Bản mẫu:Nhiều vấn đề Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam

Đắk Lắk là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Việt Nam, có diện tích tự nhiên lớn thứ ba Việt Nam.

Tên gọi

Theo các nhà nghiên cứu, Đắk Lắk [daːk laːk] bắt nguồn từ tiếng M'Nông (phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với dak nghĩa là "nước" hoặc "hồ". Từ dak này, cũng giống như các từ có âm "đạ" (Đạ Tẻh), "đà" (Đà Lạt, Đà Nẵng). Đa/đạ/đà là âm của một từ có nghĩa là "nước, nguồn nước, sông" của vùng người dân tộc sinh sống.[1]

Địa lý

Vị trí địa lý

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Srêpốk và một phần của sông Ba, có vị trí địa lý:

Độ cao trung bình 400 – 800 m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk Lắk.

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia tách và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (tỉnh Đắk Lắk) và xã Tây Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) nằm trong diện tranh chấp để phân định địa giới hành chính giữa 2 tỉnh.[3]

Điều kiện tự nhiên

Tập tin:Easo.JPG
Suối trong rừng Ea So
Tập tin:Madrak02.JPG
Thác Dray K'nao ở M'Drak

Đắk Lắk mới có địa hình đa dạng được phân chia bởi dãy Trường Sơn như sau:

  • Phần phía Tây và trung tâm tỉnh (thuộc khu vực tỉnh Đắk Lắk cũ và phía Tây tỉnh Phú Yên cũ trước đây) có địa hình có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là 1 cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính. Khí hậu của khu vực được chia thành 2 tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam của khu vực có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió Tây Nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa trong năm. Riêng vùng núi trung tâm tỉnh do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông Bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng.[4] Lượng mưa trung bình nhiều năm tại khu vực phía Tây đạt từ 1600–1800 mm.
  • Phần phía Đông dãy Trường Sơn (thuộc khu vực tỉnh Phú Yên cũ) có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn đông của dãy Trường Sơn, và phía Đông là biển Đông. Chính giữa các dãy núi kể trên là khu vực đồng bằng Tuy Hòa - nơi có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua - được xem là vựa lúa của miền Trung. Khí hậu của phần phía Đông tỉnh chủ yếu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,5 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm.

Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất cả nước[2] với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học, phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn. Khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng, phosphor, than bùn, đá quý... có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.[5] Ngoài ra khu vực phía Đông (thuộc Phú Yên cũ) có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite (90 triệu m3), đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn)

Đối với khu vực phía Tây, hệ thống sông suối khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô. Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea So...[5]. Đối với khu vực phía Đông, có hệ thống Sông Đà Rằng, Sông Bàn Thạch, Sông Kỳ Lộ chảy qua với tổng diện tích lưu vực là 16.400 km², tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3, đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt.

Lịch sử

Giai đoạn trước khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị (đầu thế kỷ XIX – 1899)[6]

Tập tin:Nguyen Dynasty, administrative divisions map (1838).svg

Ghi chép những sự kiện quá khứ xa xưa về vùng đất Tây Nguyên, sách Đại Nam thực lục viết rõ: Thủy Xá, Hỏa Xá "ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy ở phía đông núi, vua Hỏa ở phía tây núi"; chi tiết hơn, sách thuật lại rằng: "Buổi quốc sơ, vì cớ họ giáp với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa vật phẩm địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến", điều này thể hiện mối quan hệ bang giao giữa vùng Tây Nguyên với người Kinh được diễn ra một cách tự nhiên, tự nguyện. Sau khi đánh tan quân Chiêm Thành, triều đình nhà Lê ban hành một số chính sách nhằm duy trì mối quan hệ với các dân tộc nơi đây, đồng thời thực hiện di dân, lập ấp ở miền núi, thúc đẩy giao thương; tiến cử các vị tù trưởng, tộc trưởng từng vùng đất và tấn phong cho vua Thủy Xá, Hỏa Xá; tạo "vùng đệm" ngăn cách Đại Việt với Chăm-pa, ổn định vùng biên giới phía Nam.

