Bước tới nội dung

Synoicus ypsilophorus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Tiêu đề nghiêng

Bản mẫu:Taxobox/speciesLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Autotaxobox”.Bản mẫu:Taxonomy
Bản mẫu:Speciesbox/name
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “InfoboxImage”.
Phân loại khoa học edit
Danh pháp hai phần
Bản mẫu:Taxon infoBản mẫu:Taxon italics
(Bosc, 1792)
Các đồng nghĩa
  • Coturnix ypsilophora Bosc, 1792[1]

Bản mẫu:Speciesbox/parameterCheckLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Synoicus ypsilophorus là một loài chim cút thuộc họ Phasianidae, phân bố ở Australasia. Chúng là một loài chim nhỏ, sống trên mặt đất và từ lục địa Úc, Tasmania và Papua New Guinea, và đồng thời đã được du nhập vào New Zealand và Fiji. Nhờ quần thể đông và phổ biến trên phạm vi phân bố rộng lớn, S. ypsilophorus được xếp vào nhóm "loài ít quan tâm" bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế trên sách đỏ IUCN.

Phân loại

Mặc dù trước đó được xếp vào chi Coturnix, phân tích phát sinh chủng loài đã phát hiện ra rằng nó tạo thành một nhóm đơn ngành với một số loài chim cút khác, tất cả đều được xếp vào chi Synoicus. Dù được cho rằng là loài chị em với Anurophasis monorthonyx, lúc trước được xếp trong chi Anurophasis.[2][3][4]

Các phân loài sau đây được công nhận:[5]

Mô tả

S. ypsilophorus là loài chim mập mạp, chắc nịch, có thể có chiều dài cơ thể từ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. và cân nặng từ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”.. Màu sắc khá đa dạng tùy theo phạm vi phân bố rộng lớn của chúng. Chim đực có màu nâu đỏ lốm đốm đen trên đầu và phần trên cổ, chủ yếu là màu nâu đỏ ở lưng và cánh. Lông mặt bụng có tông màu từ hung vàng đến nâu, luôn kèm theo các vạch vằn đen mảnh hình chữ V. Loài này có đuôi ngắn, màu nâu sẫm với các vạch màu vàng. Chim cái có ngoại hình tương tự nhưng có màu nhạt hơn đôi chút. Có những đốm đen nhỏ trên vai của chim cái và phần trên cơ thể có các vạch hình chữ V có màu tối.[6]

Tiếng kêu của loài này bao gồm nhiều tiếng kêu chói tai giúp chúng giao tiếp với nhau khi di chuyển qua các bụi rậm.[7] Một trong số đó là tiếng huýt kép, với âm tiết sau cao dần lên.[8][9]

Phân bố và môi trường sống

Chim cái

S. ypsilophorus phân bố ở các khu vực nông nghiệp, đồng cỏ ẩm ướt, vùng cây bụi, xavan cỏ spinifex (Triodia) và các vùng đất ngập nước ngọt trên khắp phần lớn New Guineaquần đảo Sunda Nhỏ cũng như ở phía bắc, phía động, phía đông-nam, tây nam ÚcTasmania, dù không hiện diện ở các vùng khô hạn. Loài này từng được du nhập vào FijiNew Zealand. Ở Úc chúng chủ yếu là loài sống ở vùng đất thấp nhưng tại New Zealand chúng được tìm thấy từ độ cao lên đến Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”. và tại New Guinea là đến Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Convert”..[6] Loài này được đưa vào New Zealand trong những năm 1860 và 1870 và hiện nay có ở đảo bắc và một số đảo ngoài khơi. Việc du nhập này, đồng thời với các lần du nhập chim cút khác không thành công, có thể đã góp phần vào sự tuyệt chủng của loài Coturnix novaezelandiae (chim cút New Zealand), một loài đặc hữu đã tuyệt chủng ngay sau đó, nguyên nhân có khả năng là do chúng không có khả năng kháng lại một số mầm bệnh mới.[7]

Sinh học

S. ypsilophorus là một loài chim sống trên mặt đất có tập tính thích ẩn nấp hay chạy hơn là bay. Chúng được tìm thấy trong các nhóm nhỏ và ăn cỏ, hạt, chồi cây và loài động vật không xương sống nhỏ. Nếu bị giật mình và phải bay lên, đàn chim sẽ tản ra theo nhiều hướng khác nhau, sau đó tập hợp lại khi nguy hiểm đã qua.[6]

Loài này tạo thành các cặp sinh sản vào mùa xuân. Mùa sinh sản kéo dài, mỗi lứa đẻ từ nửa tá trứng trở lên, được làm trong tổ nông, lót bằng cỏ trên mặt đất, thường được che giấu trong bụi cỏ hay bụi rậm. Trứng được chim cái ấp trong ba tuần.[6]

Trạng thái

S. ypsilophorus có phạm vi phân bố rất rộng và phổ biến ở phần lớn phạm vi đó. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đã xếp chúng vào nhóm "loài ít quan tâm". Dù quần thể chưa được xác định và có thể đang bị suy giảm nhẹ, nhưng tốc độ suy giảm dường như không đủ để xếp loài này vào nhóm loài bị đe dọa hơn.[10]

Ngôn ngữ thổ dân và văn hóa

Người Kunwinjku ở vùng phía tây Arnhem Land gọi loài chim này là djirndih, djiribbidj hay merhmerh (gọi chung cho các loài chim cút).[11][8][9]

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  4. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ a ă â b Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  8. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  9. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên iucn status 11 November 2021
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Xem thêm

  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Bản mẫu:Taxonbar