Đông Quốc Duy
Đông Quốc Duy (chữ Hán: 佟国维, Möllendorff: tung guwe wei, 1643 - 1719), Đông Giai thị[1], là một đại thần, tướng lĩnh và ngoại thích triều Thanh.
| Đông Quốc Duy 佟国维 | |
|---|---|
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1643 |
| Mất | 1719 |
| Phối ngẫu | Hách Xá Lý thị |
| Hậu duệ | Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu Khác Huệ Hoàng quý phi Long Khoa Đa |
| Thân phụ | Đông Đồ Lại (佟图赖) |
Ông vừa là thúc phụ, vừa là nhạc phụ của Khang Hi Đế, còn có anh trai và em trai là trọng thần dưới hai triều Khang Ung, quyền lực của ông khuynh đảo cả triều đình, khiến gia tộc ông được người đời gọi bằng danh xưng [Đông bán triều; 佟半朝][2].
Tiểu sử
Xuất thân
Đông Quốc Duy xuất thân từ dòng họ Đông Giai thị thuộc Hán Quân Tương Hoàng kỳ, sau cải về Mãn Châu Bát kỳ. Có nhiều hiểu lầm rằng gia quyến của ông vốn là người Hán, sau được ban đài kỳ mới trở thành quý tộc Mãn Châu như sách sử ghi chép; thực tế thì ông vốn là người Mãn, nhưng khi sơ kì nhập quan lại bị phân thành thuộc Hán Quân Tương Hoàng kỳ, về sau mới đổi về Mãn Châu Tương Hoàng kỳ. Thời nhà Nguyên, có một tộc Đông Giai thị cư trú ở hạ du sông Tùng Hoa, vùng hồ Y Lan có Hồ Lý Cải vạn hộ phủ (胡里改万户府), Oát Đóa Lý vạn hộ phủ (斡朵里万户府), chủ yếu là người Nữ Chân, trong đó có thủy tổ Đông Giai.
Tổ phụ Đông Dưỡng Chân (佟养真) những năm Hậu Kim quy phục Nỗ Nhĩ Cáp Xích, thụ [Tam đẳng Khinh xa đô úy; 三等轻车都尉], về sau bị nhà Minh bắt giữ và xử tử[3] nên được liệt vào công lớn, con cháu cũng được trọng dụng. Thân phụ Đông Đồ Lại (佟图赖) qua đời vào năm Thuận Trị thứ 15, làm quan đến chức Lễ bộ Thị lang kiêm Thái tử Thái bảo, khi mất tặng Thái tử Thiếu bảo, thụy hiệu Cần Tương (勤襄). Ông có một anh trai là Đông Quốc Cương (佟國綱) đảm nhiệm Nội đại thần, là trọng thần trứ danh thời Thanh sơ; một chị gái chính là Từ Hòa Hoàng thái hậu[4], sinh mẫu của Khang Hi Đế.
Hành trạng
Những năm Thuận Trị, ông đảm nhiệm Nhất đẳng Thị vệ. Năm Khang Hi thứ 9 (1670), nhậm Nội đại thần, đến năm thứ 11 (1672) lại thăng Lãnh thị vệ Nội đại thần kiêm Nghị chính đại thần. Năm Khang Hi thứ 15 (1676), trưởng nữ của ông cùng Hiếu Chiêu Nhân Hoàng hậu nhập cung, đều nhận đãi ngộ tước Phi.
Năm Khang Hi thứ 28 (1689), trưởng nữ của ông khi ấy đang ở tước vị Hoàng quý phi lâm trọng bệnh, Khang Hi Đế vì muốn xung hỉ nên sách lập Hoàng hậu, ngày sau thì băng thệ. Cùng năm, ngày 22 tháng 7, Khang Hi Đế ra chỉ phong ông làm [Nhất đẳng Công; 一等公], cấp cho Cáo mệnh, cho dòng họ Đông thị nhánh Đông Quốc Duy được thừa kế tước vị truyền đời[5]. Ước chừng khoảng thời gian này, thứ nữ của ông cùng Tuyên phi Bác Nhĩ Tế Cẩm thị nhập cung, cũng được nhận đãi ngộ tước Phi.
Ông qua đời năm Khang Hi thứ 58 (1719), hưởng thọ 76 tuổi. Năm Ung Chính nguyên niên (1723), tặng hàm Thái phó, thụy Đoan Thuần (端纯).
Gia quyến
- Tổ phụ: Đông Dưỡng Chân (佟养真)
- Thân phụ: Đông Đồ Lại (佟图赖)
- Anh: Đông Quốc Cương (佟國綱, 1630 - 1690), đảm nhiệm Nội đại thần, hy sinh trong chiến dịch bình định Nội Mông, được phối hưởng công thần miếu[6]. Con trai là Ngạc Luân Đại (鄂伦岱) tập tước Nhất đẳng Công kiêm Lĩnh thị vệ Nội đại thần, do ủng hộ Dận Tự nên về sau bị Ung Chính xử tử.
- Chị: Từ Hòa Hoàng thái hậu, phi tần của Thuận Trị Đế, sinh mẫu của Khang Hi Đế.
- Thê tử: Hách Xá Lý thị (赫舍里氏), người trong tộc của Hiếu Thành Nhân Hoàng hậu.
Hậu duệ
- Trưởng tử Diệp Khắc Thư (葉克書), nhậm đến Loan nghi sứ.
- Thuấn An Nhan (舜安顏, ? - 1724), thụ Phò mã Đô úy, nghênh giá Cố Luân Ôn Hiến công chúa - con gái Khang Hi Đế.
