Bước tới nội dung

Triều Tiên quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Triều Tiên quân
Quân đội Nhật Bản đầu hàng ở Nam Triều Tiên
Hoạt động11 tháng 3 năm 1904 - 15 tháng 8 năm 1945 
Quốc giaNhật Bản Đế quốc Nhật Bản
Phục vụTập tin:Flag of the Japanese Emperor.svg Thiên hoàng
Quân chủng Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Phân loạiBộ binh
Chức năngQuân đoàn đồn trú
Bộ chỉ huyKeijō
Tham chiếnSự kiện Phụng Thiên
Chiến dịch hồ Khasan
Chiến tranh thế giới thứ hai

Triều Tiên quân (Nhật: 朝鮮軍 (ちょうせんぐん) Hepburn: Chōsen-gun?) là một trong những lực lượng đồn trú cấp quân đoàn của Lục quân Đế quốc Nhật Bản, quản lý và đồn trú tại Triều Tiên thuộc Nhật. Đây không phải là một đội quân được thành lập bởi Người Triều Tiên.

Lịch sử

Quân Nhật đã chiếm đóng phần lớn lãnh thổ của Đế quốc Đại Hàn trong Chiến tranh Nga-Nhật, Hàn Quốc trú tráp quân (韓国駐剳軍 (かんこくちゅうさつぐん) Kankoku-Chusatsugun?) được thành lập tại Seoul để bảo vệ đại sứ quán và thường dân Nhật Bản vào ngày 11 tháng 3 năm 1904. Sau khi Đế quốc Nhật Bản sáp nhập Triều Tiên vào năm 1910, lực lượng này được đổi tên thành Triều Tiên trú tráp quân (朝鮮駐箚軍 (ちょうせんちゅうさつぐん) Chosen-Chusatsugun?), và tiếp tục được đổi tên thành Triều Tiên quân (朝鮮軍 (ちょうせんぐん) Chōsen-gun?) vào ngày 1 tháng 6 năm 1918. Trụ sở ban đầu được đặt tại Hán Thành (Hanseong), nhưng vào ngày 1 tháng 10 năm 1908, nó được chuyển đến vùng ngoại ô Yongsan, tỉnh Keijō (nay là quận Long Sơn, Seoul). Nhiệm vụ chính của Triều Tiên quân là bảo vệ bán đảo Triều Tiên trước các cuộc xâm lược có thể xảy ra từ Liên Xô, tuy nhiên, quân đoàn này cũng được sử dụng để trấn áp các cuộc nổi dậy của những người theo chủ nghĩa dân tộc và bất đồng chính kiến trong chính Triều Tiên. Triều Tiên quân cũng đã hỗ trợ Đạo quân Quan Đông trong cuộc xâm lược Mãn Châu vào năm 1931.

Các giả thuyết lịch sử cho rằng trong khi Itagaki Seishiro là chỉ huy của từ ngày 7 tháng 7 năm 1939 đến ngày 7 tháng 4 năm 1945, Nhật Bản bắt đầu chương trình vũ khí hạt nhân của mình với khu phức hợp Konan gần hồ Trường Tân (nay là Hungnam Bắc Triều Tiên) do tập đoàn Noguchi xây dựng, tương đương với phòng thí nghiệm Oak Ridge trong dự án Mahattan của Hoa Kỳ.[1] Tuy nhiên, hầu hết các nhà sử học chính thống vẫn hoài nghi vì thiếu bằng chứng vật lý trực tiếp và tin rằng chương trình của Nhật vẫn còn ở quy mô phòng thí nghiệm nhỏ so với dự án Manhattan của Mỹ. Cả Itagaki và Tsuji Masanobu (辻 政信) đều không ủng hộ hòa bình giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng như việc Nhật Bản tấn công Liên Xô cùng với Đức Quốc xã trong Chiến dịch Barbarosa.[2] Điều này có thể đã làm thay đổi lịch sử thế giới. Tsuji đã lên kế hoạch ám sát Konoe Fumimaro nếu Konoe để Nhật Bản tấn công Liên Xô trong chiến dịch Barbarossa và duy trì hòa bình với Hoa Kỳ.[3]

