Sông Sài Gòn
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “ParameterAliasNormalizer”.
Sông Sài Gòn là một phụ lưu xuyên biên giới của sông Đồng Nai trong hệ thống sông Đồng Nai.[1] Thượng nguồn của sông nằm ở đông nam Campuchia; dòng chính chảy qua hồ Dầu Tiếng và Thành phố Hồ Chí Minh, rồi hợp lưu với sông Đồng Nai tại Mũi Đèn Đỏ.[2][3][4] Phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam rộng 4.788 km².[1]
Hồ Dầu Tiếng điều tiết và duy trì dòng chảy hạ lưu, đồng thời cấp nước cho hệ thống tưới.[5][6] Đoạn hạ lưu chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều.[7] Trong mùa khô, lưu lượng nước ngọt giảm làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn tại các điểm lấy nước.[8] Sông là nguồn nước mặt của Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phục vụ giao thông thủy và hoạt động cảng.[9][10] Trong khu vực đô thị, sông tiếp nhận nước từ mạng lưới kênh và hệ thống thoát nước.[11]
Quần xã thực vật phù du thay đổi theo từng đoạn sông được khảo sát.[12] Các nghiên cứu trên tuyến sông – cửa sông ghi nhận tình trạng dư thừa chất dinh dưỡng, sự hiện diện của chất ô nhiễm vi lượng và rác nhựa.[13][14][15]
Từ cuối thế kỷ XVIII, khu Bến Nghé – Sài Gòn ở hạ lưu phát triển thành một đô thị cảng.[16] Tháng 2 năm 1860, chính quyền Pháp chính thức mở sông và cảng Sài Gòn phục vụ thương mại quốc tế.[10][17] Năm 1900, nhà máy đóng tàu tại hợp lưu kênh Nhiêu Lộc và sông Sài Gòn có khả năng đóng và sửa chữa tàu bè, máy móc.[18] Năm 1914, thương cảng trở thành một cơ quan tự quản có tư cách pháp nhân.[10] Dưới triều Nguyễn, hình tượng sông Tân Bình được đúc trên Cao đỉnh; tên Sài Gòn và Bến Nghé còn xuất hiện trong thơ văn và ca dao về Gia Định.[19]
Tên gọi
Trong thư tịch về Gia Định, đoạn hạ lưu từng mang tên sông Tân Bình hoặc Tân Bình giang; tên gọi dân gian là sông Bến Nghé. Bến Nghé ban đầu chỉ một bến sông tại nơi kênh Chợ Lớn gặp sông Sài Gòn. Đến thế kỷ XVIII–XIX, tên này còn dùng để chỉ thành Gia Định hoặc vùng Sài Gòn nói chung.[16] Tên Bến Nghé hiện còn được dùng trong tên rạch Bến Nghé, tuyến nước nối sông Sài Gòn với khu vực Chợ Lớn.[16]
Địa lý
Dòng chảy
Sông Sài Gòn có vùng thượng nguồn ở đông nam Campuchia và chảy qua hồ Dầu Tiếng.[2][3] Khảo sát năm 2011 về các nhánh sông, suối tại Bình Phước ghi nhận Tonlé Chàm và Tonlé Trou gặp nhau tại ngã ba Cần Lê Chàm.[20] Theo cách gọi trong khảo sát, Tonlé Chàm là sông Sài Gòn, Tonlé Trou là sông Cần Lê, còn Rạch Chàm là một điểm lấy mẫu riêng.[20] Rời hồ Dầu Tiếng, sông chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh trước khi hợp lưu với sông Đồng Nai tại Mũi Đèn Đỏ.[2][3][4]
Các nhánh trong phạm vi thượng nguồn thuộc Bình Phước gồm Tonlé Chàm, Prêk Kéa, Rạch Trou, suối Nron, sông Chà Là và suối Xa Cát.[21] Ở hạ lưu, sông nhận nước từ sông Thị Tính và Rạch Tra. Trong khu vực đô thị, sông nhận nước từ hệ thống Tham Lương – Vàm Thuật, kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Kênh Tàu Hủ – Bến Nghé, Kênh Tẻ và Kênh Đôi. Các hệ thống kênh này thoát nước cho nội đô, đồng thời tiếp nhận chất thải từ hộ gia đình, tàu thuyền và các cửa xả trước khi nhập vào sông Sài Gòn.[22]
Lưu vực
Phần lưu vực sông Sài Gòn thuộc lãnh thổ Việt Nam rộng 4.788 km².[1] Hai nghiên cứu đều mô tả tuyến sông bắt đầu từ Campuchia, song ghi chiều dài khác nhau: nghiên cứu thủy văn năm 2021 ghi 225 km,[23] còn nghiên cứu ô nhiễm nhựa năm 2018 ghi khoảng 250 km.[24] Quyết định số 205/QĐ-TTg ghi 251 km và chú thích rằng số liệu chiều dài này chỉ tính phần thuộc lãnh thổ Việt Nam.[1] Số liệu 251 km trong quyết định có phạm vi được nêu khác với hai mô tả khoa học bắt đầu từ vùng nguồn Campuchia.[23][24][1]
Một phân tích ảnh vệ tinh khảo sát phạm vi 2.503 km², kéo dài từ hồ Dầu Tiếng đến trạm Phú An và bao gồm phần lớn khu vực phát triển của vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.[25] Trong phạm vi này, diện tích bề mặt không thấm tăng từ 67 km² năm 1990 lên 296 km² năm 2010, tương ứng từ 2,69% lên 11,80%. Khoảng 229 km² đất nông nghiệp và đất ngập nước chuyển thành bề mặt đô thị, trong đó 44 km² là đất thấp dưới cao trình 1,3 m.[26]
Địa chất và địa mạo
Khảo sát bằng phương pháp điện từ miền thời gian tại phần lưu vực có cao độ trên 15 m cho thấy cấu trúc dưới mặt đất ở độ sâu khoảng 0–150 m gồm các tầng chứa nước và những lớp trầm tích hạt mịn không liên tục. Kết quả còn cho thấy dấu tích của lòng sông cổ và bãi ngập lũ cổ, đồng thời liên hệ những dấu tích này với các đợt biển tiến trong kỷ Đệ Tứ.[27] Trong các tuyến khảo sát, đồng bằng ngập lũ ở bờ trái giàu sét, còn khu vực bờ phải không có lớp sét bề mặt bảo vệ tầng chứa nước khỏi chất ô nhiễm thấm xuống. Mức độ bảo vệ các tầng nước nông vì vậy thay đổi theo cấu trúc trầm tích tại từng khu vực khảo sát.[27]
Ở thượng lưu và vùng tưới Dầu Tiếng, trầm tích Đệ Tứ gồm các bậc thềm phù sa cũ, có thành phần từ sét đến cát và sỏi, cùng những dải phù sa trẻ trong các thung lũng thấp. Các bậc thềm phù sa cũ thấp dần về phía tây nam. Phù sa Holocen trẻ chủ yếu là sét và kéo dài ngược lên theo sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Một số vùng phù sa trẻ có nguy cơ phát sinh đất phèn khi lớp đất chứa sulfide bị tháo khô và oxy hóa.[28]
Điểm khảo sát nằm tại cửa sông Đồng Tranh, thuộc khu vực cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai trong rừng ngập mặn Cần Giờ.[29] Tại đây, thủy triều và mưa cùng chi phối sự tái phân bố trầm tích. Khi mưa lớn xảy ra trong pha triều rút sau khi mặt đất rừng đã khô, trầm tích bị xói và được đưa ra khỏi bãi rừng. Trong phạm vi khảo sát, tốc độ luân chuyển trầm tích ước tính khoảng 0,20 cm/ngày vào mùa mưa và 0,15 cm/ngày vào mùa khô. Cân bằng trầm tích gần bằng không, nhưng lượng trầm tích luân chuyển vẫn có thể lớn.[30]
Thủy văn
Tại hạ lưu hệ thống Sài Gòn – Đồng Nai, mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm khoảng 85% lượng mưa năm. Lượng mưa năm trong khu vực nghiên cứu đạt khoảng 1.500 mm tại Nhà Bè và 1.850 mm tại Tân Sơn Nhất. Đoạn sông qua Thành phố Hồ Chí Minh có độ dốc khoảng 1,3‰ và rộng từ khoảng 50 đến 1.000 m. Một số vị trí sâu tới 20 m.[31]
