Bước tới nội dung

Thập đại đệ tử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Nhiều vấn đề

Tập tin:Kiến trúc Vườn Phật trong Miếu Ngũ Hành Nương Nương, tháng 5 năm 2021 (10).jpg
Tượng các đệ tử của Đức Phật, đặt tại trong Miếu Ngũ Hành Nương Nương

Bản mẫu:Phật giáo Thập đại đệ tử (chữ Hán: 十大弟子, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) là danh xưng dùng để chỉ mười đệ tử quan trọng của Phật Thích-ca Mâu-ni, hay được nhắc nhở trong kinh sách Đại thừa (tiếng Phạn: mahāyāna).

Nguồn gốc

Trong các kinh điển Phật giáo, trong quá trình phát triển của Tăng đoàn, thỉnh thoảng ghi chép lại những lời khen ngợi của Thích-ca Mâu-ni dành cho các đệ tử nổi bật ở một vài khía cạnh. Trong kinh Tăng nhất A-hàm, ghi nhận các đệ tử đứng đầu giáo đoàn về từng phương diện khác nhau, được Phật xác nhận, như Kiều-trần-như có pháp lạp cao nhất; Xá-lợi-phất có trí tuệ siêu việt nhất, Mục-kiền-liên thần thông bậc nhất... Thống kê ghi nhận được có cả thảy 41 tì kheo, 13 tì kheo ni, 11 cư sĩ nam và 10 cư sĩ nữ, từng được Phật Thích-ca Mâu-ni khen ngợi như thế. Một số đệ tử còn được ông giao cho thay mặt thuyết pháp cho các đệ tử khác và một số bài thuyết pháp của các đại đệ tử này được ghi nhận trong các bài Kinh.

Danh vị Thập đại đệ tử

Theo kinh điển Phật giáo Bắc truyền[1] thì thứ tự danh vị của 10 vị này như sau:

  1. Ma-ha-ca-diếp (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Mahākassapa, tiếng Phạn: mahākāśyapa, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Đầu-đà (tu khổ hạnh) Đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Độ; ông là người yêu cầu mở đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên của Phật giáo.
  2. Mục-kiền-liên (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Moggallāna, tiếng Phạn: mahāmaudgalyāyana, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Thần thông Đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lợi-phất; sau khi xuất gia được 7 ngày ông đã đoạn trừ hết các lậu hoặc, chứng quả A-la-hán.
  3. Phú-lâu-na (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Thuyết Pháp Đệ nhất.
  4. Tu-bồ-đề (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Phạn: Subhūti, tiếng Phạn: subhūti, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Giải Không Đệ nhất. Tu-bồ-đề thường xuất hiện trong kinh điển hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa.
  5. Xá-lợi-phất (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Sāriputta, tiếng Phạn: śāriputra, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Trí huệ Đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh văn Phật giáo sơ kỳ; trước khi xuất gia, ông là một luận sư nổi tiếng trong giáo đoàn Bà-la-môn.
  6. La-hầu-la (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Rāhula, tiếng Phạn: rāhula, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Mật hạnh Đệ nhất, ông cũng là người con duy nhất của Thái tử Tất-đạt-đa (sau này thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni).
  7. A-nan-đà (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Ānanda, tiếng Phạn: ānanda, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Đa văn Đệ nhất, người "nghe và nhớ nhiều nhất", được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Độ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ma-ha-ca-diếp; tuy là Đa văn Đệ nhất nhưng sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn ông mới chứng quả A-la-hán rạng sáng ngày kết tập kinh điển đầu tiên.
  8. Ưu-bà-li (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Upāli, tiếng Phạn: upāli, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Giới luật Đệ nhất;
  9. A-na-luật (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Anuruddha, tiếng Phạn: aniruddha, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Thiên nhãn Đệ nhất;
  10. Ca-chiên-diên (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”., tiếng Pali: Kātyāyana, tiếng Phạn: katyāyana, Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).): Biện luận Đệ nhất;

Theo Phật học Đại từ điển, danh vị 10 đại đệ tử giống như kinh điển Bắc truyền, nhưng thứ tự có thay đổi:

  1. Xá-lợi-phất: Trí huệ đệ nhất
  2. Mục-kiền-liên: Thần thông đệ nhất
  3. Ma-ha-ca-diếp: Đầu đà đệ nhất
  4. A-na-luật: Thiên nhãn đệ nhất
  5. Tu-bồ-đề: Giải không đệ nhất
  6. Phú-lâu-na: Thuyết Pháp đệ nhất
  7. Ca-chiên-diên: Luận nghĩa đệ nhất
  8. Ưu-bà-li: Trì luật đệ nhất
  9. La-hầu-la: Mật hành đệ nhất
  10. A-nan-đà: Đa văn đệ nhất

Các đại đệ tử khác

Theo kinh điển Pāli, danh vị các đại đệ tử được ghi nhận tản mát và có số lượng nhiều hơn 10 như Thi-bà-la (Sīvali): Tài lộc đệ nhất (Phước đức đệ nhất),...

Những đệ tử đầu tiên

Trong kinh điển nguyên thủy, có ghi nhận 2 người đầu tiên được Phật Thích-ca Mâu-ni thuyết giảng sau khi đắc đạo là hai thương nhân là Tapussa (Sa-lệ-phú-ba) và Bhallika (Bấc-lê-ca), vốn đang tháp tùng 500 cỗ xe bò, chở hàng hóa từ vùng Ukkalā đến buôn bán tại miền Majjhimapadesa. Theo văn hóa kính trọng tu sĩ bấy giờ, khi gặp sa môn Tất-đạt-đa Cồ-đàm, họ đã thực hành cúng dường vật thực cho Ngài và được Ngài thuyết giảng.[2][3] Nội dung thuyết giảng này không được ghi nhận lại, nhưng tương truyền sau khi được thuyết giảng, 2 thương nhân này đã xin Đức Bụt ban cho Xá lợi tóc và Xá lợi tóc ấy còn được tôn thờ cho đến ngày này tại ngôi bảo tháp Shwedagon (Yangon, Myanmar).

Cũng theo kinh điển nguyên thủy, hai thương nhân này được xem là hai cận sự nam đã quy y Nhị Bảo đầu tiên, gọi là Dvevācikasara-ṇagamana. Về sau, Bhallika xuất gia trở thành Tỳ kheo và đắc quả A-la-hán.[2]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Duy-ma-cật sở thuyết kinh, Đệ tử phẩm.
  2. ^ a ă Kinh Đại Bổn (Mahāpadānasuttaṃ).
  3. ^ Đại phẩm (Mahāvagga).

Tham khảo

Bản mẫu:Wikisource-zh

  • Phật Quang Đại Từ điển (佛光大辭典). Phật Quang Đại Từ điển biên tu Ủy viên Hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Thập đại đệ tử truyện, Tinh Vân (星雲) đại sư

Bản mẫu:Sơ khai nhân vật Phật giáo Bản mẫu:Tất-đạt-đa Cồ-đàm Bản mẫu:Đề tài Phật giáo