Bước tới nội dung

Tranh kiếng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ông Địa trong tranh kiếng dân gian Nam Bộ

Tranh kiếng (Reverse painting on glass) là một hình thức nghệ thuật đặc thù bao gồm việc tô vẽ các lớp sơn hoặc phẩm màu lên một mặt của tấm kính, sau đó thưởng thức tác phẩm bằng cách lật ngược tấm kính lại và nhìn xuyên qua lớp thủy tinh để thấy hình ảnh hiện ra ở mặt bên kia. Một thuật ngữ chuyên môn khác thường được sử dụng để chỉ kỹ thuật vẽ lạnh và dát vàng trên mặt sau của kính là verre églomisé, được đặt theo tên của nhà trang trí người Pháp Jean-Baptiste Glomy (1711–1786), người đã sử dụng các khung kính được vẽ ngược để lồng các bản in.[1] Trong tiếng Đức, loại hình này được biết đến với tên gọi Hinterglasmalerei. Loại hình nghệ thuật này đã tồn tại trong nhiều thế kỷ và được ứng dụng rộng rãi trong hội họa thánh linh kể từ thời Trung Cổ. Nổi tiếng nhất là nghệ thuật vẽ biểu tượng tôn giáo trong Đế quốc Byzantine. Sau đó, kỹ thuật vẽ trên kính lan rộng đến Ý, cụ thể là tại Venice, nơi nó đã có những ảnh hưởng nhất định đến nghệ thuật Phục Hưng. Từ giữa thế kỷ XVIII, tranh kiếng trở thành loại hình được Giáo hội và giới quý tộc khắp Trung Âu ưa chuộng. Một số mặt đồng hồ đã được chế tác bằng kỹ thuật này vào đầu và giữa thế kỷ XIX. Trong suốt thế kỷ XIX, tranh kiếng cực kỳ phổ biến dưới dạng nghệ thuật dân gianÁo, Bavaria, Moravia, Bohemia (pha lê Tiệp) và Slovakia. Phong cách hội họa này cũng được tìm thấy trong các biểu tượng truyền thống của Romania có nguồn gốc từ Transylvania. Các nhà truyền giáo Dòng Tên đã đưa kỹ thuật này đến Trung Quốc,[2] từ đó nó lan sang Nhật Bản trong Thời kỳ Edo. Các nghệ sĩ Nhật Bản đã tiếp nhận và phát triển kỹ thuật này trong thế kỷ XIX.[3] Tại Việt Nam, nhất là vùng Nam Bộ cũng phổ biến dòng tranh kiếng. Tranh kiếng cũng rất phổ biến tại Ấn Độ[4]Senegal[5] vào thế kỷ XIX.

Chế tác

Tranh kiếng Cửu Thiên Huyền Nữ thờ trên tran bà ở Quảng Trị

Một trong những thách thức chính của việc tạo ra một bức tranh kiếng nằm ở cách thức các lớp màu được áp dụng trong quá trình vẽ.[6] Một bản minh họa loại này thường được vẽ ở mặt đối diện của kính (mặt không hướng về phía người xem), tuân theo một trình tự các lớp sơn đảo ngược hoàn toàn: các chi tiết ở lớp tiền cảnh được vẽ trước và lớp nền được vẽ cuối cùng.[6][7][8][9] Trong các tác phẩm này, kết quả cuối cùng phải được tính toán kỹ lưỡng trước khi bắt đầu và phải được xem xét trong từng lớp sơn được áp dụng.[7] Chẳng hạn, trong phong cách hiện thực, con ngươilông mày của nhân vật sẽ được vẽ đầu tiên, trước khi phủ màu lên lớp da hoặc củng mạc của mắt.[7] Điều này đòi hỏi người nghệ sĩ phải có tư duy không gian ngược và khả năng hình dung thành phẩm vô cùng chuẩn xác vì không thể sửa lỗi bằng cách đè màu như tranh sơn dầu truyền thống.