Lưu lượng
Hồ Dầu Tiếng có diện tích mặt nước khoảng 270 km² và dung tích 1,58 tỷ m³. Công trình điều tiết nước cho tưới tiêu và duy trì dòng chảy về hạ lưu.[5]
Chuỗi dòng chảy tự nhiên theo tháng giai đoạn 1964–1984 bao quát phần lưu vực sông Sài Gòn ở thượng lưu Dầu Tiếng và lưu vực sông Thị Tính, với tổng diện tích 3.650 km².[32] Giá trị dòng chảy trung bình tháng của chuỗi như sau:
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lượng nước (triệu m³) | 147 | 71 | 49 | 43 | 63 | 109 | 246 | 336 | 435 | 579 | 465 | 262 |
Tại trạm Bạch Đằng ở hạ lưu, lưu lượng ròng trong giai đoạn 2012–2016 dao động từ 4,18 đến 222 m³/s, trung bình 50 m³/s. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 73% tổng lượng dòng chảy năm.[33]
Lũ
Trong chuỗi số liệu của toàn lưu vực Đồng Nai, các trận lũ nghiêm trọng xảy ra vào các năm 1932, 1952, 1964 và 1978. Trận lớn nhất kéo dài từ ngày 18 đến 24 tháng 10 năm 1952, với lưu lượng đỉnh khoảng 12.000 m³/s tại Biên Hòa.[34] Riêng chuỗi quan trắc lịch sử của lưu vực hồ Dầu Tiếng cũng ghi nhận đỉnh lũ lớn nhất vào năm 1952, khoảng 2.300 m³/s.[35]
Do dữ liệu lịch sử về lưu lượng đỉnh không đủ cho phân tích tần suất, quy hoạch năm 1996 sử dụng mô hình dòng chảy lũ để xác định lưu lượng theo chu kỳ lặp. Tại Dầu Tiếng, lưu lượng tính toán là 2.351 m³/s cho chu kỳ 20 năm và 3.197 m³/s cho chu kỳ 100 năm. Ở hợp lưu sông Sài Gòn – Thị Tính, hai giá trị tương ứng xấp xỉ 3.000 và 4.000 m³/s.[36]
Thủy triều và xâm nhập mặn
Hạ lưu sông chịu chế độ bán nhật triều.[23] Lưu lượng tức thời biến đổi mạnh theo chu kỳ triều, trong khi lưu lượng ròng tương đối thấp. Mực nước và lưu lượng tại các trạm ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh và Phú Cường còn chịu tác động của trao đổi với nước dưới đất, mạng lưới sông – kênh và vùng nước ven biển. Tại hai trạm này, bộ số liệu không cho thấy tác động rõ và trực tiếp của lượng mưa đến mực nước hoặc lưu lượng.[7]
Chuỗi mực nước tại trạm triều Vũng Tàu giai đoạn 1991–2009 được đối chiếu với số liệu tại điểm khảo sát Cần Giờ. Chênh lệch theo mùa giữa giá trị cao nhất và thấp nhất của mực nước triều cao trung bình (MHHW) và mực nước triều thấp trung bình (MLLW) lần lượt khoảng 45 cm và 53 cm.[37]
Trong mùa khô, lưu lượng giảm có thể khiến nước mặn tiến sâu tới khu vực lấy nước. Nồng độ clorua tại nguồn nước thô của Nhà máy nước Tân Hiệp tăng trong mùa khô.[8] Quy trình xử lý thông thường không loại bỏ được muối; khi nồng độ clorua trong nước thô tăng, SAWACO đề nghị tăng lượng xả từ hồ Dầu Tiếng.[38] Trước khi hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An vận hành, độ mặn trên 4‰ trong mùa kiệt có thể tiến đến gần cửa lấy nước Rạch Tra. Báo cáo đánh giá tác động môi trường tiểu dự án Dầu Tiếng năm 2003 cho rằng hoạt động xả nước mùa khô từ hai hồ làm ranh mặn lùi khoảng 20 km về khu vực Phú An.[35]
Nước dưới đất và lún nền
Mô hình MODFLOW cho một phần lưu vực cho thấy tầng chứa nước bổ sung nước cho các đoạn thượng lưu được khảo sát, còn nước sông thấm xuống dưới đất tại một số mặt cắt hạ lưu. Theo kịch bản mô phỏng, khai thác nước dưới đất có thể làm tăng lượng nước sông thấm xuống tại các mặt cắt hạ lưu. Kết quả chỉ áp dụng cho phạm vi nghiên cứu và giai đoạn 2000–2007.[39]
Phân tích ảnh radar giao thoa giai đoạn 2006–2010 ghi nhận lún đất tập trung ở các vùng trầm tích Holocen dọc sông Sài Gòn và phía tây nam Thành phố Hồ Chí Minh. Tốc độ lún trung bình khoảng 8,0 mm/năm, với mức cực đại cục bộ 70 mm/năm; sau bốn năm, một số khu vực dọc sông lún tới 12 cm. Kết quả phân tích xác định khai thác nước dưới đất gia tăng do đô thị hóa là nguyên nhân chính. Nghiên cứu còn đánh giá rằng ảnh hưởng của lún nền đối với ngập tại Thành phố Hồ Chí Minh lớn hơn ảnh hưởng của nước biển dâng.[40]
Ổn định bờ
Tại các điểm khảo sát và mô phỏng, mực nước hạ nhanh làm giảm lực thủy lực cân bằng phía ngoài mái bờ và có thể làm bờ mất ổn định.[41]
Các mô phỏng MIKE 11 và MIKE 21 trên đoạn sông đô thị cho thấy vận tốc giữa dòng thường lớn gấp khoảng ba đến bốn lần vận tốc ở hai bờ. Khi triều chuyển pha, dòng ven bờ có thể nhanh hơn dòng chính, nhất là tại các đoạn cong. Trong phần lớn trường hợp mô phỏng, vận tốc vượt ngưỡng không gây xói của vật liệu lòng và bờ. Nghiên cứu dự báo xói lở có thể diễn ra thường xuyên trong phạm vi khảo sát. Khi cống chống ngập vận hành, vận tốc dòng chính chỉ giảm nhẹ và các xoáy vận tốc thấp xuất hiện trước cống.[42]
Sinh thái
Cá và động vật đáy
Trong giai đoạn 2008–2010, 576 mẫu cá được thu tại các nhánh sông, suối thượng lưu và phân loại thành 59 loài, 40 chi, 20 họ và 8 bộ.[43] Khảo sát tại 16 điểm trên dòng chính và phụ lưu trong giai đoạn 2007–2010 cùng năm 2015 ghi nhận 49 đơn vị phân loại động vật không xương sống đáy, gồm giun nhiều tơ, giun ít tơ, chân bụng, hai mảnh vỏ, đuôi rắn, giáp xác và côn trùng.[44] Ở từng điểm, số đơn vị phân loại dao động từ 0 tại một số kênh đô thị đến 15 ở thượng lưu.[44] Côn trùng là nhóm có độ giàu loài cao nhất và xuất hiện tại phần lớn điểm lấy mẫu. Dọc tuyến từ thượng lưu đến các kênh và đoạn sông chịu triều, những đơn vị có nguồn gốc cửa sông hoặc ven biển cùng xuất hiện với các loài chịu được ô nhiễm hữu cơ.[45]
Các chỉ số đa dạng sinh vật đáy thấp hơn tại nhóm điểm đô thị và công nghiệp. Độ giàu loài, chỉ số Shannon–Wiener (H′) và chỉ số Simpson (1−DS) tương quan mạnh và có ý nghĩa thống kê với oxy hòa tan, BOD5, tổng nitơ và tổng phosphor.[46] Tổng số cá thể không có quan hệ có ý nghĩa thống kê với các biến chất lượng nước.[46]
Khảo sát tuyến trùng sống tự do trong trầm tích tại 11 bến cảng và một điểm ở Củ Chi năm 2014 ghi nhận hình thái và sinh khối cá thể khác nhau giữa mùa khô và mùa mưa. Trong mùa mưa, một số chỉ tiêu hình thái và sinh khối có tương quan với MBT, DBT và tổng butyltin. Do chưa loại trừ ảnh hưởng của cỡ hạt và điều kiện oxy hóa–khử, nghiên cứu không kết luận rằng các hợp chất butyltin gây ra những khác biệt này.[47]