Năm 1945, khi tình hình Chiến tranh Thái Bình Dương ngày càng trở nên bất lợi cho Nhật Bản, Triều Tiên quân được chuyển thành Phương diện quân số 17 và được đặt dưới sự chỉ huy của đạo quân Quan Đông. Hai sư đoàn bộ binh không đủ quân đã không thể chống lại cuộc tấn công đổ bộ khổng lồ và thiết giáp quy mô lớn của Hồng quân Liên Xô vào Triều Tiên trong cuộc xâm lược Mãn Châu của Liên Xô. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Quân đội phía nam vĩ tuyến 38 vẫn được trang bị vũ khí dưới quyền chỉ huy tác chiến của Quân đội Hoa Kỳ để duy trì trật tự cho đến khi các lực lượng đồng minh nắm quyền kiểm soát.

Danh sách chỉ huy

Tư lệnh

Tên Từ Đến
1 Trung tướng Kensai Haraguchi 11 tháng 3 năm 1904 8 tháng 9 năm 1904
2 Nguyên soái Yoshimichi Hasegawa 8 tháng 9 năm 1904 21 tháng 12 năm 1908
3 Đại tướng Haruno Okubo 21 tháng 12 năm 1908 18 tháng 8 năm 1911
4 Đại tướng Arisawa Ueda 18 tháng 8 năm 1911 14 tháng 1 năm 1912
5 Đại tướng Sadayoshi Ando 14 tháng 1 năm 1912 25 tháng 1 năm 1915
6 Đại tướng Seigo Inokuchi 25 tháng 1 năm 1915 18 tháng 8 năm 1916
7 Đại tướng Yoshifuru Akiyama 18 tháng 8 năm 1916 6 tháng 8 năm 1917
8 Đại tướngSatoshi Matsukawa 6 tháng 8 năm 1917 24 tháng 7 năm 1918
9 Đại tướng Heitaro Utsunomiya 24 tháng 7 năm 1918 16 tháng 8 năm 1920
10 Trung tướng Jiro Oba 16 tháng 8 năm 1920 24 tháng 11 năm 1922
11 Đại tướng Shinnosuke Kikuchi 24 tháng 11 năm 1922 20 tháng 8 năm 1924
12 Đại tướng Soroku Suzuki 20 tháng 8 năm 1924 2 tháng 3 năm 1926
13 Đại tướng Shusei Morioka 2 tháng 3 năm 1926 5 tháng 3 năm 1927
14 Đại tướng Hanzo Kanaya 5 tháng 3 năm 1927 1 tháng 8 năm 1929
15 Đại tướng Jirō Minami 1 tháng 8 năm 1929 22 tháng 11 năm 1930
16 Trung tướng Senjuro Hayashi 22 tháng 11 năm 1930 26 tháng 5 năm 1932
17 Đại tướng Yoshiyuki Kawashima 22 tháng 11 năm 1930 26 tháng năm 1932
18 Đại tướng Kenkichi Ueda 1 tháng 8 năm 1934 2 tháng 12 năm 1935
19 Đại tướng Kuniaki Koiso 2 tháng 12 năm 1935 15 tháng 7 năm 1938
20 Đại tướng Kotaro Nakamura 15 tháng 7 năm 1938 7 tháng 7 năm 1941
21 Đại tướng Seishirō Itagaki 7 tháng 7 năm 1941 7 tháng 4 năm 1945
22 Trung tướng Yoshio Kozuki 7 tháng 4 năm 1945 tháng 9 năm 1945

