Bước tới nội dung

Trần Kiện Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.Bản mẫu:Wikidata hình ảnh

Trần Kiện Phong có tên tiếng Anh là Sammul Chan (sinh ngày 4 tháng 5 năm 1978 tại Triều Châu, Trung Quốc) là một cựu diễn viên , ca sĩ, DJ kiêm người dẫn chương trình người Hồng Kông gốc Trung Quốc. Anh từng là diễn viên độc quyền của hãng TVB.

Tiểu sử

Trần Kiện Phong tên khai sinh là Trần Ân Diệu. Trần Kiện Phong sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống theo đạo Thiên Chúa, ba anh là người truyền đạo, mẹ là y tá, còn chị gái là cảnh sát, anh là con út trong gia đình. Vì gia đình anh vốn hiếm muộn con trai, nên khi anh ra đời, ba mẹ đã đặt tên là Trần Ân Diệu, có nghĩa là món quà do Thượng đế ban tặng cho gia đình họ Trần. Vì thế, tuổi thơ của Kiện Phong trải qua những ngày tháng tại nhà thờ và tham gia dàn đồng ca tại nhà thờ cũng như cùng gia đình đi đến những buổi truyền đạo. Mặc dù, gia đình không có ai theo nghệ thuật, nhưng Trần Kiện Phong lại có hứng thú với âm nhạc và diễn xuất.[1]

Sự nghiệp

Trước khi gia nhập làng giải trí, Trần Kiện Phong từng làm cứu hộ sinh ở bãi biển mấy năm. Vì tên thật của anh - Trần Ân Diệu - trong tiếng Quảng Đông lại đồng âm với tên của một nghệ sĩ nổi tiếng, nên sau khi nổi danh, anh đã đổi tên là Trần Kiện Phong.

Trần Kiện Phong khởi nghiệp với vai trò một DJ cho đài Metro Broadcast Corporation Limited từ năm 1997 với cái tên thật của mình là Trần Ân Diệu, mặc dù đa phần lúc đó người ta gọi anh là Sammul. Trước đó, Trần Kiện Phong chưa từng nghĩ đến việc gia nhập làng giải trí cho đến khi tình cờ anh nghe trên đài radio FM cần tuyển một DJ, nên anh đã rủ bạn học của mình đi phỏng vấn. Thế nhưng, kết quả bạn của anh rớt, còn anh thì đậu. Và thế là anh trở thành DJ bất chấp sự phản đối của gia đình. Trở thành DJ, Kiện Phong đã được bầu chọn là " DJ đẹp trai nhất Hồng Kông ", cái tên Trần Kiện Phong bắt đầu được chú ý nhiều hơn.

Trước khi trở thành diễn viên, Trần Kiện Phong còn tham gia đóng video clip minh họa cho các nghệ sĩ, ca sĩ Hồng Kông. Trần Kiện Phong được chú ý đến nhờ một video clip minh họa cho Trương Quốc Vinh. Hiện nay, dù đã có tên tuổi trên màn ảnh truyền hình, nhưng Trần Kiện Phong vẫn đắt show với vai trò MC trên radio và là người chủ trì tiết mục truyền hình của TVB.

Từ năm 1997 đến năm 1999, anh ký hợp đồng với ba hãng thu âm để phát hành album, nhưng tất cả đều không thành công. Anh đã ghi âm một album tiếng Phổ thông ở Đài Loan, nhưng vì hãng đĩa có vấn đề nên cuối cùng album không phát hành.

Năm 1999, sau khi ký hợp đồng quản lý với công ty giải trí của Ivy, đồng thời hợp tác đóng phim với hãng TVB, anh bắt đầu chính thức gia nhập làng giải trí Hoa ngữ với cái tên là Trần Kiện Phong và bắt đầu đóng phim truyền hình.[1]

Trần Kiện Phong bắt đầu sự nghiệp là một MC cho các chương trình và show giải trí của hãng truyền hình TVB từ năm 1999 đến 2004. Sau một số vai phụ, Trần Kiện Phong tạo được sự chú ý của TVB và được giao vai chính đầu tiên trong phim Ngọn lửa trắng (2001). Trong năm 2002, Trần Kiện Phong được giám chế Lý Thiêm Thắng mời góp mặt trong hai bộ phim là Bao la bầu trời, thủ vai cậu ấm Donald, và Quy luật sống còn, vào vai chàng luật sư trẻ tuổi háo thắng Vincent.[2] Trong đó, bộ phim Quy luật sống còn được xem là một chế tác truyền hình lớn trong năm 2003 của TVB. Cũng chính nhờ bộ phim này mà tên tuổi của Trần Kiện Phong được nhắc đến nhiều cùng các nam diễn viên trẻ khác. Cả hai bộ phim này đều đạt được tỷ suất bạn xem đài cao và có mặt trong 10 phim truyền hình và chương trình hay nhất do NEXT TV AWARDS bình chọn năm 2003.