Thực vật phù du và chỉ thị sinh học
Hai đợt khảo sát bao phủ 18 điểm dọc hơn 60 km sông. Các đợt quan trắc diễn ra hai tuần một lần từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 11 năm 2017. Ba nhóm thực vật phù du chính là tảo silic, vi khuẩn lam và tảo mắt. Thành phần gồm các loài nước ngọt và một số loài nước lợ; mật độ thực vật phù du biến động mạnh theo mùa và theo vị trí, với giá trị đặc biệt cao tại đoạn đô thị trong mùa khô.[12]
Quần xã ở đoạn đô thị có cấu trúc khác với thượng lưu và hạ lưu, tương ứng với sự thay đổi về chất dinh dưỡng, độ mặn và điều kiện môi trường dọc sông. Tại một số đoạn, các chi vi khuẩn lam có khả năng sinh độc tố chiếm ưu thế. Nghiên cứu về thực vật phù du trên sông Sài Gòn cảnh báo nguy cơ đối với sức khỏe nếu nhiệt độ và tải lượng dinh dưỡng tăng.[12]
Tại bảy vị trí được khảo sát trong cả mùa khô và mùa mưa, quần xã tảo silic đáy khác biệt rõ hơn giữa thượng lưu và hạ lưu so với giữa hai mùa. Thành phần quần xã tảo silic được dùng cùng các chỉ số tổng nitơ, tổng phosphat, COD và BOD5 để nhận diện sự suy giảm chất lượng nước về phía hạ lưu.[48]
Lịch sử
Trước năm 1698
Các di tích tiền sử và sơ sử ở Thành phố Hồ Chí Minh phân bố dọc hai bờ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, các rạch chi lưu và tại vùng cửa biển Cần Giờ – Đồng Tranh – Soài Rạp.[49] Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, khi đó là Phó Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nhận định rằng vài nghìn năm trước, vùng trũng phèn rộng ngăn cách lưu vực Đồng Nai và Vàm Cỏ, nên tuyến sông Sài Gòn/Đồng Nai – Nhà Bè – Soài Rạp – hệ thống Vàm Cỏ là con đường giao lưu thuận tiện nhất giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.[50][51]
Năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đề nghị triều đình Chân Lạp cho lập một trạm thu thuế tại Prây Kor để quản lý lưu dân. Trong giai đoạn khai khẩn ban đầu, người Việt thường di chuyển theo cửa biển và các dòng sông. Bến Nghé và khu vực quanh Thủ Dầu Một đều nằm gần sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, trở thành những điểm dừng chân sớm của lưu dân.[52]
Cảng thị Bến Nghé – Sài Gòn, 1698–1859
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh tổ chức phủ Gia Định, lập huyện Tân Bình và dinh Phiên Trấn. Bến Nghé nằm tại đầu mối giữa kênh Chợ Lớn và sông Sài Gòn. Từ cuối thế kỷ XVIII, khu Bến Nghé – Sài Gòn phát triển thành đô thị cảng và dần tiếp nhận vai trò trung tâm thương mại từ Cù lao Phố.[16]
Phần lớn làng và chợ ở Sài Gòn – Gia Định hình thành ven sông, kênh rạch; Chợ Bến Thành, Thị Nghè và Chợ Lớn thuộc hệ thống này.[53] Người Hoa chuyển hoạt động về Phiên Trấn, còn cộng đồng Minh Hương lập chợ Sài Gòn.[54]
Năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm cho đào kênh Ruột Ngựa, nối Sài Gòn với miền Tây.[55] Tuyến kênh chạy từ cửa Rạch Cát đến Lò Gốm. Trước khi đào kênh, đoạn nước này bị đọng và ghe thuyền không thể qua lại. Tuyến kênh thẳng hơn giúp hành trình đường thủy giữa Sài Gòn và miền Tây thuận tiện hơn.[56]
Kiến trúc sư Phù Văn Toàn mô tả Sài Gòn trước năm 1859 là một đô thị "vừa làng vừa cảng", với mạng lưới làng, xóm, chợ và đầu mối giao thông đường thủy đan xen. Ông cho rằng các cụm cư trú ven kênh rạch gồm nhà ở, vườn tược, bến nước và đình chùa, đồng thời gắn với buôn bán và vận chuyển bằng ghe thuyền, tạo nên dạng văn hóa "làng - phố - bến".[57]
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, Bến Nghé – Sài Gòn tiếp nhận thuyền buôn trong nước và nước ngoài, đồng thời nối Cần Giờ, hệ thống sông Đồng Nai và các tuyến về đồng bằng sông Cửu Long.[16] Xưởng Thủy, nằm bên sông Tân Bình và rạch Thị Nghè, là cơ sở đóng, sửa chiến thuyền và đúc súng; khu vực này về sau gắn với Ba Son.[58]
Cảng và đô thị thuộc địa, 1859–1914
Đầu tháng 2 năm 1859, hải đoàn Pháp – Tây Ban Nha tập trung ở cửa sông Sài Gòn. Ngày 10 tháng 2, hai đồn tại Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu) bị tấn công và phá hủy; sau đó đồn Cần Giờ cũng bị phá hủy.[59] Tháng 2 năm 1860, chính quyền Pháp chính thức mở sông và cảng Sài Gòn phục vụ thương mại quốc tế.[10] Từ tháng 2 năm 1860, cảng tiếp nhận tàu vận chuyển và hàng xuất nhập khẩu; lúa gạo là mặt hàng chính.[17]
Quy định ngày 11 tháng 4 năm 1861 dùng rạch Thị Nghè, rạch Bến Nghé và sông Sài Gòn làm các mốc ranh giới của thành phố.[60] Trong mô tả địa giới thành phố thời thuộc địa, sông Sài Gòn là ranh giới phía đông.[16][61] Một tư liệu đương thời được dẫn lại trong sách Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu mô tả thành phố khi đó kéo dài khoảng 2 km dọc bờ sông Sài Gòn và được sông ngòi bao quanh ba phía.[62]
Bản quy hoạch năm 1862 thể hiện các trục giao thông chính của đô thị.[63] Hãng vận tải Messageries Impériales xây trụ sở bên bờ sông từ giữa năm 1862 và hoàn thành công trình năm 1863. Công trình về sau mang tên Nhà Rồng, còn bến cảng phía trước được gọi là Bến cảng Nhà Rồng.[64] Đến năm 1863, các cầu tàu, bến bãi và nhà kho đã được xây dựng dọc bờ Bến Nghé và Khánh Hội.[65] Từ năm 1863 trở đi, một số tòa nhà thương mại bắt đầu xuất hiện tại khu bến cảng ở góc sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé, gần đầu đại lộ Hàm Nghi ngày nay.[66] Quy hoạch đô thị đầu thời thuộc địa đặt khu hành chính gần Đồn Đất, khu quân sự ở phía sau và các kho hải quân hướng ra sông Sài Gòn. Bến cảng cùng kho bãi cũng được hình thành trong quá trình này.[67]
Bản vẽ năm 1881 thể hiện thuyền bè nhỏ qua lại đông đúc trên các kênh Thị Nghè và Bến Nghé, còn tàu thuyền lớn hoạt động trên sông Sài Gòn.[68]
Chợ Bến Thành cũ nằm hai bên sông Sa Ngư, một nhánh chảy ra sông Sài Gòn.[69] Năm 1887, chính quyền thuộc địa lấp ngòi này để hình thành đường Charner, nay là đường Nguyễn Huệ.[70]