Trung Quốc

Trong thế kỷ XIX và XX, Trung Quốc là một trong những nơi có ảnh hưởng lớn nhất đến nghệ thuật tranh kiếng thế giới.[8] Tranh kiếng Trung Hoa đã tác động mạnh mẽ đến các nghệ sĩ phương Tây như Gabriele Münter, Wassily Kandinsky, Franz MarcHeinrich Campendonk.[8]

  • Franz Marc sở hữu một bộ sưu tập các bức tranh giấy lõi (pith paper) của Trung Quốc từ thế kỷ XIX.[8]
  • Marc và Kandinsky thường xuyên trao đổi thư từ nhắc đến các tác phẩm nghệ thuật Trung Quốc và Nhật Bản.[8]
  • Các phân tích lịch sử cũng cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của châu Á trong nhiều bức tranh kiếng thuộc nhóm Blave Raiter (Kỵ sĩ xanh).[8]

Trong tranh kiếng Trung Quốc, các hình tượng nhân vật thường được phác thảo trước bằng những đường đen mảnh, trái ngược với lối vẽ của Kandinsky thường dùng nét dày. Sau khi vẽ nét, các mảng màu sẽ được lấp đầy để tạo chi tiết.[8][10] Cuối cùng, một lớp sơn trắng mỏng sẽ được phủ lên toàn bộ mặt sau để làm nền, khác với tranh kiếng phương Tây thường dùng màu đen để làm nổi bật các sắc độ.[8] Bảng màu truyền thống của Trung Quốc cho tranh kiếng bao gồm:

Hùng hoàng (Orpiment) Chu sa (Cinnabar) Trắng chì Đất oxit sắt Lam đồng (Azurite) Khổng tước thạch (Malachite) Lam sẫm (Ultramarine) Trắng vỏ sò Đan sa (Lead red) Phẩm màu tự nhiên

Việt Nam

Bức ảnh kiếng thờ Quan Công tại chùa Từ Nguyên ở Tân Phú
Bức ảnh kiếng thờ Quan Công ở chùa Pháp Hoa

Nghệ thuật tranh kiếng tại Việt Nam có lịch sử phát triển và trở thành một bộ phận trong đời sống tâm linh, đặc biệt là tại vùng đất Nam Bộ, Trung bộ. Sự xuất hiện của tranh kiếng gắn liền với các đợt di dân của người Hoa và sự giao thoa văn hóa trong thời kỳ thuộc Pháp. Việc hình thành các xưởng sản xuất tranh kiếng chuyên nghiệp tại Việt Nam được ghi nhận vào khoảng đầu thế kỷ XX, dù trước đó, tranh kiếng đã được nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc được các nghệ nhân Hoa kiều mang theo như những vật phẩm xa xỉ cho giới thượng lưu và đình chùa, các phái vẽ tranh kiếng bản địa bắt đầu hình thành rõ nét. Tiêu biểu nhất là vùng Lái Thiêu (Bình Dương) và sau đó là khu vực Chợ Lớn (Sài Gòn), nơi các nghệ nhân Phúc Kiến và Quảng Đông đã thiết lập những cơ sở sản xuất quy mô, cung cấp tranh cho khắp các tỉnh miền Tây. Tranh kiếng Nam Bộ không chỉ dừng lại ở các đề tài tôn giáo như thờ Phật, thờ Bà Chúa Xứ mà còn mở rộng sang các loại tranh liễn đối, tranh chúc tụng và tranh trang trí nội thất với phong cách rực rỡ, sử dụng kỹ thuật tráng thủy (thủy ngân) để tạo hiệu ứng gương bóng đặc trưng. Cho đến ngày nay, các làng nghề tranh kiếng như Bà Vệ (An Giang) hay Gò Công (Tiền Giang) vẫn lưu giữ những kỹ thuật truyền thống này như một di sản văn hóa.