Tuy nhiên, khi TVB có ý định mời anh ký hợp đồng để trở thành diễn viên chính thức của đài, anh đã từ chối và quyết định chọn vai để đóng vì anh không muốn bị đóng khung vào một loại vai diễn. Thế là sau đó, anh có hàng loạt những hình tượng từ vai chính diện đến phản diện và đều được người xem đón nhận.[1]

Năm 2009, anh thủ vai chính Lưu Hằng trong bộ phim cổ trang Mỹ nhân tâm kế, một trong những dự án lớn nhất của truyền hình trung ương Trung Quốc do Vu Chính làm đạo diễn kiêm biên kịch, với chi phí đầu tư hơn 500 triệu tệ.[3] Bộ phim phát sóng lần đầu tại đài truyền hình Thượng Hải vào tháng 3 năm 2010 đã đạt được tỷ suất bạn xem đài rất cao. Thành công của Mỹ nhân tâm kế đã giúp anh tạo được tiếng vang lớn và có chỗ đứng vững chắc tại Đại Lục. Vừa qua, tại cuộc bình chọn thường niên mang tên "Thời trang cuộc sống" do báo Đông Phương và mạng viễn thông China Unicom phối hợp tổ chức tại Trung Quốc, Trần Kiện Phong nhận được giải thưởng nghệ sĩ có biểu hiện xuất sắc.

Tại Seoul Drama Awards 2010, anh được bình chọn giải thưởng Nam diễn viên được yêu thích nhất tại khu vực Trung Quốc, và đứng thứ hai trong cuộc bình chọn dành cho ngôi sao được yêu thích nhất tại khu vực Hoa ngữ chỉ sau Lâm Tâm Như.

Danh sách phim

Truyền hình

Năm Tên phim Vai Ghi chú
1999 Side Beat Choi Tập 2
A Kindred Spirit Tập 1102 (Uncredited)
Witness to a Prosecution Lau Wah Tập 17, 21
2000 Lực lượng phản ứng II Tim Tập 25
Incurable Traits Young General
Crimson Sabre (Uncredited)
2001 Ỷ Thiên Đồ Long Ký A Tam Tập 15–17, 21–22
Cuộc đời tươi đẹp Ken Quách Khải Bang
2002 Ngọn lửa trắng Dung Đức Cơ
2003 Quy luật sống còn Vincent Trác Vỹ Danh
Bao la bầu trời Donald Vạn Hạo Thông
Thiếu gia vùng Tây Quan Tsang Kwok-bong
2004 Giấc mộng hiệp sĩ Bồ Quang
Đội hành động liêm chính 2004 Minh Tập: "Abuse of Power"
Supreme Fate Sammul Tập: "Sister's Pride"
2005 Sư Phụ tôi là Hoàng Phi Hồng Lương Khoan Được đề cử TVB Awards - giải nam diễn viên tiến bộ nhất
Cảnh sát Lý Bách Kiều Được đề cử TVB Awards - giải nam diễn viên tiến bộ nhất
Người đàn ông gan dạ Đổng Phi
Người phát ngôn giỏi luật Dick Trình Học Cần
2006 Lý lẽ con tim Lâm Gia Tín Đề cử — TVB Awards dành cho nam diễn viên tiến bộ nhất
Phụng Hoàng Lâu Uông Dục Lân (Đời nhà Thanh)

Thượng Nhất Cát (Đời hiện đại)

