Bước tới nội dung

Sức khỏe

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:1000 bài cơ bản Bản mẫu:Infobox medical condition Bản mẫu:Khoa học Sức khỏe có nhiều định nghĩa khác nhau và được sử dụng cho các mục đích khác nhau theo thời gian. Nhìn chung thuật ngữ này đề cập đến trạng thái hạnh phúc về mặt thể chất và cảm xúc... Trong mỗi thập kỷ, một phiên bản mới của Healthy People lại được ban hành,[1] đưa ra các mục tiêu cập nhật, xác định các lĩnh vực chuyên đề và các chỉ tiêu có thể định lượng được để cải thiện sức khỏe trong mười năm tiếp theo, cùng với việc đánh giá tiến độ hoặc sự thiếu hụt tiến độ tại thời điểm đó. Tiến độ đạt được còn hạn chế ở nhiều chỉ tiêu, dẫn đến những lo ngại về hiệu quả của Healthy People trong việc định hình kết quả trong bối cảnh hệ thống y tế Hoa Kỳ còn phân tán và thiếu phối hợp. Healthy People 2020 chú trọng hơn đến các phương pháp nâng cao sức khỏe và phòng bệnh, đồng thời bổ sung trọng tâm căn bản vào tầm quan trọng của việc giải quyết các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe. Một giao diện kỹ thuật số mở rộng mới giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng và phổ biến, thay vì các cuốn sách in dày cộp như trước đây. Tác động của những thay đổi này đối với Healthy People sẽ được xác định trong những năm tới.[2]

Các hoạt động có hệ thống để phòng ngừa hoặc chữa trị các vấn đề sức khỏe và nâng cao sức khỏe tốt ở con người được thực hiện bởi các nhân viên y tế. Các ứng dụng liên quan đến sức khỏe động vật được đảm nhận bởi ngành khoa học thú y. Thuật ngữ "lành mạnh" cũng được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh của nhiều loại tổ chức phi sinh học và các tác động của chúng vì lợi ích của con người, chẳng hạn như theo nghĩa thiết kế cộng đồng lành mạnh, thành phố lành mạnh hoặc môi trường lành mạnh. Ngoài các can thiệp chăm sóc y tế và môi trường xung quanh một người, một số yếu tố khác cũng được biết là có ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của các cá nhân. Chúng được gọi là "các yếu tố quyết định sức khỏe", bao gồm nền tảng của cá nhân, lối sống, tình trạng kinh tế, điều kiện xã hội và đời sống tâm linh; Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ căng thẳng cao có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người.[3]

Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, việc khái niệm hóa sức khỏe như một năng lực đã mở đường cho các hoạt động tự đánh giá trở thành các chỉ số chính để phán đoán hiệu quả của những nỗ lực nhằm cải thiện sức khỏe con người.[4] Nó cũng tạo cơ hội cho mỗi người cảm thấy khỏe mạnh, ngay cả khi đang mắc nhiều bệnh mãn tính hoặc một tình trạng bệnh hiểm nghèo, và giúp xem xét lại các yếu tố quyết định sức khỏe (tránh xa cách tiếp cận truyền thống vốn chỉ tập trung vào việc giảm tỷ lệ phổ biến của bệnh tật).[5]

Các yếu tố quyết định

Nhìn chung, bối cảnh môi trường sống của một cá nhân có tầm quan trọng rất lớn đối với cả tình trạng sức khỏe lẫn chất lượng cuộc sống của họ. Người ta ngày càng công nhận rằng sức khỏe được duy trì và cải thiện không chỉ thông qua sự tiến bộ và ứng dụng của khoa học sức khỏe, mà còn thông qua những nỗ lực và lựa chọn lối sống thông minh của cá nhân và xã hội. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, các yếu tố quyết định chính đến sức khỏe bao gồm môi trường xã hội và kinh tế, môi trường vật lý, cùng với các đặc điểm và hành vi cá nhân của người đó.[6]

Cụ thể hơn, các yếu tố chính được tìm thấy là có ảnh hưởng đến việc mọi người khỏe mạnh hay không khỏe mạnh bao gồm những điều sau đây:[6][7][8]

Tập tin:Smallpox eradication team.jpg
Donald Henderson trong đội ngũ xóa sổ bệnh đậu mùa của CDC năm 1966

Ngày càng có nhiều nghiên cứu và báo cáo từ các tổ chức và bối cảnh khác nhau xem xét mối liên hệ giữa sức khỏe và các yếu tố khác nhau, bao gồm lối sống, môi trường, tổ chức chăm sóc y tếchính sách y tế. Một chính sách y tế cụ thể được đưa vào nhiều quốc gia trong những năm gần đây là việc áp dụng thuế đường. Thuế đồ uống ra đời cùng với những lo ngại ngày càng tăng về tình trạng béo phì, đặc biệt là ở giới trẻ. Đồ uống có đường đã trở thành mục tiêu của các sáng kiến chống béo phì với bằng chứng ngày càng rõ rệt về mối liên hệ của chúng với bệnh béo phì.[9]—chẳng hạn như Báo cáo Lalonde năm 1974 từ Canada;[8] Nghiên cứu Quận Alameda ở California;[10] và loạt bài Báo cáo Sức khỏe Thế giới của Tổ chức Y tế Thế giới, tập trung vào các vấn đề sức khỏe toàn cầu bao gồm tiếp cận chăm sóc y tế và cải thiện kết quả y tế công cộng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.[11]

Khái niệm về "lĩnh vực sức khỏe", phân biệt với chăm sóc y tế, xuất hiện từ báo cáo Lalonde của Canada. Báo cáo đã xác định ba lĩnh vực phụ thuộc lẫn nhau là các yếu tố quyết định chính đến sức khỏe của một cá nhân. Đó là:[8]

  • Y sinh: tất cả các khía cạnh của sức khỏe, thể chất và tinh thần, phát triển bên trong cơ thể con người dưới ảnh hưởng của cấu trúc di truyền.
  • Môi trường: tất cả các vấn đề liên quan đến sức khỏe bên ngoài cơ thể người mà cá nhân có ít hoặc không có khả năng kiểm soát;
  • Lối sống: tập hợp các quyết định cá nhân (tức là những quyết định mà cá nhân có quyền kiểm soát) có thể coi là góp phần hoặc gây ra bệnh tật hoặc tử vong;

Việc duy trì và nâng cao sức khỏe được đạt được thông qua sự kết hợp khác nhau giữa trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội—một sự kết hợp đôi khi được gọi là "tam giác sức khỏe."[12] Văn kiện Hiến chương Ottawa về Nâng cao Sức khỏe năm 1986 của WHO tuyên bố thêm rằng sức khỏe không chỉ là một trạng thái, mà còn là "một nguồn lực cho cuộc sống hằng ngày, chứ không phải mục đích của cuộc sống. Sức khỏe là một khái niệm tích cực nhấn mạnh vào các nguồn lực xã hội và cá nhân, cũng như các năng lực thể chất."[13]