Các nguồn dùng những mốc khác nhau cho các giai đoạn hình thành cơ sở hải quân tại Ba Son. Đại tá Phan Văn Bình, khi đó là Bí thư Đảng ủy và Chủ tịch Tổng công ty Ba Son, cho biết người Pháp xây Arsenal de Saigon trên khu đất Xưởng Thủy cũ ngày 28 tháng 4 năm 1863.[71] Hoàng Hằng và Đỗ Huyền Trang ghi cơ xưởng hải quân Ba Son ra đời năm 1884.[72] Về công trình sửa tàu, hai tác giả này ghi một bể dài 150 m được xây năm 1884.[72] Một tư liệu khác của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I ghi ụ cạn dài 168 m, khởi công năm 1884 và khánh thành năm 1888.[18] Đến năm 1905, Sài Gòn có xưởng đóng tàu Ba Son và một số xưởng sửa chữa, đóng xà lan quy mô nhỏ.[73]
Cảng tự quản và mạng giao thông vùng, 1914–1954
Ngày 2 tháng 1 năm 1914, thương cảng Sài Gòn trở thành một cơ quan tự quản có tư cách pháp nhân, do hội đồng quản trị điều hành. Hội đồng quản lý tàu bè, hàng hóa, trang thiết bị và nhân sự, đồng thời quyết định việc bảo trì, nâng cấp và mở rộng cảng.[10]
Cảng Sài Gòn có 707 lượt tàu vào và 709 lượt tàu rời năm 1913; đến năm 1922, các số liệu tương ứng là 775 và 776.[74] Tổng lượng hàng hóa đường dài vào và ra cảng đạt 1.714 nghìn tấn năm 1917, giảm còn 946 nghìn tấn năm 1918 và tăng lên 1.721 nghìn tấn năm 1922.[74]
Trong thập niên 1920, hội đồng quản trị triển khai chương trình xây dựng bằng kinh phí thường xuyên và khoản vay 2 triệu đồng bạc. Chương trình gồm mở rộng và quy hoạch bờ kè, bến tàu; nối đường ray ra bến; xây kho, tổng kho và kho than; lắp máy bốc dỡ cùng cẩu quay. Cảng còn dự kiến mở dịch vụ xà lan vận chuyển gạo giữa Chợ Lớn và Sài Gòn.[10]
Địa chí Bình Dương xếp sông Sài Gòn trong ba tuyến giao thông thủy chính của tỉnh và đánh giá đây là tuyến có giá trị bậc nhất nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, đồng thời nối trực tiếp Thủ Dầu Một với Sài Gòn, trung tâm kinh tế – văn hóa của miền Nam thời bấy giờ.[75] Đầu thế kỷ XX, tuyến có chuyến sa-lúp hằng ngày từ Thủ Dầu Một đến Sài Gòn và dịch vụ vận tải đường thủy chuyên chở nông sản.[76] Đến năm 1914, toàn Nam Kỳ có 1.745 km đường thủy có tàu hơi nước hoạt động. Số liệu này áp dụng cho toàn Nam Kỳ, không riêng sông Sài Gòn.[73]
Từ năm 1955
Năm 1955, thương cảng Sài Gòn, trong đó có Nhà Rồng, được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý.[64]
Trong nửa sau thập niên 1960, một cảng quân sự mới được xây ở thượng lưu thành phố để bổ sung năng lực tiếp nhận hàng hóa.[77] Cuối năm 1966, toàn bộ 5.000 công nhân bốc xếp Sài Gòn đình công trong tranh chấp việc làm tại Newport. Trong thời gian đình công, binh sĩ Hoa Kỳ chỉ dỡ vật tư quân sự thiết yếu, khiến tàu chở hàng dân sự và hàng USAID ùn lại trên sông. Tổng thư ký Nghiệp đoàn Công nhân bốc xếp Sài Gòn Nguyễn Hoàng Tân cho rằng các cảng trên sông Sài Gòn thuộc về công nhân bốc xếp Việt Nam; sau khi hợp đồng tạm thời bốn tháng hết hạn, nghiệp đoàn quyết giữ lại các việc làm này.[78] Cảng Newport hoàn thành năm 1967.[79]
Năm 1975, thương cảng được đổi tên thành Cảng Sài Gòn.[80] Nhà Rồng thuộc Cục đường biển Việt Nam quản lý và được giữ lại làm di tích lưu niệm theo quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh năm 1979.[64]
Khai thác và quản lý
Cấp nước và thủy lợi
Sông Sài Gòn là một nguồn nước mặt của Thành phố Hồ Chí Minh; nhà máy nước Sài Gòn tại Bến Than, Củ Chi lấy nước thô từ dòng sông.[81] Hồ Dầu Tiếng và hệ thống kênh tưới cung cấp nước cho nông nghiệp.[6] Việc lấy nước ở hạ lưu được phối hợp với vận hành hồ Dầu Tiếng.[38]
Các nguồn ghi khác nhau về năm hồ bắt đầu vận hành. Đánh giá tác động môi trường do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố năm 2003 ghi mốc 1985.[82] Báo cáo cấp nước của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản năm 2013 ghi mốc 1987.[83]
Dự án Dầu Tiếng là dự án tài nguyên nước đầu tiên tại Việt Nam nhận tài trợ của Hiệp hội Phát triển Quốc tế thuộc Ngân hàng Thế giới. Ban đầu, hồ cấp nước tưới, nước cho đô thị và công nghiệp tại Tây Ninh, đồng thời hạn chế xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn. Đến năm 1993, phạm vi phân bổ nước tưới được điều chỉnh để bao gồm các vùng thuộc Tây Ninh, Củ Chi, Long An và Bình Dương.[84]
Khi ở mực nước bình thường, hồ có dung tích hữu ích khoảng 1,11 tỷ m³ trên tổng dung tích 1,58 tỷ m³. Nước được phân phối qua kênh Đông, kênh Tây, kênh Tân Hưng và cửa xả về sông Sài Gòn.[85] Kênh Tân Hưng bắt đầu hoạt động năm 1998, chủ yếu cấp nước cho công nghiệp và tưới tối đa 10.000 ha. Chương nghiên cứu năm 2002 về phân bổ và sử dụng nước trong lưu vực Đồng Nai nhận xét rằng cạnh tranh sử dụng nước đã xuất hiện rõ giữa khu vực công nghiệp và các khu vực khác.[86]
Quản lý nguồn nước
Sông Sài Gòn nằm trong phạm vi Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Đồng Nai thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch này được phê duyệt năm 2024 và xác định các chức năng của nguồn nước trên lưu vực gồm cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp; giao thông thủy; thoát lũ; duy trì cảnh quan, hệ sinh thái thủy sinh và đa dạng sinh học.[87]
Quy hoạch đặt mục tiêu hoàn thiện hành lang bảo vệ nguồn nước, duy trì dòng chảy, phòng chống xói lở bờ và phục hồi các đoạn sông bị suy thoái hoặc ô nhiễm. Văn bản cũng yêu cầu kiểm soát cao độ đáy sông cùng hoạt động khai thác cát, sỏi. Các mục tiêu này áp dụng cho toàn lưu vực Đồng Nai.[88]
Cảng và đường thủy
Năm 2008, khu bến Cảng Sài Gòn trên sông gồm Nhà Rồng, Khánh Hội, Tân Thuận và Tân Thuận 2. Cảng container quốc tế Việt Nam (VICT) là bến container chuyên dụng trên sông Sài Gòn.[89] Kế hoạch lúc đó dự kiến chuyển phần lớn chức năng hàng hóa của khu bến trung tâm về Hiệp Phước và cụm Cái Mép – Thị Vải, đồng thời giữ lại bến hành khách.[90]
Tàu biển tiếp cận các bến trên sông chủ yếu qua luồng Lòng Tàu. Năm 2010, tuyến luồng dài khoảng 85 km và có độ sâu công bố 8,5 m.[91] Quy hoạch năm 2008 đề xuất cải tạo đoạn Sài Gòn – Bến Súc dài 89 km lên đường thủy nội địa cấp III.[92]
Công trình vượt sông
-
Cầu Phú Mỹ vượt sông Sài Gòn
-
Cửa phía đông hầm Thủ Thiêm
Bản đồ vùng phụ cận Sài Gòn năm 1895 thể hiện bến phà Thủ Thiêm. Trên bản đồ năm 1911, một bến phà khác được đánh dấu ở phía bắc vị trí cũ. Các tuyến này nối trung tâm Sài Gòn với đường đi Thủ Đức và Biên Hòa.[93]