Đề cử — TVB Awards dành cho nam diễn viên tiến bộ nhất
Đề cử — TVB Awards - nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
Trăm mưu ngàn kế Từ Phong / Mao Trí / Diệp Hớn Vinh Đề cử — Astro Drama Awards cho giải thưởng vai phản diện đáng nhớ nhất
2007 Cảnh sát II: Cảnh sát mới ra trường Cảnh sát Lý Bách Kiều Phần tiếp theo của Cảnh sát
Sở Lưu Hương truyền kỳ Nguyệt Lượng Đại Vương (khách mời)
Quy luật sống còn II Vincent Trác Vỹ Danh Phần tiếp theo của Quy luật sống còn
2008 Cách cách cuối cùng Ôn Lương Ngọc
Thiếu niên tứ đại danh bổ Thôi Lược Thương (Truy Mệnh) [4]
Mai khôi giang hồ Minh Thiếu Khanh
2009 Cảnh sát III: Học cảnh truy kích Thanh tra Lý Bách Kiều Phần tiếp theo của Cảnh sát mới ra trường
Vương lão hỗ cướp vợ Châu Văn Tân
Đội hành động liêm chính 2009 Nhân viên điều tra Trần Gia Minh Tập: "Public, Private, Car"
2010 Mỹ nhân tâm kế Lưu Hằng Nam diễn viên Hoa Ngữ được yêu thích nhất - Seoul Drama Awards 2010
Yên Vũ Tà Dương Trương Thừa Ân
Cú lội ngược dòng Glenn Diệp Tích Lương
2011 Sóng gió vương triều Mã Tam Bảo / Trịnh Hòa [5]
Loạn thế giai nhân Hạ Thiên Nam diễn viên Cảng Đài được yêu thích nhất - LetTV 2011
Thời đại hoàng kim của thặng nữ Lý Hảo
Tài thần Hữu Đạo Sài Hữu Đạo
Sưu Thần Ký Phúc Tinh / Tiểu Ngốc
2012 Thiên tài Weibo Hàn Tử Tĩnh
Nước mắt nữ nhân Ngũ Liêm Sơn
Mười hai đồng tiền vàng Dương Hoa
Đội hành động liêm chính 2012 Trần Gia Minh
Mỗi người đều có một bí mật Bắc Vũ Đồng
2013 Phong hỏa giai nhân Đỗ Doãn Đường Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Lễ trao giải Thâm Quyến 2014
IT Hành Giả Đài RTHK (Hongkong)
Hắc động Đài RTHK (Hongkong)
2014 Anh hùng phong Thần Bảng Khương Tử Nha Phần 1 và Phần 2
Nho lâm ngoại sử Từ Thiên Hữu
2015 Thiết huyết quân ca Cao Sướng
Đồng mưu giả Lôi Minh
Người lạ chung đường Lục Gia Hạo
2016 Hội Quần Anh Tăng Đình Phương
Mỹ nhân như ngọc kiếm như hồng Ôn Nghĩa
Thiên khuyết ca của chúng ta Phó Dật Tắc
Nhân gian hữu tình Bác sĩ Lý Đài RTHK (Hongkong)
Dưới chân núi sư tử Phương Tử Tuấn Đài RTHK (Hongkong)
Dị chiến Lý Vân Mộ

Điện ảnh

Âm nhạc

  • "Contact Lense Hero" (隱形眼鏡俠)
  • "Spinning" (旋旋轉)
  • "Surrounded" (左擁右抱)
  • "Same Space" (同等的空間)
  • "Saving This Moment" (留住這時光)
  • "Bicycle" (單車) – bản gốc do Trần Dịch Tấn trình bày
  • "The Stronger, the Braver" (愈強越勇) – Olympic Six Stars
  • "My Pride" (我的驕傲) – Olympic Six Stars
  • "Riding Winds, Plowing Waves" (乘風破浪) – Olympic Six Stars
  • "Suddenly" (來去豁然) – Olympic Six Stars
  • "Clicked You" (CLICK中你)
  • "New Friend" (新朋友)
  • "Strong" (強) – The Academy (學警雄心) Sub-theme, bản gốc do Quách Phú Thành trình bày
  • "Child, Let Me Love" (孩子‧讓我愛) – New Born (天地孩兒) theme song
  • "True Hero" (真心英雄) – Guts of Man (肝膽崑崙) theme song
  • "Unwilling" (捨不得)
  • "Storm" (風暴) – The Four (少年四大名捕) theme song
  • "Black and White Variation" (黑白變奏) – E.U. (學警狙擊) theme song
  • "Legalized Bride Theft" (合法搶親) – A Bride for a Ride (王老虎搶親) theme song
  • "Schemes of a Beauty" (美人心計) – Meiren Xinji (美人心計) Cantonese theme song, song ca với Hồ Hạnh Nhi.

Giải thưởng

TVB Anniversary Awards

  • Nam diễn viên tiến bộ nhất—đề cử cho Bar Benders, Maiden's Vow (2006)
  • Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất—đề cử cho Maiden's Vow (2006)
  • Nam diễn viên tiến bộ nhất—đề cử cho The Academy, Wong Fei Hung: Master of Kung Fu (2005)

Các giải thưởng khác

  • Men's Uno - diễn viên của năm 2003
  • Giải thưởng tạp chí Esquire - nam diễn viên triển vọng (2008)
  • Nghệ sĩ ăn mặc đẹp nhất - tạp chí Esquire (2008)
  • Nam nghệ sĩ xuất sắc nhất 2009 - giải thưởng "tuần báo Thượng Hải" thường niên trao tặng
  • Nghệ sĩ có biểu hiện xuất sắc - đề cử cho Mỹ nhân tâm kế (2010)
  • Nam diễn viên được yêu thích nhất - đề cử cho Mỹ nhân tâm kế (2010)

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài