quan (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPAc-en”.), là một nam diễn viên người Mỹ, một thuyền nhân Việt Nam, xuất thân từ một gia đình người Việt gốc Hoa.[1][2] Từ thuở nhỏ ông đã tham gia vào các vai diễn như Short Round trong Indiana Jones and the Temple of Doom (1984), Data trong The Goonies (1985). Sau khi hoàn tất các bộ phim sitcom Head of the Class (1991) và Encino Man (1992), ông đã tạm ngừng diễn xuất.

Sau gần 20 năm gián đoạn kể từ vai diễn cuối cùng của mình, Huy đã trở lại diễn xuất vào năm 2021 trong bộ phim hài – chính kịch – khoa học viễn tưởng Cuộc chiến đa vũ trụ được giới phê bình đánh giá cao. Diễn xuất của ông đã nhận được sự hoan nghênh lớn và mang về cho ông giải Oscargiải Quả cầu vàng cho nam diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất. Ông là một trong hai diễn viên gốc Á đã đoạt giải Oscar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, người còn lại là Haing S. Ngor. Ngoài ra, với chiến thắng tại giải SAG, ông cũng đã trở thành người gốc Á đầu tiên giành chiến thắng ở hạng mục nam diễn viên phụ điện ảnh.[3][4] Ông là diễn viên sinh ra tại Việt Nam đầu tiên giành giải Oscar[5] và giành hạng mục nam phụ cho giải Quả cầu vàng.[1][6]

Xuất thân và giáo dục

Quan Kế Huy sinh ngày 20 tháng 8 năm 1971 tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa.[7][8] Cha mẹ của ông là người Việt gốc Hoa[2][9] có 9 người con, ông là một trong số đó.[10] Đến năm 1978, ông và gia đình đã vượt biên bằng thuyền ra khỏi Việt Nam và đến một trại tị nạn ở Hồng Kông, trong khi mẹ ông cùng ba anh chị em khác chạy sang Malaysia.[11][12] Cả gia đình ông sau đó đã được tái định cư tại Hoa Kỳ thông qua các chương trình dành cho người tị nạn vào năm 1979.[11]

Tại Hoa Kỳ, Huy đã học tại trường Trung học Mount Gleason ở Tujunga, California và trường Phổ thông Alhambra ở Alhambra, California.[13] Vào năm 1999, ông đã tốt nghiệp Bản mẫu:Ill.[11] Bấy giờ, ông đã sản xuất ghi hình một bộ phim ngắn Voodoo và nhận được nhiều giải thưởng; người bạn của ông, Gregg Bishop đã viết kịch bản và làm đạo diễn bộ phim.[14] Nhiều bộ phim ngắn đoạt giải của ông như Electronic Labyrinth THX 1138 4EB của George LucasThe Lift của Robert Zemeckis hiện đang được sử dụng để định hướng cho sinh viên điện ảnh khi mới nhập học vào Đại học Nam California.[15][16] Sau khi tốt nghiệp, ông đã sang Hồng Kông thực hiện nhiều dự án cùng đạo diễn Bản mẫu:Ill.[12]

Sự nghiệp diễn xuất

Tập tin:Goonies 01 (48686292972).jpg
Sean Astin, Quan Kế Huy và Corey Feldman tại buổi giao lưu phim The Goonies.

1984–1997: Đột phá trong sự nghiệp với Indiana Jones

Kế Huy đã bắt đầu bước vào sự nghiệp diễn xuất từ khi 12 tuổi khi vào vai Short Round trong bộ phim Indiana Jones and the Temple of Doom cùng với nam diễn viên gạo cội Harrison Ford.[17] Giám đốc cho các buổi tuyển diễn viên đã thử vai một số đứa trẻ tại trường tiểu học Castelar, bao gồm cả em trai của Huy.[10][12] Năm 1985, ông đã vào vai chính trong The Goonies với vai trò là thành viên trong một nhóm trẻ cùng tên phim. Ngoài ra, vào năm 1986 ông cũng đã vào vai một đứa trẻ mồ côi chuyên đi cướp bóc trong một bộ phim Đài Loan It Takes a Thief. Đến năm 1987, ông đã xuất hiện trong bộ phim Nhật Bản Passengers (Bản mẫu:Ill) cùng với nữ ca sĩ Honda Minako. Ông cũng từng tham gia vai Sam trong sê-ri phim ngắn Together We Stand (1986–1987) hay vai Jasper Kwong trong sitcom Head of the Class từ năm 1990 đến năm 1991.[18]

Năm 1991, ông đã tham gia vào bộ phim Breathing Fire và có một vai nhỏ những năm sau đó. Ông đã tham gia đóng chính trong bộ phim truyền hình tiếng Quan Thoại The Big Eunuch and the Little Carpenter kéo dài 40 tập.[19] Hay vào năm 1996, ông đã vào vai trong một bộ phim với sự hợp tác sản xuất giữa Hồng KôngViệt Nam Hồng hải tặc. Kế Huy còn đã học Taekwondo dưới sự hướng dẫn Philip Tan cho tác phẩm Indiana Jones and the Temple of Doom; sau đó thì Bản mẫu:Ill là người hướng dẫn cho ông.[18]