Đến thời kỳ trị vì của triều Nguyễn, địa bàn Tây Nguyên - Đắk Lắk được gọi là "trấn Man" do triều Nguyễn gián tiếp quản lý. Nhận thấy vị trí trọng yếu về chính trị, quân sự vùng đất này (nằm giữa nước Việt Nam - Đại Nam với Lào, Cao Miên, Xiêm La, các vua nhà Nguyễn (nhất là Gia Long, Minh Mạng, Thiệu TrịTự Đức,...) thường xuyên cử sứ bộ đi lại giữa hai nước, lập đồn, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm. Như vậy, vùng đất Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng từ lâu đã được định hình trong tâm thức người Việt, vai trò nơi đây đối với bảo đảm an ninh nước Đại Việt cũng được khẳng định, nhìn nhận từ sớm. Tuy nhiên, thời bấy giờ, đây vẫn là địa bàn xa lạ, có phần bí hiểm với người Kinh, ít ai có điều kiện lui tới bởi sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, lối sống,... Đến năm 1867, thực dân Pháp tổ chức các đoàn thám hiểm tìm cách xâm nhập sâu vào nội địa vùng Tây Nguyên; năm 1899, Pháp ép vua Đồng Khánh trao quyền quản lý trực tiếp nhằm tiến hành chia để trị nơi đây và bắt đầu thực hiện các chính sách thực dân.[7]

Thời kỳ Pháp thuộc và quá trình hình thành tỉnh Đắk Lắk (1899–1945)

Từ cuối thế kỷ XIX, Tây Nguyên trở thành vùng đất thuộc quyền cai trị trực tiếp của thực dân Pháp. Ngày 31 tháng 01 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập cơ sở hành chính tại Bản Đôn (trực thuộc Lào). Ngày 02 tháng 11 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương tiếp tục ra Nghị định thành lập Đại lý hành chính Đắk Lắk, đặt trụ sở tại Buôn Ma Thuột, cũng trực thuộc Lào.

Tập tin:Province de Darlac (1909).jpg
Bản đồ tỉnh Darlac năm 1909 (bấy giờ địa bàn bao gồm cả một phần các tỉnh Gia Lai và Lâm Đồng ngày nay)

Trước phong trào đấu tranh bền bỉ của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên và sức ép từ triều đình nhà Nguyễn, ngày 22 tháng 11 năm 1904, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập tỉnh Đắk Lắk (ghi theo tiếng Pháp là Darlac). Từ đây, Đắk Lắk chính thức trở thành một trong 20 tỉnh Trung Kỳ và là một trong 73 tỉnh, thành phố của Việt Nam thời Pháp thuộc.

Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, nhiều công sứ Pháp đã lần lượt cai quản tỉnh Đắk Lắk, tiêu biểu như:

Leon Bourgeois (1899–1904)[8], Charles J. Bardin (1904–1905), Henri Besnard (1905–1909)[9], Antoine G. Groslier (1909–1912), Louis Cottez (1912–1913), Leopold Sabatier (1913–1925)[10][11], Paul E. Giran (1925–1931)[12], Desteney (1931–1934)[13], Henri Gerbinis (1935–1938)[14].

Ngày 09 tháng 02 năm 1913, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Kon Tum[11], trong đó Đại lý Đắk Lắk bị sáp nhập và trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum. Đến ngày 02 tháng 7 năm 1923, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định tách Đắk Lắk khỏi tỉnh Kon Tum để tái lập tỉnh Đắk Lắk độc lập.

Khi mới tái lập, tỉnh Đắk Lắk chưa được chia thành các đơn vị hành chính cấp huyện hay tổng, mà chỉ gồm các đơn vị làng (buôn, bon). Trong đó, người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'Dhur có 120 làng, người M'Nông có 117 làng và người Xiêm có 1 làng.

Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia thành 5 quận gồm: Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đắk Song, Lắk và M'Đrắk, với tổng cộng 440 làng. Ngày 09 tháng 4 năm 1934, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị định chia tỉnh thành 24 tổng. Theo số liệu năm 1936, tỉnh Đắk Lắk có diện tích khoảng 21.300 km², dân số 106.000 người, gồm 30 tổng và 576 xã.

Ngày 06 tháng 01 năm 1942, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị định số 3268, điều chỉnh lại đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk, gồm 3 quận (Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Lắk) và 2 đại lý (M'Đrắk, Đắk Dam).

Giai đoạn 1945–1975

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Về mặt hành chính, tỉnh Đắk Lắk thuộc Trung Bộ và sau đó được đặt dưới sự quản lý của Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ để phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tập tin:Southvietmap.jpg
Bản đồ hành chính năm 1967 cho biết địa giới tỉnh Darlac của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 15 tháng 4 năm 1950, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ số 6, đặt Cao nguyên Trung phần - trong đó có Đắk Lắk - thành Hoàng triều Cương thổ, áp dụng chế độ cai trị riêng.