Cầu Sài Gòn hoàn thành năm 1961, dài 986,12 m và sử dụng dầm thép ở các nhịp chính.[94]
Cầu Thủ Thiêm hoàn thành năm 2008.[95] Cầu Phú Mỹ hoàn thành năm 2009, vượt sông Sài Gòn trên tuyến Vành đai 2.[96] Hầm Thủ Thiêm là hạng mục vượt sông thuộc dự án Đại lộ Đông – Tây. Công trình dài khoảng 1,49 km, có sáu làn xe và hoàn thành năm 2011.[97] Phần vượt sông sử dụng kết cấu hầm dìm.[98]
Môi trường
Chất lượng nước
Trong giai đoạn 2015–2017, đoạn sông qua trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh có dư thừa chất dinh dưỡng, sinh khối tảo rất cao và những đợt thiếu oxy hòa tan vào mùa khô. Tác động phú dưỡng chưa biểu hiện rõ ở hạ lưu vì khối nước sông Sài Gòn được pha trộn với nước sông Đồng Nai và nước biển trong các chu kỳ bán nhật triều.[13] Trong mùa khô, mô hình C-GEM tái hiện một khối nước ô nhiễm kéo dài khoảng 30 km, có nồng độ chất dinh dưỡng cao và oxy hòa tan thấp. Khối nước này hình thành do tác động kết hợp của thủy triều và khả năng trao đổi nước thấp.[99]
Mô phỏng MIKE 21FM cho thấy chất lượng nước tại các trạm trên sông Đồng Nai tốt hơn trạm Hòa Phú trên sông Sài Gòn. Hòa Phú có BOD5 cao và oxy hòa tan thấp. Hóa An đạt cột A2 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT; Bình An nhìn chung đạt mức này nhưng không đạt vào mùa khô.[100]
Trầm tích và chất ô nhiễm
Tại đoạn hạ lưu được khảo sát, tổng nồng độ của 11 kim loại và á kim trong phân đoạn trao đổi của trầm tích mặt cao hơn vào mùa mưa và ở phần thượng lưu của đoạn nghiên cứu. Phân tích đa biến nhận diện ba nhóm nguồn đóng góp.[101] Hai cơ chế làm tăng sắt và mangan gồm rửa trôi trong môi trường axit từ đất phèn ở phần giữa lưu vực, cùng quá trình hòa tan mangan và khử sắt từ trầm tích hạ lưu. Nồng độ cao của hai nguyên tố này gây khó khăn cho hoạt động cấp nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.[102]
Trong khảo sát năm 2014 tại 12 điểm dọc sông, trầm tích ở tất cả điểm lấy mẫu đều chứa hợp chất butyltin ở các mức khác nhau; TBT không được phát hiện hoặc ở mức rất thấp tại ba điểm SG10–SG12.[103] Một khảo sát khác phân tích 17 mẫu trầm tích lấy từ dòng chính và cửa các kênh đô thị để xác định hydrocarbon thơm đa vòng, PCB, một số thuốc trừ sâu, PBDE và PFAS. Trầm tích sông nhìn chung có nồng độ chất ô nhiễm hữu cơ bền thấp. Trầm tích cửa kênh có xu hướng ô nhiễm hơn, nhưng khác biệt so với dòng chính không có ý nghĩa thống kê.[104]
Trên tuyến sông – cửa sông dài khoảng 140 km, 120 trong số 217 chất ô nhiễm vi lượng mục tiêu được phát hiện. Tổng nồng độ và các đáp ứng sinh học thay đổi dọc tuyến, nhìn chung giảm về phía cửa sông. Các kênh đô thị là nguồn đóng góp lớn vào đoạn sông qua thành phố.[14]
Một nghiên cứu tại Cần Giờ đối chiếu phép định tuổi trầm tích bằng 210Pb với dấu mốc dioxin ở một lõi lân cận. Hai cách định tuổi cho kết quả chênh lệch đáng kể, trong khi các tín hiệu 137Cs và 241Am không đủ để kiểm chứng độc lập. Nghiên cứu kết luận không nên áp dụng phương pháp 210Pb tại địa điểm khảo sát.[105]
Rác thải nhựa
Một khảo sát công bố năm 2018 đồng thời lấy mẫu rác nhựa cỡ lớn và vi nhựa trên sông cùng bốn kênh đô thị. Tại kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, nhựa chiếm 11–43% khối lượng rác nổi được thu gom hằng ngày. Số liệu chỉ phản ánh rác nổi tại điểm khảo sát trên kênh, không phải toàn bộ sông.[15]
Sợi nhân tạo và mảnh vi nhựa được thu bằng các phương pháp khác nhau. Trong mẫu nước mặt, mật độ sợi cao hơn nhiều so với mật độ mảnh vi nhựa. Các mảnh nhựa chủ yếu là polyethylene và polypropylene, còn sợi nhân tạo chủ yếu là polyester.[15]
Tại 11 vị trí được khảo sát trong nghiên cứu công bố năm 2024, mật độ vi nhựa dao động từ 140 đến 1.200 hạt/kg trầm tích khô. Mật độ thay đổi theo mùa và giữa dòng chính với phụ lưu, trong đó trầm tích phụ lưu có mức cao hơn vào mùa khô.[106]
Trong văn hóa
Dưới triều Nguyễn, hình tượng sông Tân Bình được đúc trên Cao đỉnh thuộc Cửu Đỉnh vào năm Minh Mạng thứ 17. Đến năm Tự Đức thứ 3, dòng sông được đưa vào điển thờ.[19]
Tên Sài Gòn và Bến Nghé xuất hiện trong thơ văn về Gia Định, gồm các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, Gia Định thất thủ vịnh và Kim Gia Định phong cảnh vịnh. Ca dao cùng hò và vè còn lưu lại hình ảnh bến sông, con nước, ghe thuyền và hoạt động mua bán trên tuyến Bến Nghé – Chợ Lớn.[19]
Hình ảnh
-
Cầu Ba Son nhìn từ công viên Bến Bạch Đằng
-
Sông Sài Gòn đoạn qua khu vực cảng
-
Sông đoạn qua khu vực Bình Thạnh
-
Sông Sài Gòn và kênh Thanh Đa nhìn từ trên cao
-
Hình ảnh Sông Sài Gòn chụp qua tuyến xe buýt số 88
Xem thêm
- Danh sách các cầu bắc qua sông Sài Gòn
- Hồ Dầu Tiếng
- Lễ hội Sông nước Thành phố Hồ Chí Minh
- Hệ thống sông Đồng Nai
- Sông Nhà Bè
Thư mục
- Camenen, B.; Gratiot, N.; Cohard, J.-A.; Gard, F.; Tran, V. Q.; Nguyen, A.-T.; Dramais, G.; van Emmerik, T.; Némery, J. (ngày 20 tháng 3 năm 2021). "Monitoring discharge in a tidal river using water level observations: Application to the Saigon River, Vietnam". Science of the Total Environment (bằng tiếng Anh). Quyển 761. doi:10.1016/j.scitotenv.2020.143195.
- Caracciolo, Romane; Escher, Beate I.; Lai, Foon Yin; Nguyen, Truong An; Le, Thi Minh Tam; Schlichting, Rita; Tröger, Rikard; Némery, Julien; Wiberg, Karin; Nguyen, Phuoc Dan; Baduel, Christine (ngày 15 tháng 6 năm 2023). "Impact of a megacity on the water quality of a tropical estuary assessed by a combination of chemical analysis and in-vitro bioassays". Science of the Total Environment (bằng tiếng Anh). Quyển 877. doi:10.1016/j.scitotenv.2023.162525.
- Ministry of Agriculture and Rural Development; GEC Global Environmental Consultants Ltd.; Center for Biotechnology for Life and Production (tháng 4 năm 2003). Environmental Impact Assessment for Viet Nam Water Resources Assistance Project, Volume 2, Report No. 7: Draft Final Environmental Impact Assessment of Dau Tieng Sub-Project (PDF) (bằng tiếng Anh). Ministry of Agriculture and Rural Development. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026 – qua World Bank.