Tại Iran

Tranh kiếng (tiếng Ba Tư: pošt-e šišeh) xuất hiện lần đầu tại Iran vào khoảng thế kỷ XV,[11] nhưng nghệ thuật này chỉ thực sự thăng hoa từ thế kỷ XIX.[12] Một trong những mẫu vật sớm nhất còn sót lại thuộc về vương triều Qajar, dưới thời vua Fath-Ali Shah Qajar (khoảng 1797–1834). Trong thời kỳ này, nhiều bức chân dung bằng tranh kiếng khổ lớn đã được thực hiện, tuy nhiên rất ít tác phẩm còn nguyên vẹn do kích thước lớn và độ mỏng manh của kính thời bấy giờ.[12]

Chú thích

  1. ^ Michelle A. Erhardt and Amy M. Morris, Mary Magdalene, Iconographic Studies from the Middle Ages to the Baroque (Brill, 2012; ISBN 9004231951), p. 315.
  2. ^ "Rise & Fall of the Canton Trade System". Visualizing Cultures. MIT. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2019.
  3. ^ Yamauchi, Yuki. "Reverse Paintings on Glass: The 200 Years of Dazzling History". The Japan Times. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2019.
  4. ^ Dallapiccola, Anna (2017). Reverse glass painting in India. New Delhi, India: Niyogi Books. ISBN 978-9385285349.
  5. ^ Bouttiaux, FirstName (1994). Senegal behind glass : images of religious and daily life. Munich, New York: Prestel, in association with the Royal Museum of Central Africa, Tervuren. ISBN 3791314246.
  6. ^ a b Steger, Simon; Oesterle, Diana; Bretz, Simone; Frenzel, Lisa; Stege, Heike; Winkelmeyer, Iris; Hahn, Oliver; Geiger, Gisela (ngày 7 tháng 5 năm 2019). "Kandinsky's fragile art: a multidisciplinary investigation of four early reverse glass paintings (1911–1914) by Wassily Kandinsky". Heritage Science. 7 (1): 27. doi:10.1186/s40494-019-0268-8. ISSN 2050-7445. S2CID 157066028.
  7. ^ a b c Neelmeijer, C.; Mäder, M. (ngày 1 tháng 11 năm 2004). "Reverse painting on glass as seen by the proton beam". Nuclear Instruments and Methods in Physics Research Section B: Beam Interactions with Materials and Atoms. Radiation and Archaeometry (bằng tiếng Anh). 226 (1): 126–135. doi:10.1016/j.nimb.2004.02.013. ISSN 0168-583X.
  8. ^ a b c d e f g h Steger, Simon; Oesterle, Diana; Mayer, Rupprecht; Hahn, Oliver; Bretz, Simone; Geiger, Gisela (ngày 1 tháng 8 năm 2019). "First insights into Chinese reverse glass paintings gained by non-invasive spectroscopic analysis—tracing a cultural dialogue". Archaeological and Anthropological Sciences (bằng tiếng Anh). 11 (8): 4025–4034. doi:10.1007/s12520-019-00799-3. ISSN 1866-9565. S2CID 134680434.
  9. ^ Bayle, M.; Waugh, D. G.; Colston, B. J.; Lawrence, J. (ngày 1 tháng 12 năm 2015). "On the study of oil paint adhesion on optically transparent glass: Conservation of reverse paintings on glass". Applied Surface Science (bằng tiếng Anh). 357: 293–301. doi:10.1016/j.apsusc.2015.08.192. hdl:10034/577376. ISSN 0169-4332.
  10. ^ Li, Tao; Ji, Jinxin; Zhou, Zhong; Shi, Jilong (ngày 1 tháng 4 năm 2017). "A multi-analytical approach to investigate date-unknown paintings of Chinese Taoist priests". Archaeological and Anthropological Sciences (bằng tiếng Anh). 9 (3): 395–404. doi:10.1007/s12520-015-0293-9. ISSN 1866-9565. S2CID 128777151.
  11. ^ "Painting, Mahin Azima". The Iranian. ngày 7 tháng 9 năm 1999. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2022.
  12. ^ a b Bloom, Jonathan; Blair, Sheila S.; Blair, Sheila (ngày 14 tháng 5 năm 2009). Grove Encyclopedia of Islamic Art & Architecture: Three-Volume Set (bằng tiếng Anh). OUP USA. tr. 117. ISBN 978-0-19-530991-1.