Ngày 02 tháng 7 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ, ấn định tỉnh Đắk Lắk (Darlac) gồm 5 quận, 21 tổng và 77 xã. Ngày 23 tháng 01 năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách gần như toàn bộ quận Đắk Song để thành lập tỉnh Quảng Đức, khiến tỉnh Darlac chỉ còn 4 quận. Sau đó, quận M'Đrắk tiếp tục bị chia tách, một phần sáp nhập vào tỉnh Khánh Hòa, một phần vào tỉnh Phú Yên.

Tháng 12 năm 1960, Chính phủ Cách mạng chính thức thành lập tỉnh Quảng Đức, lấy mật danh là B4. Ngày 20 tháng 12 năm 1963, thành lập thêm quận Phước An; đến năm 1965 bãi bỏ cấp tổng, hệ thống hành chính chỉ còn cấp quận và xã.

Theo số liệu năm 1967, dân số tỉnh Darlac là 157.534 người, trong đó Quận Ban Mê Thuột có 95.664 người; Buôn Hồ 31.527 người; Lạc Thiện 19.456 người; Phước An 10.887 người.

Tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức được sáp nhập trở lại vào tỉnh Đắk Lắk. Khi đó, tỉnh Đắk Lắk gồm Buôn Ma Thuột và 6 huyện: Đắk Mil, Đắk Nông, Krông Búk, Krông Pắc, Lắk và Buôn Hồ.

Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay

Ngày 30 tháng 8 năm 1977, huyện Krông Búk được chia thành huyện Krông Búk và huyện Ea Súp; huyện Krông Pắc được chia thành huyện Krông Pắc và huyện M'Drắk.[15]

Ngày 3 tháng 4 năm 1980, tiếp tục chia huyện Krông Búk để thành lập huyện Ea H'leo, phần còn lại là huyện Krông Búk.[16]

Ngày 19 tháng 9 năm 1981, thành lập huyện Krông Ana trên cơ sở tách một phần diện tích của huyện Krông Pắc và Buôn Ma Thuột; đồng thời chia huyện Krông Pắc thành huyện Krông Pắc và huyện Krông Bông.[17]

Ngày 23 tháng 1 năm 1984, huyện Ea Súp được chia thành huyện Ea Súp và huyện Cư M'gar.[18]

Ngày 22 tháng 2 năm 1986, chia huyện Đắk Nông thành huyện Đắk Nông và huyện Đắk R'lấp.[19]

Ngày 13 tháng 9 năm 1986, thành lập huyện Ea Kar trên cơ sở tách diện tích của huyện Krông Pắc và huyện M'Drắk.[20]

Ngày 9 tháng 11 năm 1987, huyện Krông Búk được chia thành huyện Krông Búk và huyện Krông Năng; đồng thời thành lập huyện Krông Nô trên cơ sở tách một số xã thuộc các huyện Đắk Mil, Đắk Nông và Lắk.

Ngày 19 tháng 6 năm 1990, thành lập huyện Cư Jút trên cơ sở tách một phần diện tích của huyện Đắk Mil và Buôn Ma Thuột.[21]

Ngày 21 tháng 1 năm 1995, Buôn Ma Thuột được chuyển từ đơn vị hành chính cấp thị xã lên thành phố Buôn Ma Thuột.[22]

Ngày 7 tháng 10 năm 1995, chia huyện Ea Súp để thành lập huyện Buôn Đôn, phần còn lại là huyện Ea Súp.[23]

Ngày 21 tháng 6 năm 2001, thành lập huyện Đắk Song trên cơ sở tách diện tích của huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil.[24]

Đến cuối năm 2002, tỉnh Đắk Lắk có diện tích 19.576,4 km², dân số 2.029.972 người, đơn vị hành chính gồm thành phố Buôn Ma Thuột và 18 huyện: Buôn Đôn, Cư Jút, Cư M'gar, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'lấp, Đắk Song, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Nô, Krông Pắc, Lắk và M'Drắk.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 22/2003/QH11[25], chia tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Sau khi chia tách:

Ngày 28 tháng 2 năm 2005, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại II.[26]

Ngày 27 tháng 8 năm 2007, huyện Krông Ana được chia thành huyện Krông Ana và huyện Cư Kuin.[27]

Ngày 23 tháng 12 năm 2008, thành lập Buôn Hồ trên cơ sở tách từ huyện Krông Búk[28]. Từ thời điểm này đến hết ngày 11 tháng 6 năm 2025, tỉnh Đắk Lắk có 1 thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh lị), 1 thị xã Buôn Hồ và 13 huyện: Buôn Đôn, Cư Kuin, Cư M'gar, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắc, Lắk, M'Drắk.