Tham mưu trưởng

Tên Từ Đến
1 Trung tướng Rikisaburo Saito 19 tháng 3 năm 1904 12 tháng 9 năm 1904
2 Trung tướng Toyosaburo Ochiai 12 tháng 9 năm 1904 7 tháng 4 năm 1905
3 Đại tướng Kikuzuo Otani 7 tháng 4 năm 1905 1 tháng 6 năm 1906
4 Trung tướng Takashi Muta 1 tháng 6 năm 1906 21 tháng 12 năm 1908
5 Đại tướng Jiro Akashi 21 tháng 12 năm 1908 15 tháng 6 năm 1910
6 Trung tướng Shozo Sakakibara 15 tháng 6 năm 1910 30 tháng 11 năm 1910
7 Đại tướng Katsusaburo Shiba 30 tháng 11 năm 1910 28 tháng 9 năm 1912
8 Đại tướng Koichiro Tachibana 28 tháng 9 năm 1912 17 tháng 4 năm 1914
9 Trung tướng Gencho Furumi 17 tháng 4 năm 1914 1 tháng 4 năm 1916
10 Trung tướng Tan Shirozu 1 tháng 4 năm 1916 6 tháng 8 năm 1917
11 Trung tướng Kentaro Ichikawa 6 tháng 8 năm 1917 1 tháng 11 năm 1918
12 Thiếu tướng Toyoshi Ono 1 tháng 11 năm 1918 20 tháng 7 năm 1921
13 Thiếu tướng Kinichi Yasumitsu 20 tháng 7 năm 1921 6 tháng 8 năm 1923
14 Thiếu tướng Harumi Akai 6 tháng 8 năm 1923 2 tháng 3 năm 1926
15 Trung tướng Senyuki Hayashi 2 tháng 3 năm 1926 26 tháng 8 năm 1927
16 Nguyên soái Bá tước Hisaichi Terauchi 26 tháng 8 năm 1927 1 tháng 8 năm 1929
17 Trung tướng Kotaro Nakamura 1 tháng 8 năm 1929 22 tháng 12 năm 1930
18 Đại tướng Tomou Kodama 22 tháng 12 năm 1930 1 tháng 8 năm 1933
19 Thiếu tướng Keikichi Ogushi 1 tháng 8 năm 1933 2 tháng 12 năm 1935
20 Thiếu tướng Yoshishige Saeda 2 tháng 12 năm 1935 1 tháng 12 năm 1936
21 Trung tướng Seiichi Kuno 1 tháng 12 năm 1936 1 tháng 3 năm 1938
22 Trung tướng Kenzo Kitano 1 tháng 3 năm 1938 7 tháng 9 năm 1939
23 Trung tướng Yakutaira Kato 7 tháng 9 năm 1939 1 tháng 3 năm 1941
24 Trung tướng Hiroshi Takahashi 1 tháng 3 năm 1941 9 tháng 7 năm 1942
25 Trung tướng Junjiro Ihara 9 tháng 7 năm 1942 tháng 9 năm 1945

Biên chế

Năm 1921 (năm Đại Chính thứ 10)

  • Bộ tư lệnh Triều Tiên quân
    • Sư đoàn 19 (第19師団 (だいじゅうくしだん) (Đệ thập cửu sư đoàn) Dai 19 shidan?)
    • Sư đoàn 20 (第20師団 (だいにじゅうしだん) (Đệ nhị thập sư đoàn) Dai 20 shidan?)
    • Bộ tư lệnh pháo đài Vĩnh Hưng Loan (永興湾 要塞 (えいこうわんようさい) (Vĩnh Hưng Loan Yếu Tắc) Eikōwan yōsai?)
    • Bộ tư lệnh pháo đài Phủ Sơn (釜山 要塞 (ふざんようさい) (Phủ Sơn Yếu Tắc) Fuzan yōsai?)
    • Triều Tiên hiến binh đội (朝鮮 憲兵隊 Chōsen kenpeitai?)

Năm 1941 (năm Chiêu Hòa thứ 16)

Tham khảo

  1. ^ Robert K., Wilcox (ngày 10 tháng 12 năm 2019). Chiến tranh mật của Nhật Bản: Làm thế nào Nhật Bản tự chạy đua để chế tạo bom nguyên tử cung cấp nền tảng cho chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Permuted Press (tái bản lần thứ ba). ISBN 978-1682618967.
  2. ^ Goldman, Stuart D. (ngày 28 tháng 8 năm 2012). "Cuộc chiến tranh Xô-Nhật bị lãng quên năm 1939: Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1939, Liên Xô và Nhật Bản đã tiến hành một cuộc chiến không tuyên bố với hơn 100.000 quân". Nhà ngoại giao. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2020.
  3. ^ Budge, Kent G. Tsuji Masanobu (1901-1961?). Trang web bách khoa toàn thư trực tuyến về Chiến tranh Thái Bình Dương. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2020.
  4. ^ "●日米交渉当時の日本陸軍の部隊編成" [Biên chế của quân đội Nhật Bản vào thời điểm đàm phán giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ]. Quốc Lập Công Văn Thư Quán, Trung tâm Lịch sử Châu Á (国立公文書館 アジア歴史センター). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2023.