Bước tới nội dung

Trần Hoạt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nghệ sĩ nhân dân
Trần Hoạt
Tập tin:Dao dien Tran Hoat.jpg
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinh
Trần Văn Hoạt
Ngày sinh
(1918-08-12)12 tháng 8, 1918
Nơi sinh
Làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, Liên bang Đông Dương
Mất
Ngày mất
16 tháng 8, 1985(1985-08-16) (67 tuổi)
Nơi mất
Bắc Ninh
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệpĐạo diễn sân khấu
Lĩnh vực
Danh hiệuNghệ sĩ Nhân dân (1984)
Sự nghiệp sân khấu
Năm hoạt động1944 - 1985
Thành viên của
Tác phẩmĐồng mía; Quẫn; Cửa mở hé; Sợi tơ vàng
Chữ ký

Trần Hoạt (12 tháng 8 năm 1918 – 16 tháng 8 năm 1985) là một đạo diễn sân khấu của Việt Nam, được xem là người tiên phong và là bậc thầy trong lĩnh vực đạo diễn hài kịch. Ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân (đợt 1) năm 1984.

Tiểu sử

Trần Hoạt tên thật Trần Văn Hoạt, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1918 tại làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật tuồng.[1] Làng Đình Bảng được xem là một trong các trung tâm tuồng ở Bắc Ninh bên cạnh Tam Lư và Đồng Kỵ.[2] Cha ông mê tuồng và có riêng phường tuồng trong nhà.[1]

Được cha mẹ gửi về Hà Nội để học bậc Trung học, nhưng không lâu sau, ông bỏ học, đi lang bạt ở nhiều nơi, từ Bắc vào Nam, sang cả Campuchia và Lào. Hơn mười năm đi lang bồng kiếm sống đã đem tới cho ông những kinh nghiệm phong phú và quý giá mà giúp ích cho nghề đạo diễn sân khấu của ông về sau.[1]

Tới đầu năm 1944, Trần Hoạt trở về Đình Bảng khi phong trào Việt Minh phát triển rầm rộ. Ông bắt đầu tham gia vào các hoạt động sân khấu nhằm tuyên truyền vận động quần chúng. Trong thời gian này, Trần Hoạt bắt đầu viết và dựng hoạt cảnh kịch ngắn, tham gia Đội Tuyên truyền Trung ương cho đến Cách mạng tháng Tám.[1]

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Trần Hoạt huấn luyện nghề diễn cho các thành viên Đội Văn nghệ thuộc Liên khu I, Liên khu II, tiếp đó là Liên khu Việt Bắc, đồng thời phụ trách Đội Kịch Mũ Đò, gồm gần ba mươi thiếu niên nam nữ vừa hát vừa múa vừa diễn kịch. Năm 1950, ông chuyển về công tác trong Hội Văn nghệ Việt Nam, làm đạo diễn cho Đoàn Kịch Nhà Thông tin Tuyên truyền Trung ương. Cuối năm 1951, ông được cử sang tham gia thành lập Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương gồm Đội Kịch (là Đoàn Kịch Chiến thắng) cùng với Đội Ca Múa, Đội Chèo.[1]

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Trần Hoạt được cử đi học Đạo diễn ở Học viện Hý kịch Trung ươngBắc Kinh, Trung Quốc. Ông thuộc thế hệ đạo diễn sân khấu đầu tiên được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử đi học nước ngoài, cùng với Đình Quang, Ngô Y Linh, Nguyễn Đình Nghi, Dương Ngọc Đức, Ngọc Phương. Giai đoạn này, ông được tiếp xúc với đào tạo đạo diễn chính quy thông qua hệ thống lý thuyết của Stanislavsky.[2] Năm 1959, ông tốt nghiệp trở về nước làm đạo diễn chính thức cho Đoàn Kịch nói Trung ương.[3]

Năm 1965, nhân dịp 10 năm giải phóng Thủ đô, ông được chuyển sang làm đạo diễn tăng cường cho Đoàn Kịch nói Hà Nội (tiền thân của Nhà hát Kịch Hà Nội) mới được thành lập.[1][3]

Trần Hoạt được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân đợt đầu tiên năm 1984.[1][3] Ông mất ngày 16 tháng 8 năm 1985, hưởng thọ 67 tuổi tại quê nhà làng Đình Bảng.[1]

Phong cách nghệ thuật

Trần Hoạt được đánh giá là đạo diễn bậc thầy về hài kịch, người đầu tiên nhận đường nghệ thuật đạo diễn trong cuộc "Việt hóa" nghề đạo diễn hài kịch ở Việt Nam.[2] Phong cách đạo diễn của ông được xây dựng trên nền tảng nghệ thuật dân gian, đặc biệt là chèo cổ và tuồng cổ. Ông đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa hài kịch hiện đại tiếp thu từ hệ thống lý thuyết Stanislavski với hài kịch dân gian của Việt Nam.[3]

Ông rất chú trọng đến việc "pha trò" làm vui người xem. Đặc biệt, ông vận dụng thành công nghệ thuật cổ truyền vào quá trình dàn dựng dạng kịch hài, thể loại còn quá hiếm của sân khấu Việt Nam trong giai đoạn 1960-1980. Ông khéo khêu gợi thuyết phục diễn viên dùng lại số thủ pháp gây cười của cha ông đã cải tiến ít nhiều với diễn kỹ tả thực sao cho hài hòa.[1]