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.[29]

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[30] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk được sắp xếp để thành lập tỉnh Đắk Lắk mới. Sau sắp xếp, tỉnh Đắk Lắk có diện tích 18.096,40 km² và quy mô dân số 3.346.853 người[31].

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013, toàn bộ các đơn vị hành chính cấp huyện tại tỉnh Đắk Lắk được giải thể. Cùng ngày, theo nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Đắk Lắk có 102 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 14 phường và 88 xã.[32][33]

Hành chính

Tỉnh Đắk Lắk có 102 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 14 phường và 88 .[34]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đắk Lắk[35]
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phường (14)
Bình Kiến 73,71 44.406
Buôn Hồ 66,54 62.780
Buôn Ma Thuột 71,99 169.596
Cư Bao 104,94 36.911
Đông Hòa 77,54 47.632
Ea Kao 60,70 57.070
Hòa Hiệp 40,81 53.597
Phú Yên 44,04 61.799
Sông Cầu 90,49 38.891
Tân An 56,41 64.122
Tân Lập 46,70 73.316
Thành Nhất 32,22 52.466
Tuy Hòa 33,77 126.118
Xuân Đài 13,40 21.574
Xã (88)
Buôn Đôn 1.113,79 6.582
Cuôr Đăng 102,84 28.804
Cư M'gar 114,98 32.368
Cư M'ta 261,06 13.592
Cư Pơng 137,81 17.687
Cư Prao 204,89 13.765
Cư Pui 314,08 27.561
Cư Yang 149,43 16.682
Dang Kang 105,91 21.301
Dliê Ya 179,73 46.569
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Dray Bhăng 101,37 39.801
Dur Kmăl 114,49 12.594
Đắk Liêng 135,55 22.881
Đắk Phơi 266,83 14.726
Đồng Xuân 206,26 26.907
Đức Bình 160,36 15.896
Ea Bá 131,79 8.316
Ea Bung 390,08 9.677
Ea Drăng 171,34 54.475
Ea Drông 111,13 23.951
Ea Hiao 361,69 30.796
Ea H'Lleo 340,06 15.625
Ea Kar 198,67 87.972
Ea Khăl 247,05 29.956
Ea Kiết 201,83 20.177
Ea Kly 107,63 40.161
Ea Knốp 448,65 37.016
Ea Knuếc 122,39 43.748
Ea Ktur 100,72 54.269
Ea Ly 140,35 12.104
Ea M'Droh 134,00 33.268
Ea Na 134,18 42.164
Ea Ning 86,21 34.175
Ea Nuôl 111,74 43.706
Ea Ô 137,73 23.852
Ea Păl 102,52 15.049
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Ea Phê 84,66 48.605
Ea Riêng 167,56 15.719
Ea Rốk 544,60 28.785
Ea Súp 418,72 30.762
Ea Trang 207,40 6.547
Ea Tul 159,51 34.876
Ea Wer 184,61 29.708
Ea Wy 213,94 28.567
Hòa Mỹ 190,14 26.530
Hòa Phú 109,07 48.822
Hòa Sơn 108,55 25.392
Hòa Thịnh 159,23 30.602
Hòa Xuân 129,33 22.962
Ia Lốp 194,09 6.502
Ia Rvê 217,83 6.847
Krông Ana 107,23 48.491
Krông Á 291,60 12.900
Krông Bông 166,03 23.168
Krông Búk 134,83 30.822
Krông Năng 98,34 43.678
Krông Nô 282,01 9.976
Krông Pắc 112,52 68.682
Liên Sơn Lắk 398,82 26.772
M'Drắk 151,87 22.808
Nam Ka 172,86 6.424
Ô Loan 103,48 40.278
Tên Diện tích
(km²)
Dân số
(người)
Phú Hòa 1 142,54 54.212
Phú Hòa 2 95,78 38.691
Phú Mỡ 547,20 9.007
Phú Xuân 140,74 34.836
Pơng Drang 85,03 30.208
Quảng Phú 111,34 61.104
Sông Hinh 460,13 23.841
Sơn Hòa 267,39 40.825
Sơn Thành 218,11 27.838
Suối Trai 186,95 11.387
Tam Giang 195,80 25.470
Tân Tiến 89,43 28.767
Tây Hòa 55,14 49.720
Tây Sơn 334,62 11.052
Tuy An Bắc 52,32 26.174
Tuy An Đông 46,05 40.108
Tuy An Nam 69,99 29.805
Tuy An Tây 136,20 12.913
Vân Hòa 151,47 6.661
Vụ Bổn 109,13 18.111
Xuân Cảnh 83,81 23.972
Xuân Lãnh 174,65 15.933
Xuân Lộc 114,01 27.609
Xuân Phước 102,81 16.197
Xuân Thọ 192,12 10.793
Yang Mao 562,38 16.970