Tập trung nhiều hơn vào các vấn đề lối sống và mối quan hệ của chúng với sức khỏe chức năng, dữ liệu từ Nghiên cứu Quận Alameda cho thấy mọi người có thể cải thiện sức khỏe của mình thông qua tập thể dục, ngủ đủ giấc, dành thời gian hòa mình vào thiên nhiên, duy trì cân nặng hợp lý, hạn chế sử dụng rượu và tránh hút thuốc.[14] Sức khỏe và bệnh tật có thể cùng tồn tại, vì ngay cả những người mắc nhiều bệnh mãn tính hoặc bệnh hiểm nghèo giai đoạn cuối vẫn có thể coi mình là khỏe mạnh.[15]

Bản mẫu:Rquote Môi trường thường được trích dẫn như một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của các cá nhân. Điều này bao gồm các đặc điểm của môi trường tự nhiên, môi trường xây dựngmôi trường xã hội. Các yếu tố như nướckhông khí sạch, nhà ở đầy đủ, cộng đồng và đường sá an toàn đều được chứng minh là góp phần mang lại sức khỏe tốt, đặc biệt là sức khỏe của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.[6][16] Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thiếu không gian vui chơi giải trí trong khu phố, bao gồm cả môi trường tự nhiên, dẫn đến mức độ hài lòng cá nhân thấp hơn và tỷ lệ béo phì cao hơn, liên quan đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống tổng thể thấp hơn.[17] Người ta đã chứng minh rằng việc tăng thời gian ở trong môi trường tự nhiên có liên quan đến việc cải thiện sức khỏe tự báo cáo,[18] gợi ý rằng các lợi ích sức khỏe tích cực của không gian tự nhiên trong các khu đô thị cần được tính đến trong chính sách công và sử dụng đất.

Di truyền học, hay các đặc điểm thừa hưởng từ cha mẹ, cũng đóng một vai trò trong việc xác định tình trạng sức khỏe của các cá nhân và quần thể. Điều này có thể bao gồm cả khuynh hướng đối với một số bệnh và tình trạng sức khỏe nhất định, cũng như các thói quen và hành vi mà các cá nhân phát triển thông qua lối sống của gia đình họ. Ví dụ, di truyền có thể đóng một vai trò trong cách mọi người đối phó với căng thẳng, cho dù là tinh thần, cảm xúc hay thể chất. Ví dụ, béo phì là một vấn đề nghiêm trọng ở Hoa Kỳ, góp phần gây ra sức khỏe tinh thần kém và gây căng thẳng trong cuộc sống của nhiều người.[19] Một khó khăn là vấn đề được đặt ra bởi cuộc tranh luận về sức mạnh tương đối của di truyền so với các yếu tố khác; sự tương tác giữa di truyền và môi trường có thể có tầm quan trọng đặc biệt.

Các vấn đề tiềm ẩn

Một số vấn đề sức khỏe là phổ biến trên toàn cầu. Bệnh tật là một trong những vấn đề phổ biến nhất. Theo GlobalIssues.org, khoảng 36 triệu người tử vong mỗi năm vì các bệnh không lây nhiễm (tức là không truyền nhiễm), bao gồm bệnh tim mạch, ung thư, bệnh tiểu đường và bệnh phổi mãn tính.[20]

Trong số các bệnh truyền nhiễm, cả do virus và vi khuẩn, AIDS/HIV, bệnh laobệnh sốt rét là phổ biến nhất, gây ra hàng triệu ca tử vong mỗi năm.[20]

Một vấn đề sức khỏe khác gây tử vong hoặc góp phần vào các vấn đề sức khỏe khác là suy dinh dưỡng, đặc biệt là ở trẻ em. Một trong những nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của suy dinh dưỡng là trẻ nhỏ. Khoảng 7,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong vì suy dinh dưỡng, thường là do không có tiền để tìm hoặc mua thực phẩm.[20]

Chấn thương cơ thể cũng là một vấn đề sức khỏe phổ biến trên toàn thế giới. Những chấn thương này, bao gồm gãy xươngbỏng, có thể làm giảm chất lượng cuộc sống của một người hoặc có thể gây tử vong bao gồm các tình trạng nhiễm trùng do chấn thương gây ra (hoặc do mức độ nghiêm trọng của chấn thương nói chung).[20]

Các lựa chọn lối sống là yếu tố góp phần dẫn đến sức khỏe kém trong nhiều trường hợp. Chúng bao gồm hút thuốc lá, và cũng có thể bao gồm chế độ ăn uống kém, cho dù đó là ăn quá nhiều hay chế độ ăn kiêng quá nghiêm ngặt. Lười vận động cũng có thể góp phần gây ra các vấn đề sức khỏe và việc thiếu ngủ, uống quá nhiều rượu và bỏ bê vệ sinh răng miệng cũng vậy.[cần dẫn nguồn] Ngoài ra còn có các rối loạn di truyền mà một người thừa hưởng và có thể khác nhau về mức độ ảnh hưởng đến người đó (và thời điểm chúng khởi phát).[21][22]

Mặc dù phần lớn các vấn đề sức khỏe này có thể phòng ngừa được, nhưng một yếu tố chính góp phần vào tình trạng sức khỏe kém trên toàn cầu là thực tế có khoảng 1 tỷ người thiếu quyền tiếp cận với các hệ thống chăm sóc sức khỏe.[20] Có thể nói, vấn đề sức khỏe phổ biến và có hại nhất là việc rất nhiều người không được tiếp cận với các phương pháp điều trị chất lượng.[23]

Sức khỏe tâm thần

Tổ chức Y tế Thế giới mô tả sức khỏe tâm thần là "một trạng thái hạnh phúc mà trong đó cá nhân nhận thức được khả năng của chính mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, có thể làm việc hiệu quả và mang lại thành quả, cũng như có khả năng đóng góp cho cộng đồng của họ".[24] Sức khỏe tâm thần không đơn thuần chỉ là việc không mắc bệnh tâm thần.[25]

Bệnh tâm thần được mô tả là "một chuỗi các tình trạng về nhận thức, cảm xúc và hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực đến trạng thái hạnh phúc xã hội, cảm xúc cũng như cuộc sống và năng suất làm việc của con người.[26] Việc mắc bệnh tâm thần có thể làm suy giảm nghiêm trọng chức năng tinh thần của một người, dù là tạm thời hay vĩnh viễn. Các thuật ngữ khác bao gồm: 'vấn đề sức khỏe tâm thần', 'bệnh lý', 'rối loạn', 'rối loạn chức năng'.[27]