Hoạt động nghệ thuật của Trần Hoạt cũng rất đa dạng, với việc dàn dựng vở diễn theo nhiều loại hình sân khấu, bên cạnh kịch nói còn có tuồng, chèo, cải lương.[1]

Tác phẩm

Trong hơn 40 năm hoạt động nghệ thuật, trong đó 35 năm giữ cương vị đạo diễn, Trần Hoạt dàn dựng hơn 50 tiết mục công diễn.[1] Một số tác phẩm tiêu biểu bao gồm:

Kịch nói

Đoàn Kịch nói Trung ương

  • Bông hoa đỏ (đề tài Triều Tiên) - kịch bản: Việt Dung (phóng tác), mỹ thuật: Nguyễn Hồng[1]
  • Sang sông - kịch bản: Hà Văn Cầu[1]
  • Đồng mía (3 màn) - kịch bản: Pakô Anphôngxô (Cuba), nhạc: Văn Cao, mỹ thuật: Nguyễn Hồng. Diễn viên: Trần Hải (Hoan Cuabat), Hoàng Thanh Giang (ông bố), Diệu Loan (Hustia), Tâm Oanh (bà mẹ), Mạnh Sinh[1][3]
  • Bà mẹ và những người con - trợ lý đạo diễn: Hoàng Quân Tạo (thuộc chương trình "Những đêm kịch chống Mỹ")[1]
  • Tiểu đội anh hùng - trợ lý đạo diễn: Hoàng Quân Tạo[1]
  • Quẫn (1960) - kịch bản: Lộng Chương. Diễn viên: Song Kim (Mẹ Đại Cát), Trần Tiến (Đại Cát), Chu Xuân Hoan, Thu Hà. Vở diễn đã công diễn hơn 2000 đêm trong suốt thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX, và được Trần Lực dàn dựng lại vào năm 2018.[2][3]
  • Cửa mở hé - kịch bản: Lộng Chương, đạo diễn: Trần Hoạt (dàn dựng cho Đoàn Kịch nói Hải Phòng). Diễn viên: Lê Chức (vai trung úy Kỷ).[1][3]

Đoàn Kịch nói Hà Nội

  • Hà Nội đầu năm 1946 (4 màn) - kịch bản: Bùi Nguyên Cát, mỹ thuật và âm nhạc: Văn Cao. Diễn viên: Hoàng Quân Tạo (Cương), Mạnh Sinh (Ba lái xe), Trần Hải (Bảy Tụi), Ngân An (chị Mai), Diệu Loan, Thu Hà[1][3]
  • Giờ phút quyết định (5 màn, đầu năm 1965) - kịch bản: Nguyên Bắc và Lộng Chương. Diễn viên: Hoàng Quân Tạo (Lực), Bá Di (Tài Cần), Hải Việt (xếp Đạt), Ngọc Đình (Tây Barô), Phạm Bằng (anh công nhân say thuốc lào). Vở diễn sau này được đổi tên thành Những ngày tháng 10 với dàn diễn viên bổ sung: Quốc Toàn (vai Lực), Kim Xuyến (vai Minh), Trịnh Mai (vai Tài Bá), Bình Hải (vai Ký Thịnh), Nhật Đức (vai Người Bồi).[1]
  • Đêm thúng 7 (5 màn) - kịch bản: Dương Linh và Lư Đa[1]
  • Bức tranh mùa gặt (4 màn) - kịch bản: Trần Vượng, mỹ thuật: Sỹ Ngọc. Diễn viên: Ngân An (chị Tần), Thu An (chị Bát), Tâm Oanh (người hoạn lợn), Thu Hà (mụ Lượn), Trịnh Mai (anh "lộn cổ"), Lê Mai (mẹ Tài)[1]

Chèo

Đoàn Chèo Hà Nội

  • Sợi tơ vàng (2 phần 4 cảnh, năm 1964) - kịch bản: Việt Dung. Diễn viên: Hoa Tâm (Bà cả Lợi), Tuyết Nga (Chích chòe), Kim Long (Mẹ Mắn), Bá Di (Hai Cua). Được đánh giá là tiết mục thành công nhất của chèo mới giai đoạn 1955-1965.[1]
  • Chị Hiền (vở ngắn) - kịch bản: Việt Dung, diễn viên: Hoàng Từ (vai Ba Xúc)[1]
  • Cô Tấm (vở ngắn) - kịch bản: Việt Dung, diễn viên: Hoàng Từ (vai Tư Tỏi)[1]

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x Trần Việt Ngữ (2017). Nghìn năm sân khấu Thăng Long. Nhà xuất bản Hà Nội. ISBN 6045523210.
  2. ^ a b c d Nguyễn Thị Minh Thái (ngày 13 tháng 2 năm 2018). ""Quẫn" của Lộng Chương: Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại". Công An Nhân Dân. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  3. ^ a b c d e f g h Văn Thao (ngày 8 tháng 2 năm 2019). "Nghệ sĩ nhân dân Trần Hoạt với Văn Cao". Công An Nhân Dân. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.