- Dunn, Carroll H. (1972). Base Development in South Vietnam, 1965–1970 (PDF) (bằng tiếng Anh). Washington, D.C.: Department of the Army. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- Gouvernement général de l'Indochine (1927). Annuaire statistique de l'Indochine. Premier volume: Recueil de statistiques relatives aux années 1913 à 1922 (PDF) (bằng tiếng Pháp). Hà Nội: Imprimerie d'Extrême-Orient. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- Japan International Cooperation Agency (tháng 9 năm 2003). The Study on Nationwide Water Resources Development and Management in the Socialist Republic of Vietnam: Final Report, Vol. 2 – Main Report: Phase 1 Master Plan for Nationwide Water Resources Development and Management in 14 Major River Basins (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2026.
- Japan International Cooperation Agency (tháng 2 năm 2010). The Study on Guidelines for Assessing Port Development Priorities including Acceptable Performance Levels in ASEAN: Final Report, Part 2 – Network Ports (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- Japan International Cooperation Agency (tháng 6 năm 2013). Water Quality Monitoring Plan of Saigon River, Ho Chi Minh City (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
- Japan International Cooperation Agency (tháng 8 năm 2013). The Study on Water Supply Improvement in Ho Chi Minh City: Final Report (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2026.
- Lahens, Lisa; Strady, Emilie; Kieu-Le, Thuy-Chung; Dris, Rachid; Boukerma, Kada; Rinnert, Emmanuel; Gasperi, Johnny; Tassin, Bruno (tháng 5 năm 2018). "Macroplastic and microplastic contamination assessment of a tropical river (Saigon River, Vietnam) transversed by a developing megacity". Environmental Pollution (bằng tiếng Anh). 236. doi:10.1016/j.envpol.2018.02.005.
- Lê Hữu Phước (2013). "Nhận diện di sản kinh tế thời thuộc địa ở Nam Kỳ". Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ. 16 (X3). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- Lê Nguyễn (2006). Thành cổ Sài Gòn và mấy vấn đề về triều Nguyễn. Nhà xuất bản Trẻ. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- Lê Vy Hảo (2018). "Sự hình thành và phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh Bình Dương từ khi hình thành đến thời cận đại". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 15 (8). doi:10.54607/hcmue.js.15.8.2293(2018). ISSN 1859-3100. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- Nguyen, Dzung Do (2013). "Size, Shape and Dispersion: Urban form evolution in Saigon River Basin and its impacts on hydrologic performance from 1990 to 2010". 49th ISOCARP Congress (PDF) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
- Nguyen, Tuyet T. N.; Némery, Julien; Gratiot, Nicolas; Strady, Emilie; Tran, Viet Q.; Nguyen, An T.; Aimé, Joanne; Peyne, Alice (2019). "Nutrient dynamics and eutrophication assessment in the tropical river system of Saigon–Dongnai (Southern Vietnam)". Science of the Total Environment (bằng tiếng Anh). Quyển 653. doi:10.1016/j.scitotenv.2018.10.319.
- Nguyen, An Truong; Dao, Thanh-Son; Strady, Emilie; Nguyen, Tuyet T. N.; Aimé, Joanne; Gratiot, Nicolas; Némery, Julien (2022). "Phytoplankton characterization in a tropical tidal river impacted by a megacity: the case of the Saigon River (Southern Vietnam)". Environmental Science and Pollution Research (bằng tiếng Anh). Quyển 29 số 3. doi:10.1007/s11356-021-15850-x.
- Ngo Xuan Quang; Nguyen Thi My Yen; Tran Thanh Thai; Nguyen Ngoc Chau; Nguyen Duc Hiep; Smol, Nic; Lins, Lidia; Vanreusel, Ann (2017). "Nematode morphometry and biomass in the Saigon River harbours in relation to antifouling contaminants". Nematology (bằng tiếng Anh). Quyển 19 số 6. doi:10.1163/15685411-00003083.
- Pham, Anh Duc (2017). "Linking Benthic Macroinvertebrates and Physicochemical Variables for Water Quality Assessment in Saigon River and Its Tributaries, Vietnam". IOP Conference Series: Earth and Environmental Science (bằng tiếng Anh). 92 012053. doi:10.1088/1755-1315/92/1/012053.
- Rodrigues do Amaral, Francisco; Camenen, Benoît; Nguyen Trung, Tin; Tran Anh Tu; Pellarin, Thierry; Gratiot, Nicolas (2025). "Technical note: Operational calibration and performance improvement for a 1D hydrodynamic model in a data-scarce coastal area". Hydrology and Earth System Sciences (bằng tiếng Anh). 29. doi:10.5194/hess-29-4327-2025.
- Sài Gòn xưa & nay. Tạp chí Xưa & Nay. 2007. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- Schreyers, Louise J.; van Emmerik, Tim H. M.; Bui, Thanh-Khiet L.; van Thi, Khoa L.; Vermeulen, Bart; Nguyen, Hong-Q.; Wallerstein, Nicholas; Uijlenhoet, Remko; van der Ploeg, Martine (2024). "River plastic transport affected by tidal dynamics". Hydrology and Earth System Sciences (bằng tiếng Anh). 28. doi:10.5194/hess-28-589-2024.
- Schwarzer, Klaus; Nguyen Cong Thanh; Ricklefs, Klaus (2016). "Sediment re-deposition in the mangrove environment of Can Gio, Saigon River estuary (Vietnam)". Journal of Coastal Research (bằng tiếng Anh). Quyển 75 số sp1. doi:10.2112/SI75-028.1.
- Tống Xuân Tám; Nguyễn Thị Ngọc Chúc (2011). "Điều tra thành phần các loài cá ở một số nhánh sông, suối chính chảy vào sông Sài Gòn thuộc tỉnh Bình Phước". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Số 27. doi:10.54607/hcmue.js.0.27.1698(2011). Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
- Thủ tướng Chính phủ (ngày 8 tháng 1 năm 2024). "Quyết định số 22/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Đồng Nai thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- Trần Thuận (2016). "Sài Gòn trong quá trình Nam Bộ hội nhập với khu vực thế kỷ XIX". Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ. 19 (X4). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
- Truong, Thanh Quoc; Descloitres, Marc; Ngo, Tan Phong; Tran, Tu Anh; Tweed, Sarah; Legchenko, Anatoly; Nguyen, Tin Trung; Tran, Thanh Long; Tran, Xuan Van; Oxarango, Laurent (2025). "Investigating aquifer vulnerability in the Saigon River Basin (Vietnam) using time domain electromagnetic soundings (TDEM)". Journal of Hydrology: Regional Studies (bằng tiếng Anh). Quyển 58. doi:10.1016/j.ejrh.2025.102306.
Chú thích
- ^ a ă â b c "Quyết định số 205/QĐ-TTg ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và Danh mục lưu vực sông liên tỉnh" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 31 tháng 1 năm 2026. Phụ lục I, mục 45 và ghi chú. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă â Schreyers và đồng nghiệp 2024, tr. 591.
- ^ a ă â Rodrigues do Amaral và đồng nghiệp 2025, tr. 4329.
- ^ a ă "Thông tư số 01/2026/TT-BXD công bố vùng nước cảng biển, khu vực hàng hải thuộc địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Đồng Tháp và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 7 tháng 1 năm 2026. Điều 1, khoản 2, điểm a. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă JICA Water Supply 2013, tr. 1-18–1-19.
- ^ a ă "Kiểm tra công tác phòng, chống thiên tai, an toàn hồ, đập tại hồ Dầu Tiếng". Cơ quan phòng, chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. ngày 13 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă Camenen và đồng nghiệp 2021, Abstract.
- ^ a ă JICA Water Supply 2013, tr. 1-22.
- ^ JICA Water Supply 2013, Abstract, tr. ii.
- ^ a ă â b c d Hoàng Hằng; Nguyễn Hồng (ngày 3 tháng 5 năm 2025). "Sài Gòn – Thương cảng hàng đầu vùng Viễn Đông". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ JICA Water Quality 2013, tr. 13.