Ước tính có khoảng 20% tổng số người trưởng thành ở Hoa Kỳ được coi là có thể chẩn đoán mắc chứng rối loạn tâm thần. Các rối loạn tâm thần là nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật tại Hoa Kỳ và Canada. Ví dụ về các chứng rối loạn này bao gồm bệnh tâm thần phân liệt, ADHD, rối loạn trầm cảm trầm trọng, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lo âu, rối loạn căng thẳng sau sang chấnrối loạn phổ tự kỷ.[28]

Nhiều yếu tố góp phần gây ra các vấn đề về sức khỏe tâm thần, bao gồm:[29]

  • Các yếu tố sinh học, chẳng hạn như gen hoặc hóa chất trong não
  • Tiền sử gia đình có người mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần
  • Trải nghiệm sống, chẳng hạn như chấn thương tâm lý hoặc bị lạm dụng

Duy trì

Đạt được và duy trì sức khỏe là một quá trình liên tục, được định hình bởi cả sự phát triển của kiến thức, thực hành chăm sóc y tế cũng như các chiến lược cá nhân và các can thiệp có tổ chức để giữ gìn sức khỏe.

Các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe

Bên cạnh các yếu tố sinh học và lựa chọn lối sống cá nhân, sức khỏe của con người bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe (Social Determinants of Health - SDOH). Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa các yếu tố này là "những điều kiện mà trong đó con người sinh ra, lớn lên, sống, làm việc và già đi". Các điều kiện này được định hình bởi sự phân phối tiền bạc, quyền lực và tài nguyên ở các cấp độ toàn cầu, quốc gia và địa phương.

Các yếu tố xã hội cốt lõi bao gồm:

  • Ổn định kinh tế: Tình trạng nghèo đói, việc làm và an ninh lương thực.
  • Môi trường vật lý: Chất lượng nhà ở, mức độ ô nhiễm không khí, nguồn nước sạch và an toàn giao thông tại nơi sinh sống.
  • Giáo dục: Trình độ học vấn và khả năng tiếp cận giáo dục chất lượng cao từ thuở nhỏ.
  • Bối cảnh xã hội và cộng đồng: Các mối quan hệ hỗ trợ, sự phân biệt đối xử hoặc bình đẳng trong xã hội.
  • Hệ thống y tế: Khả năng tiếp cận dịch vụ bảo hiểm và chất lượng chăm sóc y tế tại khu vực.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố xã hội này có tác động đến sức khỏe quần thể lớn hơn cả các can thiệp y tế lâm sàng hoặc các lựa chọn lối sống thuần túy.

Chế độ ăn uống

Tập tin:Overweight or obese population OECD 2010.png
Tỷ lệ phần trăm dân số thừa cân hoặc béo phì vào năm 2010. Nguồn dữ liệu: Thư viện điện tử của OECD.[30][31]
Tập tin:Obese population OECD 2010.png
Tỷ lệ phần trăm dân số béo phì vào năm 2010. Nguồn dữ liệu: Thư viện điện tử của OECD.[30][32]

Một phương pháp quan trọng để duy trì sức khỏe cá nhân là có một chế độ ăn uống lành mạnh. Chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm nhiều loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật và động vật nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể.[33] Những chất dinh dưỡng này cung cấp năng lượng cho cơ thể và duy trì hoạt động của nó. Chất dinh dưỡng giúp xây dựng, củng cố xương, cơ bắp, gân, đồng thời điều hòa các quá trình của cơ thể (ví dụ: Huyết áp). Nước là yếu tố thiết yếu cho sự tăng trưởng, sinh sản và sức khỏe tốt. Chất dinh dưỡng đa lượng được tiêu thụ với số lượng tương đối lớn, bao gồm protein (đạm), carbohydrate (đường bột), chất béo và các axit béo.[34] Các chất dinh dưỡng vi lượng – vitamin và khoáng chất – được tiêu thụ với số lượng tương đối nhỏ hơn nhưng lại rất cần thiết cho các quá trình hoạt động của cơ thể.[35] Tháp dinh dưỡng là các hướng dẫn thực phẩm lành mạnh có hình kim tự tháp được chia thành các phần. Mỗi phần hiển thị lượng tiêu thụ khuyến nghị cho nhóm thực phẩm tương ứng (ví dụ: protein, chất béo, carbohydrate và đường). Việc đưa ra các lựa chọn thực phẩm lành mạnh có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, giảm nguy cơ phát triển một số loại ung thư, và có thể giúp duy trì cân nặng trong phạm vi hợp lý.[36]

Chế độ ăn Địa Trung Hải thường gắn liền với các tác dụng nâng cao sức khỏe. Điều này đôi khi được cho là do việc đưa vào các hợp chất có hoạt tính sinh học như các hợp chất phenol, isoprenoidalkaloid.[37]

Tập thể dục

Tập thể dục thể chất làm tăng cường hoặc duy trì sức khỏe thể chất cũng như thể trạng và sức khỏe tổng thể. Nó giúp củng cố xương, cơ bắp và cải thiện hệ tuần hoàn. Theo Viện Y tế Quốc gia, có bốn loại bài tập thể dục: Sức bền, sức mạnh, sự linh hoạt (độ dẻo dai) và sự thăng bằng.[38] CDC tuyên bố rằng tập thể dục thể chất có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, ung thư, tiểu đường tuýp 2, huyết áp cao, béo phì, trầm cảm và lo âu.[39] Nhằm mục đích ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra, người ta thường khuyến nghị nên bắt đầu tập thể dục một cách từ từ tăng dần. Việc tham gia vào bất kỳ hoạt động thể chất nào, dù là việc nhà, việc làm vườn, đi bộ hay đứng lên khi nói chuyện điện thoại, thường được cho là tốt hơn là không vận động khi xét đến khía cạnh sức khỏe.[40]