- Nguyên Phương (元勞), lấy Huyện chúa, con gái Trang Khác Thân vương Dận Lộc.
- Thuấn An Nhan (舜安顏, ? - 1724), thụ Phò mã Đô úy, nghênh giá Cố Luân Ôn Hiến công chúa - con gái Khang Hi Đế.
- Nhị tử Đức Khắc Tân (德克新), nhậm Tam đẳng Thị vệ.
- Tam tử Long Khoa Đa, trọng thần hai triều Khang - Ung.
- Tứ tử Hồng Thiện (洪善).
- Ngũ tử Khánh Nguyên (慶元).
- Lục tử Khánh Phục (慶復, ? - 1747), từng nhậm Đô thống, được Ung Chính Đế cử đi đàm phán với Nga, sau thăng đến Nghị chính đại thần, Lễ bộ Thượng thư, Lưỡng Quảng, Vân Quý Tổng đốc, Văn Hoa điện Đại học sĩ, là một trọng thần dưới thời Ung Chính và Càn Long. Do sai sót trong lúc bình định người Miêu ở Vân Nam nên bị cắt hết chức tước, về sau bị ép tự sát tại phủ đệ.
- Thất tử Khánh Hằng (慶恆).
- Bát tử Khánh Thái (慶泰), nhậm Hộ quân Thống lĩnh, giỏi hội họa thơ ca. Vợ là Phu nhân Hách Xá Lý thị (赫舍里氏) xuất thân Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, con gái Công bộ Thượng thư Hách Dịch (赫奕).
- Trưởng nữ, tức Hiếu Ý Nhân Hoàng hậu, Hoàng hậu của Khang Hi Đế.
- Nhị nữ, tức Khác Huệ Hoàng quý phi, phi tần của Khang Hi Đế.
- Thứ nữ, gả cho Nhan Châu (颜珠), con trai Át Tất Long.
Chú thích
- ^ 佟国维,故宫博物院资料 (PDF). 故宫博物院. [2018-04-06]. (原始内容存档 (PDF)于2016-12-01).
- ^ 欽定八旗通志 (四庫全書本)/卷135 - 维基文库,自由的图书馆. zh.wikisource.org. [2020-04-18]. (原始内容存档于2020-10-20).
- ^ 《大明熹宗实录》卷15天启元年十月:“癸巳……辽东叛将佟养真、佟丰年、佟三、何国用等伏诛,仍与病故叛生胡可宾传首辽东。养真,即逆贼养性兄,与其子丰年,侄三以抚顺陷时降奴,伪受游击,代守镇江,为毛文龙所缚,而国用等皆伪岛官也。”
- ^ 清实录康熙朝实录-卷之七 "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2026.: 康熙元年。壬寅。八月。庚午。谕礼部、朕惟君国之道、必崇夫孝理。化民之务、首重乎尊亲。钦惟我圣祖母昭圣慈寿恭简安懿章庆皇太后、仁承天德。顺协坤仪。佐皇祖太宗文皇帝、肇建丕基。启皇考世祖章皇帝、宅中定鼎。朕缵荷鸿图。恭承懿训。仰惟恩德、爱戴弥殷。母后皇后、懋昭淑配。克嗣徽音。表正六宫。母仪四海。母后、温恭慈惠。诞育眇躬。圣善之德并隆、尊显之仪宜备。粤稽古制。询于佥谋。尊上圣祖母皇太后尊号曰、昭圣慈寿恭简安懿章庆敦惠太皇太后。母后皇后尊号曰、仁宪皇太后。母后尊号曰、慈和皇太后。尔部即择吉以闻。次至慈和皇太后宫。进献册宝、上奏、如前仪。册文曰、德弘祚胤、启万年显世之符。礼重徽称、合四海尊亲之戴。喜谐禁籞。庆溢寰区。钦惟母后、仁承乾始。道合坤贞。秉淑范而襄内治、化洽宫庭。诞眇躬而缵鸿图、恩深顾复。仰慈仁之备至、宜尊养之兼隆。载考彝章、晋崇鸿号。谨告天地、宗庙、社稷。率诸王、贝勒、文武群臣、恭奉册宝、上徽号曰、慈和皇太后。伏愿嘉祥骈集、茂祉愈增。昭令闻而卜世卜年、迓休徵而弥昌弥炽。宝文曰、慈和皇太后之宝。进献毕。上还宫
- ^ 《清圣祖仁皇帝实录》:(二十二日)丙辰。绎祭大行皇后。上亲临举哀;二十六日庚申,谕吏部、自古帝王、抚驭寰区、端赖宫闱之助。惟后德之贤淑、王化本源系焉。内治綦重、典礼宜隆。爰考历代、册立中宫、推恩所生、锡之封爵。载在彝常、其来旧矣。惟大行皇后惟秉柔嘉。心存恪慎。溥宽仁而逮下。崇节俭以持躬。奉事重闱、克抒诚孝。抚育众子、均被恩勤。方作配于朕躬、冀永资夫壸教。忽尔崩逝、殊悼朕怀。礼已备乎荣哀、恩未加于戚畹。内大臣舅舅佟国维、乃大行皇后之父也。勋旧懿亲。忠贞世笃。劳勋夙昭乎环卫。谋谟允赞乎岩廊。兹奉皇太后慈谕、大行皇后诞秀名宗。丕彰令范。懿徽遽谢、悲怛滋殷。思后德之流芳、洵良臣之毓庆。宜加峻秩、以协典章。朕恪遵慈命、特锡殊恩。佟国维、著封为一等公。给与诰命。世袭罔替。
- ^ 载《钦定八旗通志:八旗祀典二》卷82