- ^ a ă â Nguyen và đồng nghiệp 2022, Abstract.
- ^ a ă Nguyen và đồng nghiệp 2019, Abstract.
- ^ a ă Caracciolo và đồng nghiệp 2023, Abstract.
- ^ a ă â Lahens và đồng nghiệp 2018, tr. 661.
- ^ a ă â b c d Trần Thuận 2016, tr. 131–132.
- ^ a ă Lê Hữu Phước 2013, tr. 141.
- ^ a ă Bùi Hệ (ngày 18 tháng 7 năm 2016). "Sài Gòn năm 1900". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Mục "Nhà máy đóng tàu". Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă â Dương Hoàng Lộc (ngày 6 tháng 1 năm 2011). "Một số dấu ấn văn hóa của sông Sài Gòn". Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă Tống Xuân Tám & Nguyễn Thị Ngọc Chúc 2011, tr. 128.
- ^ Nhật Phong (ngày 14 tháng 9 năm 2020). "Bình Phước có 75 con sông lớn nhỏ". Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bình Phước. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
- ^ JICA Water Quality 2013, tr. 21.
- ^ a ă â Camenen và đồng nghiệp 2021, Study site.
- ^ a ă Lahens và đồng nghiệp 2018, Study area.
- ^ Nguyen Dzung Do 2013, tr. 1, 4.
- ^ Nguyen Dzung Do 2013, tr. 7.
- ^ a ă Truong và đồng nghiệp 2025, Abstract.
- ^ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2003, tr. 18–19 (trang PDF 29–30).
- ^ Le Xuan Thuyen; Schwarzer, Klaus; Nguyen, Thanh Cong; Bui, Luan Thi; Unverricht, Daniel (2022). "Late Holocene Morphodynamic Feedback in Can Gio Mangrove Tide-Dominated River Mouth Systems, Vietnam". Coasts (bằng tiếng Anh). 2 (3): 221–243. doi:10.3390/coasts2030011.
- ^ Schwarzer, Nguyen Cong Thanh & Ricklefs 2016, tr. 139, 141–142.
- ^ Giang, Ngo Ngoc Hoang; Quang, Chau Nguyen Xuan; Long, Do Tan; Ky, Pham Dinh; Vu, Nguyen Duc; Tran, Dung Duc (ngày 5 tháng 1 năm 2022). "Statistical and Hydrological Evaluations of Water Dynamics in the Lower Sai Gon-Dong Nai River, Vietnam". Water (bằng tiếng Anh). Quyển 14 số 1. tr. 3–4. doi:10.3390/w14010130.
- ^ Japan International Cooperation Agency; Nippon Koei Co., Ltd.; NIKKEN Consultants, Inc. (tháng 9 năm 2003). The Study on Nationwide Water Resources Development and Management in the Socialist Republic of Vietnam: Final Report, Volume V, Supporting Report, Phase 1; Appendix B: Meteo-hydorology (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. Table B.13, tr. BT-15. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyen, Tuyet T. N.; Némery, Julien; Gratiot, Nicolas; Garnier, Josette; Strady, Emilie; Nguyen, Dan P.; Tran, Viet Q.; Nguyen, An T.; Cao, Son Tung; Huynh, Trang P. T. (2020). "Nutrient budgets in the Saigon–Dongnai River basin: Past to future inputs from the developing Ho Chi Minh megacity (Vietnam)". River Research and Applications (bằng tiếng Anh). Quyển 36 số 6. tr. 980, 982. doi:10.1002/rra.3552. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2026.
- ^ Japan International Cooperation Agency 2003, tr. 2-13.
- ^ a ă Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2003, tr. 19 (trang PDF 30).
- ^ Japan International Cooperation Agency 2003, tr. 3-34.
- ^ Schwarzer, Nguyen Cong Thanh & Ricklefs 2016, tr. 140.
- ^ a ă JICA Water Supply 2013, tr. 1-30.
- ^ Tuan Pham Van; Sucharit Koontanakulvong (ngày 31 tháng 1 năm 2018). "Groundwater and River Interaction Parameter Estimation in Saigon River, Vietnam". Engineering Journal (bằng tiếng Anh). Quyển 22 số 1. tr. 257. doi:10.4186/ej.2018.22.1.257.
- ^ Dinh Ho Tong Minh; Le Van Trung; Thuy Le Toan (2015). "Mapping Ground Subsidence Phenomena in Ho Chi Minh City through the Radar Interferometry Technique Using ALOS PALSAR Data". Remote Sensing (bằng tiếng Anh). Quyển 7 số 7. tr. 8544, 8551, 8556–8557. doi:10.3390/rs70708543.
- ^ Oya, A.; Bui, H. H.; Hiraoka, N.; Fujimoto, M.; Fukagawa, R. (2015). "Seepage flow-stability analysis of the riverbank of Saigon River due to river water level fluctuation". International Journal of GEOMATE (bằng tiếng Anh). Quyển 8 số 1. tr. 1212. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2026.
- ^ Markova, Irina; Phan Khanh Khanh; Vokhidov, Oybek (2023). "Current velocity field in section of Sai Gon river during operation of flood control structures". E3S Web of Conferences (bằng tiếng Anh). Quyển 401. tr. 10–11. doi:10.1051/e3sconf/202340101050.
- ^ Tống Xuân Tám & Nguyễn Thị Ngọc Chúc 2011, tr. 127.
- ^ a ă Pham Anh Duc 2017, tr. 1, 3–4.
- ^ Pham Anh Duc 2017, tr. 3–4.
- ^ a ă Pham Anh Duc 2017, tr. 4–5.
- ^ Ngo và đồng nghiệp 2017, tr. 728–734.
- ^ Phạm Thanh Lưu; Nguyễn Tấn Đức (ngày 30 tháng 3 năm 2018). "Using benthic diatoms as bio-indicators of water quality of the Saigon River, Vietnam". CTU Journal of Innovation and Sustainable Development (bằng tiếng Anh). Số 08. tr. 106. doi:10.22144/ctu.jen.2018.014.
- ^ Khảo cổ học: tiền sử & sơ sử Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Trẻ. 1998. tr. 382. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- ^ Nguyễn Thị Hậu (ngày 26 tháng 7 năm 2017). "Cần Giờ hai ngàn năm trước". Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Sài Gòn xưa & nay 2007, tr. 114.
- ^ Lê Vy Hảo 2018, tr. 149–150.
- ^ Lê Quang Cần (2016). "Chợ ở Sài Gòn - Gia Định thời Nguyễn". Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. Số 11 (108). tr. 110. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nam bộ đất & người. Quyển 1. Nhà xuất bản Trẻ. 2002. tr. 31. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- ^ "Niên biểu 300 năm Sài Gòn - TPHCM". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 13 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ "Xóm Lò Gốm Sài Gòn xưa". Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Phù Văn Toàn (tháng 1 năm 2026). "Đô thị sông nước, triết lý không gian và kiến tạo nơi chốn: Trường hợp Sài Gòn đối sánh Đông - Tây" (PDF). Tạp chí Xây dựng. Số 01.2026. tr. 74–75. ISSN 2734-9888. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Trần Thuận 2016, tr. 134.
- ^ Lê Nguyễn 2006, tr. 37.
- ^ Lê Nguyễn 2006, tr. 39.
- ^ Trần Thuận (2017). Nam bộ vài nét lịch sử - văn hóa. Quyển 2. Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 84. ISBN 9786046832249. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- ^ Trần Hữu Quang (2012). Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 14. ISBN 9786045803202.
- ^ "Triển lãm "Từ Sài Gòn đến Thành phố Hồ Chí Minh: Bản đồ và hình ảnh"". Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. ngày 5 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă â "Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh". Bảo tàng Hồ Chí Minh. ngày 1 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Phúc Tiến (ngày 16 tháng 3 năm 2023). "Giữ gìn và kiến tạo Thương cảng Sài Gòn – chứng tích thành phố mở". Người Đô Thị. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh: dấu ấn 30 năm. Nhà xuất bản Thông tấn. 2005. tr. 180. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- ^ Nguyễn Thị Thanh Tâm (ngày 29 tháng 4 năm 2022). "Quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn – Chợ Lớn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Quyển 19 số 4. tr. 643. doi:10.54607/hcmue.js.19.4.3400(2022). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Sài Gòn xưa & nay 2007, tr. 40.