Giấc ngủ

Giấc ngủ là một thành phần thiết yếu để duy trì sức khỏe. Ở trẻ em, giấc ngủ cũng mang tính sống còn đối với sự tăng trưởng và phát triển. Tình trạng thiếu ngủ kéo dài có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc một số vấn đề sức khỏe mãn tính. Thêm vào đó, thiếu ngủ đã được chứng minh là có mối tương quan với cả việc dễ mắc bệnh hơn và thời gian phục hồi sau bệnh chậm hơn.[41] Trong một nghiên cứu, những người thiếu ngủ mãn tính, được xác định là ngủ từ 6 tiếng trở xuống mỗi đêm, được tìm thấy là có nguy cơ mắc bệnh cảm lạnh cao gấp 4 lần so với những người báo cáo ngủ từ 7 tiếng trở lên mỗi đêm.[42] Do vai trò của giấc ngủ trong việc điều hòa quá trình chuyển hóa, việc ngủ không đủ giấc cũng có thể đóng một vai trò trong việc tăng cân hoặc ngược lại, cản trở việc giảm cân.[43] Ngoài ra, vào năm 2007, Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư, cơ quan nghiên cứu ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới, đã tuyên bố rằng "làm việc theo ca dẫn đến sự gián đoạn nhịp sinh học có thể gây ung thư cho con người", đề cập đến những mối nguy hiểm của việc làm việc ban đêm lâu dài do sự xâm phạm của nó vào giấc ngủ.[44] Vào năm 2015, Hiệp hội Giấc ngủ Quốc gia đã đưa ra các khuyến nghị cập nhật về yêu cầu thời lượng giấc ngủ dựa trên độ tuổi và kết luận rằng: "Những cá nhân có thói quen ngủ ngoài phạm vi bình thường có thể đang biểu hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng của các vấn vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hoặc, nếu thực hiện một cách cố ý, có thể làm tổn hại đến sức khỏe và trạng thái hạnh phúc của họ."[45]

Độ tuổi và tình trạng Nhu cầu giấc ngủ
Trẻ sơ sinh (0–3 tháng) 14 đến 17 giờ
Trẻ nhỏ (4–11 months) 12 đến 15 giờ
Trẻ chập chững biết đi (1–2 tuổi) 11 đến 14 giờ
Trẻ mẫu giáo (3–5 tuổi) 10 đến 13 giờ
Trẻ em lứa tuổi học đường (6–13 tuổi) 9 đến 11 giờ
Thanh thiếu niên (14–17 tuổi) 8 đến 10 giờ
Người trưởng thành (18–64 tuổi) 7 đến 9 giờ
Người cao tuổi (65 tuổi trở lên) 7 đến 8 giờ

Vai trò của khoa học

Tập tin:Nieuws uit Indonesië, het werk van de Nederlandse dienst voor Volksgezondheid Weeknummer 46-21 - Open Beelden - 16742.ogv
Dịch vụ Y tế Công cộng Hà Lan cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế cho người dân bản địa ở Đông Ấn Hà Lan, tháng 5 năm 1946.

Khoa học sức khỏe là nhánh khoa học tập trung vào sức khỏe. Có hai cách tiếp cận chính đối với khoa học sức khỏe: nghiên cứu và tìm hiểu về cơ thể cùng các vấn đề liên quan đến sức khỏe để hiểu cách con người (và động vật) hoạt động, và việc ứng dụng kiến thức đó để cải thiện sức khỏe, phòng ngừa cũng như chữa trị bệnh tật cùng các suy giảm thể chất và tinh thần khác. Ngành khoa học này được xây dựng trên nhiều lĩnh vực phụ, bao gồm sinh học, sinh hóa, vật lý, dịch tễ học, dược lý học, xã hội học y tế. Khoa học sức khỏe ứng dụng nỗ lực để hiểu rõ hơn và cải thiện sức khỏe con người thông qua các ứng dụng trong các lĩnh vực như giáo dục sức khỏe, kỹ thuật sinh học y tế, công nghệ sinh họcy tế công cộng.[cần dẫn nguồn]

Các can thiệp có tổ chức nhằm cải thiện sức khỏe dựa trên các nguyên tắc và quy trình được phát triển thông qua khoa học sức khỏe được cung cấp bởi các học viên được đào tạo về y học, điều dưỡng, dinh dưỡng, dược phẩm, công tác xã hội, tâm lý học, liệu pháp hoạt động, vật lý trị liệu và các ngành nghề chăm sóc sức khỏe khác. Các học viên lâm sàng tập trung chủ yếu vào sức khỏe của các cá nhân, trong khi các học viên y tế công cộng xem xét sức khỏe tổng thể của các cộng đồng và quần thể. Các chương trình chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc ngày càng được các công ty áp dụng nhiều hơn vì giá trị của chúng trong việc cải thiện sức khỏe và trạng thái hạnh phúc của nhân viên, cũng như các dịch vụ y tế trường học để cải thiện sức khỏe và trạng thái hạnh phúc của trẻ em.[cần dẫn nguồn]

Chăm sóc y tế

Y học hiện đại nhìn chung được vận hành trong các hệ thống chăm sóc y tế. Các khung pháp lý, việc cấp chứng chỉ và các cơ cấu tài chính được thiết lập bởi chính phủ của từng quốc gia, đôi khi có sự tham gia phối hợp của các tổ chức quốc tế hoặc các tổ chức tôn giáo. Đặc điểm của bất kỳ hệ thống chăm sóc sức khỏe nào cũng đều có tác động đáng kể đến cách thức cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế.

Từ thời cổ đại, sự chú trọng của Kitô giáo vào hoạt động từ thiện thực tế đã thúc đẩy sự phát triển của hệ thống điều dưỡng và bệnh viện có tính hệ thống, và Giáo hội Công giáo ngày nay vẫn là tổ chức phi chính phủ cung cấp các dịch vụ y tế lớn nhất thế giới.[46] Các quốc gia công nghiệp phát triển (ngoại trừ Hoa Kỳ)[47] và nhiều nước đang phát triển cung cấp dịch vụ y tế thông qua hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn diện, nhằm mục đích đảm bảo quyền được chăm sóc cho tất cả mọi người thông qua hệ thống y tế một bên chi trả, hoặc thông qua bảo hiểm y tế tư nhân hoặc hợp tác bắt buộc. Điều này nhằm đảm bảo toàn bộ người dân đều có thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế dựa trên nhu cầu thực tế thay vì dựa trên khả năng chi trả. Việc cung cấp dịch vụ có thể thông qua các cơ sở y tế tư nhân, các bệnh viện và phòng khám thuộc sở hữu nhà nước, hoặc các tổ chức từ thiện, phổ biến nhất là sự kết hợp của cả ba hình thức này.

Hầu hết các xã hội bộ tộc không có sự đảm bảo về chăm sóc sức khỏe cho toàn bộ người dân.[48] Trong các xã hội đó, dịch vụ chăm sóc sức khỏe chỉ dành cho những ai có khả năng chi trả trực tiếp hoặc đã tự mua bảo hiểm (dù là mua trực tiếp hay thông qua hợp đồng lao động), hoặc những người được thụ hưởng dịch vụ do chính chính phủ hoặc bộ tộc tài trợ trực tiếp.

collection of glass bottles of different sizes
Các ống thuốc y tế hiện đại

Tính minh bạch của thông tin là một yếu tố khác định hình một hệ thống cung cấp dịch vụ. Việc tiếp cận thông tin về tình trạng bệnh lý, phương pháp điều trị, chất lượng và giá cả ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn của bệnh nhân/người tiêu dùng, và do đó, tác động đến động lực của các chuyên gia y tế. Trong khi hệ thống chăm sóc sức khỏe của Hoa Kỳ từng bị chỉ trích vì thiếu tính công khai,[49] các luật mới ban hành có thể khuyến khích sự cởi mở hơn. Tuy nhiên, người ta cũng nhận thấy có một sự căng thẳng giữa một bên là nhu cầu minh bạch thông tin và một bên là các vấn đề như bảo mật thông tin bệnh nhân hoặc nguy cơ thông tin bị khai thác vì mục đích thương mại.

