SG-43 Goryunov
Bản mẫu:Infobox Weapon SG-43 Goryunov là loại súng máy hạng trung của Liên Xô, được thiết kế, sản xuất và sử dụng trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Súng sử dụng loại đạn súng trường 7.62×54mmR. Nó xuất hiện lần đầu vào năm 1943 với mục đích thay thế cho PM M1910[1] và có thể gắn vào bánh xe để dễ dàng di chuyển, hoặc gắn trên bệ chống ba chân hay thậm chí trên các xe tăng.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Lịch sử hoạt động
Mẫu súng ban đầu được phát triển với tên gọi GVG (được đặt theo tên chữ cái đầu của 3 nhà thiết kế) từ tháng hai năm 1940 đến tháng mười hai năm 1942, với mục đích ban đầu để nó có thể nạp đạn từ cả hộp tiếp đạn hoặc dây tiếp đạn, tuy nhiên vào mùa xuân năm 1942, hộp tiếp đạn cho mẫu súng bị hủy bỏ. Sau các thực nghiệm tại chiến trường, nó được chấp nhận vào biên chế với tên gọi súng máy M1943 Goryunov vào tháng 5 năm 1943.
Trong giai đoạn 1944-1945 mẫu súng máy được cải tiến bởi Alexander Zaytsev và Mikhail Kalashnikov, với phiên bản mới nhận mã định danh SGM ("M" viết tắt của modernized(hiện đại hóa)). Tay lên đạn bị loại bỏ, nắp che bụi và chốt khóa nòng mới được bổ sung, và các rãnh nòng được bổ sung để tăng khả năng làm mát.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Một phiên bản gắn đồng trục cho xe tăng cũng được phát triển với cò điện và không báng với định danh SGMT (chữ "T" viết tắt cho Tankovy, nghĩa là xe tăng). Hai phiên bản SG-43M và SGMB là các phiên bản sửa đổi với nắp che bụi và dùng chủ yếu trên các xe chiến đấu bọc thép.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Mẫu SG-43/SGM được xuất khẩu rộng rãi và cũng được cấp quyền sản xuất cho một số nước.Nó được sản xuất tại Trung Quốc với tên gọi Type 53 (SG-43) và Type 57 (SGM).Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nó cũng được sản xuất tại Czechoslovakia (với tên gọi Vz 43) và Ba Lan (với tên gọi Wz 43).[2]

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nó được sử dụng trong chiến tranh Triều Tiên bởi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và lực lượng quân tình nguyện của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[3] Trong biên chế cảu quân đội Liên Xô, nó và khẩu RP-46, bị thay thế vào những năm 1960 bởi khẩu PK do sự thay đổi trong học thuyết chiến thuật của Liên Xô về súng máy đa chức năng, khiến mẫu súng lỗi thời.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Súng máy đa chức năng KGK
Súng máy đa chức năng KGK (Korszerűsített Gorjunov-Kucher) là mẫu súng máy được phát triển dựa trên súng máy Goryunov bởi FEG dẫn đầu bởi József Kucher[4] và đựuoc sản xuất tại Hungary vào thập niên 1960 và 1970. Khẩu súng được bổ súng báng, tay cầm và cò súng truyền thống với cặp chân súng từ RPD, chuyển tay lên đạn từ đáy súng lên bên cạnh và thiết kế lại cơ chế khóa nòng để có thể thay nòng một cách nhanh chóng trên chiến trường.[5][6] Các chi tiết khác điều giống SGM và đều có thể dùng thay thế nhau.
Các nước sử dụng
Trang Bản mẫu:Div col/styles.css không có nội dung.
Liên XôLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Afghanistan[7][8]Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Ai Cập[9] Used SG-43 and SGM.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Albania
- Bản mẫu:Flag[10]
Ba LanLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Bulgaria
- Bản mẫu:Flagcountry/core: SGMLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Bản mẫu:Flag[11]
- Bản mẫu:Flag: SGMLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Bản mẫu:Country data Cộng hòa Nhân dân Campuchia
Campuchia
Cuba: SG-43Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Bản mẫu:Flag[12]
- Bản mẫu:Flag[13]
- Bản mẫu:Flag:Kulomet vz. 43.[14]
- Bản mẫu:Flag[15]
- Bản mẫu:Flag[16]
- Bản mẫu:Flag: SGMLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Bản mẫu:Flag: SGMLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Ethiopia
Hungary[17][18]
Iraq
Lào
Mông Cổ
- Bản mẫu:Flag: SG-43, SGM, Type 53[19] và Type 57[20]
- Bản mẫu:Flag: SGMLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
România
Syria[21]
- Bản mẫu:Flagcountry/core: SGMLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Bản mẫu:FlagLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên: Được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên.[22]
Trung Quốc: Type 53 và Type 57.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Các biến thể SG-43, Kiểu 53, SGM và Kiểu 57 được sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam bởi Quân đội Nhân dân Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.[23]
- Bản mẫu:Country data Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: Sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam.[24]
Việt Nam Trang bị cho các đơn vị biên phòng và trang bị cho Bộ đội Bộ binh thuộc Lục quân Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Bản mẫu:FlagLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Bản mẫu:Flag[25]
Các cuộc xung đột
SG-43 Goryunov được sử dụng trong các sự kiện chiến tranh, xung đột, nội chiến như sau:
- Chiến tranh thế giới thứ hai (1939–1945) [26]
- Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953) [27]
- Chiến tranh Việt Nam (1955–1975) [28]
- Nội chiến Lào (1959–1975)
- Nội chiến Campuchia (1967–1975)
- Chiến tranh thuộc địa Bồ Đào Nha (1961–1974)
- Chiến tranh du kích Rhodesia (1964–1979)
- Chiến tranh biên giới Nam Phi (1966–1990)
- Nội chiến Bắc Yemen (1962–1970)
- Chiến tranh Sáu ngày (1967)
- Chiến tranh Yom Kippur (1973) [30]
- Nội chiến Liban (1975–1990)
- Nội chiến Angola (1975–2002)
- Nội chiến Mozambique (1977–1992)
- Chiến tranh Uganda-Tanzania (1978–1979)
- Xung đột Afghanistan (1978–nay) [31][8]Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
- Chiến tranh vùng Vịnh (1990–1991)
- Nội chiến Burundi (1993–2005) [33]
- Chiến tranh Irap (2003–2011)
- Xung đột Kivu (2004–nay)
- Chiến tranh Mali (2012–nay)
- Nội chiến Syria (2011–2024)
- Nội chiến Yemen (2014–nay)
- Can thiệp của Ả Rập Xê Út ở Yemen (2015–nay)
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Wright, Lawrence, The Looming Tower, Vintage Books (2006), ISBN 978-1-4000-3084-2Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”., p. 134
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênkorwar - ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Wright, Lawrence, The Looming Tower, Vintage Books (2006), ISBN 978-1-4000-3084-2Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”., p. 134
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Nguồn
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.