- ^ 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. 1998. tr. 56. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- ^ "Giới thiệu về chợ Bến Thành". Chợ Bến Thành. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Phan Tùng Sơn (ngày 4 tháng 8 năm 2025). "Chiều sâu lịch sử và khát vọng vươn khơi". Báo Quân đội nhân dân. Mục "Ký ức lịch sử và giá trị biểu tượng". Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă Hoàng Hằng; Đỗ Huyền Trang (ngày 8 tháng 11 năm 2022). "Ba Son – Cơ xưởng Hải quân quan trọng bậc nhất xứ Nam kỳ". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ a ă Lê Hữu Phước 2013, tr. 143.
- ^ a ă Gouvernement général de l'Indochine 1927, Bảng XIII, tr. 139.
- ^ Phan Xuân Biên, biên tập (2010). Địa chí Bình Dương: Kinh tế. Quyển 3. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. tr. 220. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026 – qua Google Books.
- ^ Lê Vy Hảo 2018, tr. 152–153.
- ^ Dunn 1972, tr. 59.
- ^ "World: On the Waterfront". TIME (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 1 năm 1967. đoạn 4–5. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
- ^ Dunn 1972, tr. 114.
- ^ "Overview". Cảng Sài Gòn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyen Phuoc Dan; Nguyen Thi Van Ha; Bui Xuan Thanh; Nguyen Van Nga; Le Van Khoa (2007). "Water Resources Management in Ho Chi Minh City". Sustainable Groundwater Management in Asian Cities (PDF) (bằng tiếng Anh). Institute for Global Environmental Strategies. tr. 70. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2003, tr. 19 (trang PDF 35).
- ^ JICA Water Supply 2013, Bảng 1-3-7 và phần thuyết minh, tr. 1-18 (trang PDF 34).
- ^ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2003, tr. 3 (trang PDF 13).
- ^ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2003, tr. 8–9, 19 (trang PDF 18–19, 30).
- ^ Ringler, Claudia; Nguyen Chi Cong; Nguyen Vu Huy (2002). "Water allocation and use in the Dong Nai River Basin in the context of strengthening water institutions". Trong Bruns, Bryan; Bandaragoda, D. J.; Samad, Madar (biên tập). Integrated Water-Resources Management in a River-Basin Context: Institutional Strategies for Improving the Productivity of Agricultural Water Management (bằng tiếng Anh). International Water Management Institute. tr. 227. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
- ^ Thủ tướng Chính phủ 2024, tr. 1, 4–5.
- ^ Thủ tướng Chính phủ 2024, tr. 3.
- ^ Japan International Cooperation Agency 2010, tr. 193.
- ^ Japan International Cooperation Agency 2010, tr. 198.
- ^ Japan International Cooperation Agency 2010, tr. 191.
- ^ Japan International Cooperation Agency (tháng 5 năm 2010). Nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững hệ thống giao thông vận tải ở Việt Nam (VITRANSS 2): Báo cáo chuyên ngành số 04 – Giao thông vận tải đường thủy nội địa (PDF). Japan International Cooperation Agency. tr. 5–8. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyễn Tuấn Anh (2022). "Phà ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX". Tạp chí Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Số 6 (286). tr. 63. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Ngọc Ẩn (ngày 28 tháng 4 năm 2025). "50 năm Sài Gòn - TP.HCM - Kỳ 8: Cầu Sài Gòn mới đưa TP.HCM vươn xa". Tuổi Trẻ. đoạn về cầu Sài Gòn trước năm 1975. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ^ Japan International Cooperation Agency (tháng 6 năm 2011). The Study on Measuring the Possibility of Private Investment in Expressway Projects in Southern Vietnam: Final Report, Vol. 1 – Five Expressways in Southern Vietnam (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. Table 2.2.1. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Japan International Cooperation Agency (tháng 12 năm 2019). Data Collection Survey on Public Infrastructure and Service Development in Ho Chi Minh City: Final Report (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. tr. 35. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Japan International Cooperation Agency (2016). FY2016 Ex-Post Evaluation of Japanese ODA Loan Project: Saigon East-West Highway Construction Project (I)(II)(III)(IV)(V) (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. tr. 1, 3, 8. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Japan International Cooperation Agency (tháng 5 năm 2010). The Comprehensive Study on the Sustainable Development of Transport System in Vietnam (VITRANSS 2): Subsector Report No. 01 – Road and Road Transport (PDF) (bằng tiếng Anh). Japan International Cooperation Agency. tr. 2-22. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyen, A. T.; Némery, J.; Gratiot, N.; Garnier, J.; Dao, T. S.; Thieu, V.; Laruelle, G. G. (ngày 25 tháng 8 năm 2021). "Biogeochemical functioning of an urbanized tropical estuary: Implementing the generic C-GEM (reactive transport) model". Science of the Total Environment (bằng tiếng Anh). Quyển 784. Abstract. doi:10.1016/j.scitotenv.2021.147261.
- ^ Nguyễn Thông; Nguyễn Thị Diễm Thúy; Nguyễn Phước Thạch Thảo; Lê Hoàng Anh; Khoi Nguyen Dao (ngày 30 tháng 6 năm 2022). "Assessment of water quality changes in Saigon and Dong Nai rivers under the influence of domestic wastewater discharges". VNUHCM Journal of Environment and Earth Sciences (bằng tiếng Anh). Quyển 6 số 1. tr. 468–483. doi:10.32508/stdjsee.v6i1.655. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nguyen, Binh Thanh; Do, Dung Doan; Nguyen, Tong Xuan; Nguyen, Vinh Ngoc; Nguyen, Duong Thuy Phuc; Nguyen, My Hoang; Truong, Huong Thu Thi; Dong, Hao Phu; Le, Anh Hung; Bach, Quang-Vu (tháng 1 năm 2020). "Seasonal, spatial variation, and pollution sources of heavy metals in the sediment of the Saigon River, Vietnam". Environmental Pollution (bằng tiếng Anh). Quyển 256. Abstract. doi:10.1016/j.envpol.2019.113412.
- ^ Nguyen Thi Van Ha; Satoshi Takizawa; Kumiko Oguma; Nguyen Van Phuoc (2011). "Sources and leaching of manganese and iron in the Saigon River Basin, Vietnam". Water Science and Technology (bằng tiếng Anh). Quyển 63 số 10. tr. 2231. doi:10.2166/wst.2011.460.
- ^ Ngo và đồng nghiệp 2017, tr. 726–727.
- ^ Babut, Marc; Mourier, Brice; Desmet, Marc; Simonnet-Laprade, Caroline; Labadie, Pierre; Budzinski, Hélène; De Alencastro, Luiz F.; Tu, Tran Anh; Strady, Emilie; Gratiot, Nicolas (tháng 2 năm 2019). "Where has the pollution gone? A survey of organic contaminants in Ho Chi Minh city / Saigon River (Vietnam) bed sediments". Chemosphere (bằng tiếng Anh). Quyển 217. tr. 261–269. doi:10.1016/j.chemosphere.2018.11.008.
- ^ Tran Trong Hung; Dang Thuong Huyen; Tran Anh Tu; Bui Trong Vinh (2021). "Dating core sediment by applying the 210Pb method and verifying by residual of dioxin (during the Vietnam war) in Can Gio biosphere reserve". Environmental Earth Sciences (bằng tiếng Anh). Quyển 80. Abstract. doi:10.1007/s12665-021-09827-9.
- ^ Nguyen Xuan Tong; Vo Thi Kim Khuyen; Nguyen Thi Thanh Thao; Binh Thanh Nguyen (tháng 12 năm 2024). "Unraveling microplastic pollution patterns in sediments of a river system: The combined impacts of seasonal changes and waterway differences". Journal of Environmental Management (bằng tiếng Anh). Quyển 371. Abstract. doi:10.1016/j.jenvman.2024.123348.