Các cấp độ cung cấp dịch vụ

Việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế được phân loại thành các danh mục: chăm sóc ban đầu (sơ cấp), chăm sóc cấp hai (thứ cấp) và chăm sóc cấp ba (cao cấp).[50]

photograph of three nurses
Các điều dưỡng tại Kokopo, Đông New Britain, Papua New Guinea

Các dịch vụ chăm sóc ban đầu được cung cấp bởi các bác sĩ, trợ lý bác sĩ, điều dưỡng thực hành hoặc các chuyên gia y tế khác – những người đầu tiên tiếp xúc với bệnh nhân khi họ tìm kiếm sự điều trị hoặc chăm sóc y tế.[51] Các hoạt động này diễn ra tại các phòng khám bác sĩ, phòng khám, nhà điều dưỡng, trường học, qua các chuyến thăm khám tại nhà và những nơi khác gần gũi với bệnh nhân. Khoảng 90% các lượt khám y tế có thể được giải quyết bởi người cung cấp dịch vụ chăm sóc ban đầu. Chúng bao gồm việc điều trị các bệnh cấp tính và mãn tính, chăm sóc phòng bệnhgiáo dục sức khỏe cho mọi lứa tuổi và cả hai giới.

Các dịch vụ chăm sóc cấp hai được cung cấp bởi các chuyên gia y tế tại các phòng khám chuyên khoa hoặc tại các bệnh viện cộng đồng địa phương, dành cho những bệnh nhân được chuyển tuyến từ người cung cấp dịch vụ chăm sóc ban đầu (vốn là người đã chẩn đoán hoặc điều trị cho bệnh nhân trước đó).[52] Việc chuyển tuyến được thực hiện đối với những bệnh nhân yêu cầu chuyên môn sâu hoặc các thủ thuật chuyên biệt do các bác sĩ chuyên khoa thực hiện. Các dịch vụ này bao gồm cả chăm sóc ngoại trú và nội trú, khoa cấp cứu, y học hồi sức tích cực, dịch vụ phẫu thuật, vật lý trị liệu, chăm sóc sinh nở, đơn vị nội soi, phòng xét nghiệm chẩn đoán và các dịch vụ hình ảnh y khoa, trung tâm chăm sóc giảm nhẹ, v.v. Một số người cung cấp dịch vụ chăm sóc ban đầu cũng có thể tham gia chăm sóc bệnh nhân nội trú và đỡ đẻ trong môi trường chăm sóc cấp hai.

Các dịch vụ chăm sóc cấp ba được cung cấp bởi các bệnh viện chuyên khoa sâu hoặc các trung tâm khu vực được trang bị các thiết bị chẩn đoán và điều trị tiên tiến vốn thường không có sẵn tại các bệnh viện địa phương. Chúng bao gồm các trung tâm chấn thương chỉnh hình, trung tâm điều trị bỏng, dịch vụ của đơn vị sơ sinh tiên tiến, ghép tạng, thai kỳ nguy cơ cao, xạ trị ung thư, v.v.

Chăm sóc y tế hiện đại cũng phụ thuộc lớn vào thông tin – dù vẫn được lưu trữ trên hồ sơ giấy ở nhiều nơi, nhưng ngày nay đang ngày càng được chuyển đổi mạnh mẽ sang các phương tiện điện tử.

Ở các quốc gia có thu nhập thấp, chăm sóc y tế hiện đại thường quá đắt đỏ đối với một người dân có mức thu nhập trung bình. Các nhà nghiên cứu chính sách y tế quốc tế đã kêu gọi xóa bỏ "viện phí" tại các khu vực này để đảm bảo khả năng tiếp cận của người dân, mặc dù ngay cả sau khi xóa bỏ, các chi phí phát sinh và rào cản lớn khác vẫn tồn tại.[53]

Việc tách biệt giữa kê đơn và bốc thuốc là một thực hành trong y học và dược học, trong đó bác sĩ người đưa ra đơn thuốc y tế hoạt động độc lập với dược sĩ người cung cấp thuốc theo đơn. Ở phương Tây, việc tách biệt giữa dược sĩ và bác sĩ đã có truyền thống từ nhiều thế kỷ. Ngược lại, ở các quốc gia châu Á, các bác sĩ đồng thời cung cấp thuốc cho bệnh nhân là một điều truyền thống.[54]

Vai trò của y tế công cộng

Tập tin:NewZealand-Stamp-1933-Health.jpg
Tem bưu chính, New Zealand, 1933. Y tế công cộng đã được thúc đẩy – và mô tả – theo nhiều cách khác nhau.

Y tế công cộng đã được mô tả là "khoa học và nghệ thuật phòng ngừa bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và nâng cao sức khỏe thông qua những nỗ lực có tổ chức và sự lựa chọn sáng suốt của xã hội, các tổ chức công và tư, các cộng đồng và các cá nhân."[55] Ngành này quan tâm đến các mối đe dọa đối với sức khỏe tổng thể của một cộng đồng dựa trên các phân tích về sức khỏe quần thể. Quần thể được đề cập có thể nhỏ như một nhóm người hoặc lớn như toàn bộ cư dân của nhiều châu lục (ví dụ như trong trường hợp xảy ra một đại dịch). Y tế công cộng có nhiều lĩnh vực phụ, nhưng thường bao gồm các danh mục liên ngành như dịch tễ học, thống kê sinh học và các dịch vụ y tế. Sức khỏe môi trường, y tế cộng đồng, sức khỏe hành vi và sức khỏe nghề nghiệp cũng là những lĩnh vực quan trọng của y tế công cộng.

