Shiva
Bản mẫu:Infobox deity Bản mẫu:Ấn Độ giáo
Shiva hay Thấp Bà (tiếng Phạn: शिव Śiva), còn được gọi là Mahadeva hay Ma-ha-đề-bà (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPAc-en”.; Bản mẫu:Langx, Mahādevaḥ, [mɐɦaːd̪eːʋɐh)Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. là một trong các vị thần quan trọng của Ấn giáo. Ông là Đấng tối cao trong giáo phái Shaiva, một trong những truyền thống chính của Ấn giáo.
Giáo phái Shaiva của Ấn Độ giáo (một trong ba giáo phái có ảnh hưởng nhất trong Ấn Độ giáo đương đại) xem Shiva là vị Thượng đế tối cao. Trong phái Smarta, Shiva là một trong năm hình thức nguyên sơ của Thượng đế.[1][2] Trong một số trường phái Ấn Độ giáo khác, Brahma, Vishnu, và Shiva đại diện cho ba khía cạnh thần thánh của Ấn Độ giáo và hợp chung thành bộ tam thần Trimurti, với Brahma là người sáng tạo, và Vishnu là đấng bảo hộ và Shiva là hiện thân của sự hủy diệt.[3] Nhưng bên ngoài bộ tam thần này, Shiva là hiện thân của tất cả: sáng tạo và một sự khởi đầu mới cũng như bảo quản và tiêu hủy. Thần Shiva còn được gọi bằng rất nhiều tên và danh hiệu khác.
Ở cấp độ cao nhất, Shiva được xem như vô hạn, siêu việt, bất biến và vô tướng vô hình.[4][5][6][7][8] Shiva có rất nhiều hình thức vừa nhân từ vừa gây kinh sợ.[9] Trong khía cạnh nhân từ, thần Shiva được mô tả như là một Yogi toàn trí, người sống trong một cuộc sống khổ hạnh trên núi Kailash,[3] cũng như một chủ hộ có vợ là Parvati và hai con là Ganesha và Kartikeya, và ở khía cạnh kinh sợ, Shiva thường được mô tả như một ác thần hay chém giết. Shiva cũng được xem như thần bảo trợ của yoga và nghệ thuật.[10][11]
Các thuộc tính biểu tượng chính của Shiva là con mắt thứ ba trên trán, con rắn Vasuki quanh cổ, trăng lưỡi liềm trang hoàng, sông thánh Ganga (Sông Hằng) chảy từ mái tóc rối bù của mình, với vũ khí là Trishula (đinh ba) và nhạc cụ là damaru (một loại trống lắc). Thần Shiva thường được thờ cúng dưới hình thức Shiva linga.[12][13][14] Trong các ảnh tượng, thần thường được thể hiện trong trạng thái thiền định sâu hoặc đang múa điệu Tandava trên Maya. Vật cưỡi là con bò mộng Nandi.
Biểu tượng
-
Tượng đầu thần Shiva trong sa thạch từ Phnom Bok trong phong cách Bakheng tại Bảo tàng Guimet ở Paris
-
Shiva như là thần Nataraja, hiện vật vương triều Chola
Xem thêm
Ghi chú
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Flood (1996), p. 17.
- ^ a ă Zimmer (1972) p. 124.
- ^ See Parmeshwaranand, Volume 3.
- ^ See Kramrisch, The presence of Siva, page 186.
- ^ See Abhayananda, page 95.
- ^ See Davis, pp 113-114.
- ^ Chatterji, Kashmir Shaivism.
- ^ Sharma, Iconography of Sadasiva
- ^ See Shiva Samhita, e.g. translation by Mallinson.
- ^ See Varenne, page 82.
- ^ See Fuller, The Camphor Flame, pp 58.
- ^ Davis writes on page 122: "The Saiva worshipper does not worship the object itself as Siva or as representing Siva; he directs his worship toward it as the physical support for Siva's special presence."
- ^ Hinduism: Beliefs and Practices, by Jeanne Fowler, pgs. 42–43, In traditional Indian society, the linga is rather seen as a symbol of the energy and potentiality of the god.
Nguồn tham khảo
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. This work compares eight versions of the Śivasahasranāmāstotra with comparative analysis and Śivasahasranāmākoṣa (A Dictionary of Names). The text of the eight versions is given in Sanskrit.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. First Princeton-Bollingen printing, 1972.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Article stub box”.