1998–2018: Chuyển sang vai trò sản xuất

Khi trưởng thành, Kế Huy bắt đầu gặp khó khăn trong việc tìm kiếm công việc diễn xuất tại Hoa Kỳ, cuối cùng ông đã từ bỏ vai trò diễn xuất và đăng ký vào chương trình điện ảnh tại Đại học Nam California (USC).[8][11] Sau khi hoàn tất chương trình tại USC, Huy đã được Bản mẫu:Ill đề nghị đến Toronto, Ontario, Canada để hỗ trợ dàn dựng các phân cảnh chiến đấu cho bộ phim X-Men (2000).[7][8][12] Trong thập kỷ tiếp theo, ông làm những công việc hậu trường cho nhiều tác phẩm khác nhau ở châu Á lẫn Hoa Kỳ.[12] Ông đã tiếp tục tham gia vai vào đội ngũ sản xuất giúp Khuê thực hiện dự án The One (2001).[20] Ngoài ra, ông còn từng làm trợ lý đạo diễn cho Vương Gia Vệ trong bộ phim 2046 (2004).[12]

2018–nay: Trở lại vai trò diễn xuất

Kế Huy được cho là đã lấy lại cảm hứng diễn xuất nhờ thành công của bộ phim Con nhà siêu giàu châu Á vào năm 2018.[21] Cùng năm đó, bộ đôi Bản mẫu:Ill đã bắt đầu tuyển chọn diễn viên cho bộ phim Cuộc chiến đa vũ trụ. Bộ đôi này được cho là đã gặp phải khó khăn khi tìm kiếm vai diễn cho nhân vật Waymond WangBản mẫu:Sndmột người xuất hiện với ba thân phận khác nhau trong phim. Sau đó, họ đã tình cờ gặp được Kế Huy trên Twitter. Hai tuần sau khi nhận được lời mời từ người đại diện, nam diễn viên đã chính thức bắt đầu thử vai cho bộ phim.[11] Vào tháng 1 năm 2020, Quan Kế Huy được xác nhận là một diễn viên trong phim Cuộc chiến đa vũ trụ.[22]

Bộ phim đã được khởi chiếu vào tháng 3 năm 2022 và nhận được nhiều sự ủng hộ mạnh mẽ, nhờ diễn xuất mà Kế Huy đã nhận được nhiều lời khen cũng như chú ý của giới truyền thông. Chính vai diễn trong bộ phim Cuộc chiến đa vũ trụ, ông đã giành được giải Quả cầu vàng, giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnhgiải Oscar. Chiến thắng tại Giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh đã đưa ông trở thành người gốc Á đầu tiên chiến thắng hạng mục Nam diễn viên phụ.[23][24][25][26] Chiến thắng từ bộ phim đã giúp ông tái hợp với Steven SpielbergHarrison Ford.[27]

Đời tư

Kế Huy là một người gốc Hán và là người Hoa, thuộc nhóm dân tộc thiểu số của Việt Nam. Ông thông thạo tiếng Anh, tiếng Quảng Châu, tiếng Trungtiếng Việt.[28] Hiện ông đã kết hôn[11] với Corinna Ke Quan và đang sinh sống cùng vợ mình tại Woodland Hills, Los Angeles.[8][2] Đồng hành cùng ông là người bạn thân, kiêm bạn diễn trong phim The Goonies Jeff Cohen, đồng thời cũng là luật sư cá nhân cho ông.[12]

Tác phẩm

Phim điện ảnh

Danh sách tác phẩm điện ảnh
Năm Tựa phim Vai diễn
1984 Indiana Jones and the Temple of Doom Short Round
1985 The Goonies Richard "Data" Wang
1986 It Takes a Thief Little Guan
1987 Passenger Rick
1991 Breathing Fire Charlie Moore
1992 Encino Man Kim
1996 Red Pirate Kwan Chia Chiang
2002 Second Time Around Sing Wong
2021 Finding ʻOhana George Phan
2022 Cuộc chiến đa vũ trụBản mẫu:Efn Waymond Wang
2024 The Electric State Dr Amherst
Kung Fu Panda 4 Han
2025 Yêu là đau Marvin Gable
Phi vụ động trời 2 Gary

Truyền hình

Danh sách tác phẩm truyền hình
Năm Tựa phim Vai trò Ghi chú
1986–1987 Together We Stand Sam 19 tập
1990–1991 Head of the Class Jasper Kwong Nhân vật chính (mùa 4–5)
1991 Tales from the Crypt Josh Tập: "Undertaking Palor"
1993 The Big Eunuch and the Little Carpenter Ba Dajia Nhân viên chính; bản truyền hình của Đài Loan, 40 tập
2023 Loki Ouroboros Mùa hai.
2023 American Born Chinese Freddy Wong[29]

Khác

Danh sách các dự án khác
Năm Tựa phim Vai trò
2000 X-Men Trợ lý hành động, phiên dịch
2001 The One Trợ lý
2004 2046 Trợ lý đạo diễn

Chú thích

Ghi chú

Bản mẫu:Danh sách ghi chú

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên VTV
  2. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ a ă â b Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Bản mẫu:Cbignore
  11. ^ a ă â b c d Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ a ă â b c d đ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên ETToday
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Oscar vai nam phụ Bản mẫu:Giải của Hội phê bình phim Boston cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Bản mẫu:Giải Quả cầu vàng cho nam diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất Bản mẫu:Giải của Hội phê bình phim New York cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Bản mẫu:Giải Sao Thổ cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Authority control”.