Trọng tâm của các can thiệp y tế công cộng là phòng ngừa và quản lý các bệnh tật, chấn thương và các tình trạng sức khỏe khác thông qua việc giám sát các ca bệnh và khuyến khích các hành vi lành mạnh, thiết kế cộng đồng và môi trường sống lành mạnh (ở các khía cạnh liên quan đến sức khỏe con người). Mục tiêu của ngành là ngăn chặn các vấn đề sức khỏe xảy ra hoặc tái diễn bằng cách triển khai các chương trình giáo dục, xây dựng các chính sách, quản lý các dịch vụ và tiến hành nghiên cứu.[56] Trong nhiều trường hợp, việc điều trị một bệnh hoặc kiểm soát một mầm bệnh có thể mang tính sống còn để ngăn ngừa bệnh lây lan sang những người khác, chẳng hạn như trong một vụ bùng phát dịch bệnh. Các chương trình tiêm chủng và phân phát bao cao su để ngăn ngừa sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm là những ví dụ về các biện pháp y tế công cộng phòng ngừa phổ biến, cũng như các chiến dịch giáo dục nhằm thúc đẩy tiêm chủng và sử dụng bao cao su (bao gồm cả việc vượt qua các rào cản phản đối đối với các biện pháp này).

Y tế công cộng cũng thực hiện nhiều hành động khác nhau nhằm hạn chế sự chênh lệch về sức khỏe giữa các khu vực khác nhau trong một quốc gia và trong một số trường hợp là giữa các khu vực trên châu lục hoặc thế giới. Một vấn đề lớn là việc tiếp cận của các cá nhân và cộng đồng đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe dưới các áp lực hạn chế về tài chính, địa lý hoặc văn hóa - xã hội.[57] Các ứng dụng của hệ thống y tế công cộng bao gồm các lĩnh vực sức khỏe sản phụ khoa và nhi khoa, quản trị dịch vụ y tế, ứng phó khẩn cấp, phòng ngừa và kiểm soát các bệnh nhiễm trùng cũng như bệnh mãn tính.

Tác động tích cực to lớn của các chương trình y tế công cộng đã được công nhận rộng rãi. Một phần nhờ vào các chính sách và hành động được phát triển thông qua y tế công cộng, thế kỷ 20 đã ghi nhận sự sụt giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinhtrẻ em, đồng thời tuổi thọ trung bình liên tục tăng lên ở hầu hết các nơi trên thế giới. Ví dụ, ước tính tuổi thọ của người Mỹ đã tăng thêm 30 năm kể từ năm 1900,[58] và trên toàn thế giới tăng thêm 6 năm kể từ năm 1990.[59]

Chiến lược tự chăm sóc

Tập tin:Borch Lady washing hands.jpg
Một người phụ nữ đang rửa tay k. 1655

Sức khỏe cá nhân phụ thuộc một phần vào các dấu hiệu chủ động, bị động và có hỗ trợ mà mọi người quan sát và áp dụng cho sức khỏe của chính mình. Chúng bao gồm các hành động cá nhân nhằm phòng ngừa hoặc giảm thiểu ảnh hưởng của một căn bệnh, thường là một tình trạng mãn tính, thông qua chăm sóc tích hợp. Chúng cũng bao gồm các thực hành vệ sinh cá nhân để ngăn ngừa nhiễm trùng và bệnh tật, chẳng hạn như tắm rửarửa tay bằng xà phòng; đánh răng và dùng chỉ nha khoa; bảo quản, chế biến và xử lý thực phẩm an toàn; và nhiều hoạt động khác. Thông tin thu thập được từ các quan sát sinh hoạt hằng ngày – chẳng hạn như về chu kỳ giấc ngủ, thói quen tập thể dục, lượng dinh dưỡng nạp vào và các đặc điểm môi trường – có thể được sử dụng để đưa ra các quyết định và hành động cá nhân (ví dụ: "Tôi cảm thấy mệt mỏi vào buổi sáng nên tôi sẽ thử ngủ với một chiếc gối khác"), cũng như các quyết định lâm sàng và kế hoạch điều trị (ví dụ: một bệnh nhân nhận thấy giày của họ bị chật hơn bình thường có thể là dấu hiệu trầm trọng hơn của bệnh suy tim trái, và có thể cần dùng thuốc lợi tiểu để giảm tình trạng quá tải dịch).[60]

Sức khỏe cá nhân cũng phụ thuộc một phần vào cấu trúc xã hội trong cuộc sống của một người. Việc duy trì các mối quan hệ xã hội mạnh mẽ, tham gia hoạt động tình nguyện và các hoạt động xã hội khác có liên quan đến sức khỏe tâm thần tích cực và cũng làm tăng tuổi thọ. Một nghiên cứu tại Mỹ ở những người cao tuổi trên 70 tuổi cho thấy việc tham gia tình nguyện thường xuyên có liên quan đến việc giảm nguy cơ tử vong so với những người lớn tuổi không tham gia tình nguyện, bất kể tình trạng sức khỏe thể chất như thế nào.[61] Một nghiên cứu khác từ Singapore báo cáo rằng những người nghỉ hưu tham gia hoạt động tình nguyện có điểm hiệu suất nhận thức tốt hơn đáng kể, ít có triệu chứng trầm cảm hơn, có sức khỏe tinh thần và sự hài lòng với cuộc sống tốt hơn so với những người nghỉ hưu không tham gia tình nguyện.[62]

Căng thẳng tâm lý kéo dài có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe, và được trích dẫn như một yếu tố gây suy giảm nhận thức khi già đi, bệnh trầm cảm và sự biểu hiện của bệnh tật.[63] Quản lý căng thẳng là việc áp dụng các phương pháp nhằm giảm căng thẳng hoặc tăng khả năng chịu đựng căng thẳng. Các kỹ thuật thư giãn là các phương pháp thể chất được sử dụng để giảm bớt căng thẳng. Các phương pháp tâm lý bao gồm liệu pháp nhận thức, thiềnsuy nghĩ tích cực, hoạt động bằng cách giảm phản ứng với căng thẳng. Việc cải thiện các kỹ năng liên quan, chẳng hạn như kỹ năng giải quyết vấn đềquản lý thời gian, giúp giảm bớt sự không chắc chắn và xây dựng sự tự tin, điều này cũng làm giảm phản ứng đối với các tình huống gây căng thẳng khi áp dụng các kỹ năng đó.

Nghề nghiệp

Bên cạnh các rủi ro về an toàn, nhiều công việc cũng tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh tật, đau ốm và các vấn đề sức khỏe lâu dài khác. Trong số các bệnh nghề nghiệp phổ biến nhất là các dạng khác nhau của bệnh bụi phổi, bao gồm bệnh bụi phổi silicbệnh bụi phổi than (bệnh phổi đen). Hen suyễn là một căn bệnh hô hấp khác mà nhiều người lao động dễ mắc phải. Người lao động cũng có thể dễ mắc các bệnh về da, bao gồm chàm, viêm da, mày đay, bỏng nắngung thư da.[64] Các bệnh nghề nghiệp đáng lo ngại khác bao gồm hội chứng ống cổ taynhiễm độc chì.

