Bước tới nội dung

R-77

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Infobox weapon R-77 (RVV-AE) (tên ký hiệu của NATO: AA-12 Adder) là một tên lửa không đối không tầm trung, dẫn đường bằng radar chủ động. R-77 tương đương với tên lửa AIM-120 AMRAAM của Mỹ.[1]

Quá trình phát triển R-77 bị kéo dài nghiêm trọng. Chương trình được khởi động từ thập niên 1980 nhưng chưa hoàn tất trước khi Liên Xô tan rã. Trong nhiều năm, chỉ có mẫu RVV-AE được sản xuất cho khách hàng xuất khẩu.[2] Sản xuất tiếp tục gián đoạn khi chiến tranh Nga–Ukraine dẫn tới lệnh cấm vận vũ khí của Ukraine đối với Nga, làm đứt gãy chuỗi cung ứng. Lực lượng Hàng không Vũ trụ Nga cuối cùng đưa R-77-1 (AA-12B) vào trang bị năm 2015.[2][3] Sau đó, loại tên lửa này được Su-35S mang theo trong tuần tra không chiến tại Syria. Mẫu xuất khẩu của R-77-1 có tên RVV-SD.[4][2]

Phát triển

R-77 được bắt đầu phát triển vào năm 1982, và bay lần đầu tiên vào năm 1984. Nó bắt đầu trang bị cho quân đội với số lượng nhỏ do sản xuất chậm, điều này chỉ chấm dứt khi Vympel được trao cho công việc chế tạo vào năm 1993.

Tên lửa có nét đặc trưng là 4 cánh giữ thăng bằng ở chính giữa và ở phía đuôi (giống như trên OTR-23 Oka). Phiên bản đầu của tên lửa có tầm bay hạn chế là 90 km (55 mi). Trên các báo cáo giới thiệu thì tên lửa được dẫn đường bằng quán tính với những thông tin cập nhật từ máy bay phóng tên lửa. Như tên lửa khác, khi cách mục tiêu khoảng 20 km thì nó sẽ được radar tích cực ở đầu tên lửa dẫn đường. Một sản phẩm cải tiến của R-77 đang được thực hiện, có tên mã là R-77M1, và sẽ có bộ phận động cơ đẩy giống máy bay phản lực. Hệ thống tên lửa hạng nặng này sẽ có một tầm bay lớn, nó được sử dụng trong tiêu diệt các mục tiêu ngoài tầm nhìn (BVR) và chắc chắn sẽ được trang bị cho máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm của Nga sắp tới.

R-77 cũng đang phát triển để phù hợp với những sự phát triển từ nước ngoài. RVV-AE-PD (thường được quy cho R-77M) đang phát triển và có 4 cánh được thay thế với động cơ phản lực tĩnh. Ngoài một lập trình quỹ đạo mới, người ta hy vọng có tầm bắn hơn 120 km.

Ngày nay, R-77 có thể sử dụng trên nhiều loại máy bay của Không quân Nga vì nhiều loại cũng mới được nâng cấp. Tương tự như PLAAF (Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc), họ có giấy phép sản xuất Su-27. Loại Sukhoi Su-30MKK mới có một radar N001 với kênh số hóa rẽ nhánh hợp nhất cho phép nó sử dụng R-77. Máy bay mới của Nga như MiG-29S (radar N019M) hay Su-35 (radar N035 Irbis-E) không bị hạn chế về điểm này.

Sử dụng linh kiện nước ngoài

Agat - công ty sản xuất radar bán chủ động 9B-1101K lắp trên tên lửa R-27R/ER, radar chủ động 9B-1103K trang bị cho R-27EA và radar chủ động 9B-1348E sử dụng trên R-77, đã công khai việc mua chip xử lý tín hiệu kỹ thuật số TMS-320 của Texas Instruments (Mỹ) để gắn cho radar chủ động 9B-1103K.[5]

Mô tả thiết kế

Đầu dò tên lửa Vympel R-77 tại triển lãm hàng không MAKS Airshow năm 2009

Trong khoảng 40 năm đầu, khí động học của R-77 kết hợp cánh chữ thập nhỏ với cánh lưới làm bề mặt điều khiển đuôi (thiết kế tương tự dùng trên OTR-23 Oka, và Không quân Hoa Kỳ cũng dùng trên MOAB).Hiện tượng tách dòng ở góc tấn lớn giúp tăng khả năng đổi hướng, cho tốc độ quay tối đa tới 150°/giây. Nhược điểm là cánh lưới làm tăng lực cản và tiết diện phản xạ radar (RCS). Vì vậy, các biến thể cập nhật như izdeliye 180 (dành cho Su-57) chuyển sang dùng cánh đuôi kiểu truyền thống.[6]

Tên lửa dùng đầu tự dẫn radar chủ động kiểu Doppler–monopulse đa chức năng do OAO Agat phát triển.[7] Radar có hai chế độ, ở cự ly ngắn phóng ở chế độ chủ động "bắn-quên" (fire-and-forget). Ở cự ly xa, tên lửa bay theo dẫn quán tính với cập nhật qua liên kết dữ liệu từ radar máy bay mang (vị trí không gian, quá tải mục tiêu). Khi vào trong ~20 km (12 mi), tên lửa chuyển sang tự dẫn radar chủ động. Radar của máy bay mang vẫn duy trì nghiệm bám tính toán để tái bắt bám nếu mục tiêu phá khóa.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.

Các biến thể

Các biến thể R-77:
R-77 (RVV-AE),
R-77PD (RVV-PD),
RVV-ZRK,
R-77M (izdeliye 180),
K-77ME (izdeliyе 180-BD)

Các biến thể sản xuất

  • R-77 (izdeliye 170) – Mẫu tiêu chuẩn, sản xuất thời Liên Xô.
  • RVV-AE (izdeliye 190) – Bản xuất khẩu do Nga chế tạo của R-77. So với các biến thể mới hơn, tên lửa này có tầm bắn tối đa chỉ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. với đầu đạn 22.5 kg.[8]
  • R-77-1 (izdeliye 170-1) – Bản do Nga chế tạo, mũi thuôn khí động, đầu tự dẫn radar chủ động 9B-1248 (Izdeliye-50-1) cánh lái mới.
  • RVV-SD – Bản xuất khẩu của R-77-1. Tầm bắn tối đa Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. với đầu đạn 22.5 kg.[4]
  • R-77M (izdeliye 180) – Trang bị cho Su-57Su-35S, dùng đầu tự dẫn AESA 9B-1103M2,[2] cánh thường, động cơ hai xung.

Các dự án

  • R-77P / RVV-PE – Đầu dò tự dẫn thụ động bức xạ.[9]
  • R-77T / RVV-TEĐầu dò hồng ngoại.[10]
  • R-77-SRK – Biến thểp phòng không phóng từ tàu chiến.
  • R-77-ZRK / RVV-AE-ZRK – Biến thể tên lửa đất đối không.
  • R-77-PD / RVV-AE-PD – Biến thể sử dụng động cơ ramjet.
  • R-77-PD ZRK / RVV-AE-ZRK – Biến thể tên lửa đất đối không.
  • K-77ME (izdeliye 180-BD) – Biến thể dùng động cơ ramjet của R-77M.[11]

Các quốc gia sử dụng

Bản đồ các quốc gia sử dụng R-77

Các quốc gia đang sử dụng

Các quốc gia từng sử dụng

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Butowski, Piotr 2007
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  14. ^ a ă â Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ 2011 Annual Report of Tactical Missile Corporation, Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Side box Bản mẫu:Navbox Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”.