Khi số lượng việc làm trong khu vực dịch vụ tăng lên ở các nước phát triển, ngày càng có nhiều công việc mang tính chất ít vận động, đặt ra một loạt các vấn đề sức khỏe khác so với các công việc gắn liền với ngành chế tạokhu vực kinh tế sơ khai. Các vấn đề đương đại, chẳng hạn như tỷ lệ béo phì ngày càng tăng và các vấn đề liên quan đến căng thẳnglàm việc quá sức ở nhiều quốc gia, đã làm phức tạp thêm sự tương tác giữa công việc và sức khỏe.

Nhiều chính phủ coi sức khỏe nghề nghiệp là một thách thức xã hội và đã thành lập các tổ chức công để đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động. Các ví dụ bao gồm Cơ quan Quản lý Sức khỏe và An toàn của Anh, và tại Hoa KỳViện Quốc gia về An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp, nơi tiến hành nghiên cứu về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, cùng với Cơ quan Quản lý An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp, nơi xử lý các quy định và chính sách liên quan đến an toàn và sức khỏe của người lao động.[65]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ History & Development of Healthy People Lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2017 tại Wayback Machine. U.S. Department of Health and Human Services
  2. ^ Jonathan, E. Fielding; Shiriki, Kumanyika; Ronald, W. Manderscheid (2013). "A Perspective on the Development of the Healthy People 2020 Framework for Improving U.S. Population Health" (PDF). Public Health Reviews. 35. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2014.
  3. ^ "How stressed are you?". BBC News. ngày 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2014.
  4. ^ Jadad, Alejandro R. (ngày 1 tháng 11 năm 2016). "Creating a pandemic of health: What is the role of digital technologies?". Journal of Public Health Policy (bằng tiếng Anh). 37 (2): 260–68. doi:10.1057/s41271-016-0016-1. ISSN 0197-5897. PMID 27899800.
  5. ^ "Creating a Pandemic of Health: Opportunities and Lessons for a University Initiative at the Intersection of Health, Equity, and Innovation | Harvard Public Health Review: A Student Publication". harvardpublichealthreview.org (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2018.
  6. ^ a ă â World Health Organization. The determinants of health. Geneva. Accessed 12 May 2011.
  7. ^ Public Health Agency of Canada. What Determines Health? Ottawa. Accessed 12 May 2011.
  8. ^ a ă â Lalonde, Marc (1974). "A New Perspective on the Health of Canadians." Ottawa: Minister of Supply and Services. Lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014 tại Wayback Machine
  9. ^ Andreyeva, Tatiana; Chaloupka, Frank J.; Brownell, Kelly D. (2011). "Estimating the potential of taxes on sugar-sweetened beverages to reduce consumption and generate revenue". Preventive Medicine. 52 (6): 413–16. doi:10.1016/j.ypmed.2011.03.013. PMID 21443899.
  10. ^ Housman, Jeff; Dorman, Steve (September–October 2005). "The Alameda County Study: A Systematic, Chronological Review" (PDF). American Journal of Health Education. 36 (5): 302–08. doi:10.1080/19325037.2005.10608200. ISSN 1055-6699. S2CID 39133965. ERIC document number EJ792845. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011.
  11. ^ World Health Organization. The world health report. Geneva.
  12. ^ Bản mẫu:Multiref2
  13. ^ World Health Organization. The Ottawa Charter for Health Promotion. Adopted at the First International Conference on Health Promotion, Ottawa, 21 November 1986 – WHO/HPR/HEP/95.1.
  14. ^ Housman & Dorman 2005, tr. 303–04. "The linear model supported previous findings, including regular exercise, limited alcohol consumption, abstinence from smoking, sleeping 7–8 hours a night, and maintenance of a healthy weight play an important role in promoting longevity and delaying illness and death." Citing Wingard DL, Berkman LF, Brand RJ (1982). "A multivariate analysis of health-related practices: a nine-year mortality follow-up of the Alameda County Study". Am J Epidemiol. 116 (5): 765–75. doi:10.1093/oxfordjournals.aje.a113466. PMID 7148802.
  15. ^ Jadad, A.R. (2013). "On Living a Long, Healthy, and Happy Life, Full of Love, and with no Regrets, until Our Last Breath". Verhaltenstherapie. 23 (4): 287–89. doi:10.1159/000357490.
  16. ^ UNESCO. The UN World Water Development Report: Facts and Figures – Meeting basic needs. Accessed 12 May 2011.
  17. ^ Björk J, Albin M, Grahn P, Jacobsson H, Ardö J, Wadbro J, Ostergren PO (2008). "Recreational Values of the Natural Environment in Relation to Neighborhood Satisfaction, Physical Activity, Obesity and Well being" (PDF). Journal of Epidemiology & Community Health. 62 (4): e2. doi:10.1136/jech.2007.062414. PMID 18365329. S2CID 13859588.
  18. ^ White, Mathew P.; Alcock, Ian; Grellier, James; Wheeler, Benedict W.; Hartig, Terry; Warber, Sara L.; Depledge, Michael H.; Fleming, Lora E. (ngày 13 tháng 6 năm 2019). "Spending at least 120 minutes a week in nature is associated with good health and wellbeing". Scientific Reports (bằng tiếng Anh). 9 (1): 7730. Bibcode:2019NatSR...9.7730W. doi:10.1038/s41598-019-44097-3. ISSN 2045-2322. PMC 6565732. PMID 31197192.
  19. ^ Kantola, Jussi Ilari; Barath, Tibor; Nazir, Salman; Andre, Terence (2017). Advances in Human Factors, Business Management, Training and Education. Advances in Intelligent Systems and Computing (bằng tiếng Anh). Quyển 498. doi:10.1007/978-3-319-42070-7. ISBN 978-3-319-42069-1.
  20. ^ a ă â b c Shah, Anup (5 January 2014). "Health Issues." Global Issues.
  21. ^ "What are the different ways a genetic condition can be inherited?: MedlinePlus Genetics". medlineplus.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2024.
  22. ^ "Genetic Disorders". Cleveland Clinic. ngày 20 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2024.
  23. ^ Bản mẫu:Multiref2
  24. ^ World Health Organization (2005). Promoting Mental Health: Concepts, Emerging evidence, Practice: A report of the World Health Organization, Department of Mental Health and Substance Abuse in collaboration with the Victorian Health Promotion Foundation and the University of Melbourne. World Health Organization. Geneva.
  25. ^ Bos, E.H.; Snippe, E.; de Jonge, P.; Jeronimus, B.F. (2016). "Preserving Subjective Wellbeing in the Face of Psychopathology: Buffering Effects of Personal Strengths and Resources". PLOS ONE. 11 (3) e0150867. Bibcode:2016PLoSO..1150867B. doi:10.1371/journal.pone.0150867. PMC 4786317. PMID 26963923.
  26. ^ "Mental disorders". www.who.int (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2024.
  27. ^ Long, Steven W. Lifestyle Management: Achieving & Maintaining Good Health. niu.edu.tw
  28. ^ The numbers count: Mental disorders in America Lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2014 tại Wayback Machine. nih.gov
  29. ^ "What Is Mental Health?" (5 April 2019). MentalHealth.gov. Retrieved 16 November 2019.
  30. ^ a ă "OECD Statistics". stats.oecd.org.
  31. ^ "Health, Non-Medical Determinants of Health, Body weight, Overweight or obese population, self-reported and measured, Total population" (Online Statistics). OECD's iLibrary. 2013. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2013.
  32. ^ "Health, Non-Medical Determinants of Health, Body weight, Obese population, self-reported and measured, Total population" (Online Statistics). OECD's iLibrary. 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013.
  33. ^ "Healthy diet". www.who.int (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2024.
  34. ^ Alexander, Heather. "What are macronutrients?". MD Anderson Cancer Center (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2024.
  35. ^ "Nutrients". WHO. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2019.
  36. ^ "Healthy Eating: Why should I make healthy food choices?". Livelifewell.nsw.gov.au. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2014.
  37. ^ Garrido M; González-Flores D; Marchena AM; Propr E; García-Parra J; Barriga C; Rodríguez A.B. (2013). "A lycopene-enriched virgin olive oil enhances antioxidant status in humans". Journal of the Science of Food and Agriculture. 93 (8): 1820–26. Bibcode:2013JSFA...93.1820G. doi:10.1002/jsfa.5972. PMID 23225211.
  38. ^ "4 Types of Exercise". Go4Life (bằng tiếng Anh). Go4Life, National Institute on Aging, US National Institutes of Health. ngày 15 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017.
  39. ^ "Physical Activity Facts". Centers for Disease Control and Prevention (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2021.
  40. ^ "Health Risks of an Inactive Lifestyle". medlineplus.gov. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2021.
  41. ^ Pilkington, Stephanie (ngày 7 tháng 8 năm 2013). "Causes and consequences of sleep deprivation in hospitalized patients". Nursing Standard. 27 (49): 35–42. doi:10.7748/ns2013.08.27.49.35.e7649. PMID 23924135.
  42. ^ Shilo Rea (ngày 31 tháng 8 năm 2015). "New Research Confirms Lack of Sleep Connected to Getting Sick". cmu.edu. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
  43. ^ Patel, Sanjay R.; Hu, Frank B. (ngày 17 tháng 1 năm 2008). "Short sleep duration and weight gain: a systematic review". Obesity (Silver Spring). 16 (3): 643–53. doi:10.1038/oby.2007.118. PMC 2723045. PMID 18239586.
  44. ^ "IARC Monographs Programme finds cancer hazards associated with shiftwork, painting and firefighting". International Agency for Research on Cancer. ngày 5 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
  45. ^ Hirshkowitz, Max; Whiton, Kaitlyn; và đồng nghiệp (ngày 14 tháng 1 năm 2015). "National Sleep Foundation's sleep time duration recommendations: methodology and results summary". Sleep Health. 1 (1): 40–43. doi:10.1016/j.sleh.2014.12.010. PMID 29073412. S2CID 205190733. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2015.
  46. ^ Blainey G (2011). A Short History of Christianity. Penguin Viking. OCLC 793902685.Bản mẫu:Page needed
  47. ^ Bản mẫu:Multiref2
  48. ^ Sonowal, C.J. (tháng 4 năm 2010). "Factors Affecting the Nutritional Health of Tribal Children in Maharashtra". Studies on Ethno-Medicine (bằng tiếng Anh). 4 (1): 21–36. doi:10.1080/09735070.2010.11886359. ISSN 0973-5070.
  49. ^ Sipkoff M (tháng 1 năm 2004). "Transparency called key to uniting cost control, quality improvement". Managed Care. 13 (1): 38–42. PMID 14763279. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2006.
  50. ^ "Primary, Secondary and Tertiary HealthCare – Arthapedia". www.arthapedia.in. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2021.
  51. ^ "Types of health care providers: MedlinePlus Medical Encyclopedia". medlineplus.gov (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2021.
  52. ^ "Secondary Health Care". International Medical Corps (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2021.
  53. ^ Laokri S, Weil O, Drabo KM, Dembelé SM, Kafando B, Dujardin B (tháng 4 năm 2013). "Removal of user fees no guarantee of universal health coverage: observations from Burkina Faso". Bulletin of the World Health Organization. 91 (4): 277–82. doi:10.2471/BLT.12.110015. PMC 3629451. PMID 23599551.
  54. ^ Chou YJ, Yip WC, Lee CH, Huang N, Sun YP, Chang HJ (tháng 9 năm 2003). "Impact of separating drug prescribing and dispensing on provider behaviour: Taiwan's experience". Health Policy and Planning. 18 (3): 316–29. doi:10.1093/heapol/czg038. PMID 12917273.
  55. ^ Winslow CE (1920). "The Untilled Fields of Public Health". Science. 51 (1306): 23–33. Bibcode:1920Sci....51...23W. doi:10.1126/science.51.1306.23. PMID 17838891.
  56. ^ Association of Schools of Public Health. What is Public Health? Retrieved 24 June 2010
  57. ^ Hispanics and the Future of America. Access to and Quality of Health Care
  58. ^ Association of Schools of Public Health. Impact of Public Health. Retrieved 24 June 2010.
  59. ^ World Health Organization. Life expectancy at birth, accessed 20 April 2011.
  60. ^ Robert Wood Johnson Foundation. (2008). Health in Everyday Living.
  61. ^ Harris AH, Thoresen CE (2005). "Volunteering is Associated with Delayed Mortality in Older People: Analysis of the Longitudinal Study of Aging" (PDF). Journal of Health Psychology. 10 (6): 739–52. doi:10.1177/1359105305057310. PMID 16176953. S2CID 23314208. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011.
  62. ^ Schwingel A, Niti MM, Tang C, Ng TP (2009). "Continued work employment and volunteerism and mental well-being of older adults: Singapore longitudinal ageing studies". Age and Ageing. 38 (5): 531–37. doi:10.1093/ageing/afp089. PMID 19474036.
  63. ^ McEwen BS (2006). "Protective and damaging effects of stress mediators: central role of the brain". Dialogues Clin Neurosci. 8 (4): 367–81. doi:10.31887/DCNS.2006.8.4/bmcewen. PMC 3181832. PMID 17290796. Bản mẫu:Open access
  64. ^ Bản mẫu:Multiref2
  65. ^ Bản mẫu:Multiref2

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Library resources box Bản mẫu:Thiên tai