Kinh tế - xã hội

Kinh tế

Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Đắk Lắk có diện tích: 18.096 km², xếp thứ 3; dân số: 3.346.853 người, xếp thứ 17; GRDP 2024: 198.132.950 triệu VNĐ, xếp thứ 21; thu ngân sách 2024: 14.095.836 triệu VNĐ, xếp thứ 25; thu nhập bình quân: 46,82 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 27.[36]

Giáo dục

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 53 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo.[37] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.[37]

Danh sách các trường Trung học Phổ thông

Stt Mã trường Tên trường Stt Mã trường Tên trường
1
001
Sở Giáo dục - Đào tạo Đắk Lắk
38
038
Trung học Phổ thông Lê Hữu Trác
2
002
Trung học Phổ thông Buôn Ma Thuột
39
039
Trung học Phổ thông Trần Nhân Tông
3
003
Trung học Phổ thông Chu Văn An
40
040
Trung học Phổ thông Lê Quý Đôn
4
004
Trung học Phổ thông Quang Trung
41
041
Trung tâm Giáo dục từ xa M'Drăk
5
005
Trung học Phổ thông Trần Phú
42
042
Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Kar
6
006
Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Nơ Trang Lơng
43
043
Trung học Phổ thông Huỳnh Thúc Kháng
7
007
Trung Tâm Giáo dục từ xa Đắk Lắk
44
044
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Bông
8
008
Trung học Phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm
45
045
Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Ma Thuột
9
009
Trung học Phổ thông Lê Hồng Phong
46
046
Trung học Phổ thông Hùng Vương
10
010
Trung học Phổ thông Buôn Hồ
47
047
Trung cấp dạy nghề Đắk Lắk
11
011
Trung học Phổ thông Cư M'Gar
48
048
Cao đẳng Nghề Thanh niên Dân tộc, Đắk Lắk
12
012
Trung học Phổ thông Krông Ana
49
049
Trung học Phổ thông Phú Xuân
13
013
Trung học Phổ thông Việt Đức
50
050
Trung học Phổ thông Phan Chu Trinh
14
014
Trung học Phổ thông Phan Bội Châu
51
051
Trung học Phổ thông Nguyễn Trường Tộ
15
015
Trung học Phổ thông Ngô Gia Tự
52
052
Trung học Phổ thông Lý Tự Trọng
16
016
Trung học Phổ thông Trần Quốc Toản
53
053
Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Đôn
17
017
Trung học Phổ thông Krông Bông
54
054
Trung tâm Giáo dục từ xa Ea Súp
18
018
Trung học Phổ thông Nguyễn Tất Thành
55
055
Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Đắk Lắk
19
019
Trung học Phổ thông Ea H'leo
56
056
Trường Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk
20
020
Trung học Phổ thông huyện Lăk
57
057
Trường Văn Hóa 3
21
021
Trung học Phổ thông Ea Sup
58
058
Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú Tây Nguyên
22
022
Trung học Phổ thông Hồng Đức (Buôn Ma Thuột)
59
059
Trung học Phổ thông Thực hành Cao Nguyên
23
023
Trung học Phổ thông Nguyễn Trãi
60
060
Trung học Phổ thông Nguyễn Huệ
24
024
Trung học Phổ thông Chuyên Nguyễn Du
61
061
Trung học Phổ thông Nguyễn Văn Cừ
25
025
Trung học Phổ thông Cao Bá Quát
62
062
Trung học Phổ thông Lê Duẩn
26
026
Trung học Phổ thông Phan Đình Phùng
63
063
Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai
27
027
Trung học Phổ thông Buôn Đôn
64
064
Trường năng khiếu Thể dục Thể thao
28
028
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Ana
65
065
Trung học Phổ thông Phan Đăng Lưu
29
029
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Pắk
66
066
Trung học Phổ thông Trường Chinh
30
030
Trung tâm Giáo dục từ xa Buôn Hồ
67
067
Trung học Phổ thông Trần Quang Khải
31
031
Trung tâm Giáo dục từ xa huyện Lăk
68
068
Trung học Phổ thông Nguyễn Thái Bình
32
032
Trung tâm Giáo dục từ xa Cư M'Gar
69
069
Trung học Phổ thông Trần Đại Nghĩa
33
033
Trung tâm Giáo dục từ xa Ea H'Leo
70
070
Trung tâm Giáo dục từ xa Cư Kuin
34
034
Trung tâm Giáo dục từ xa Krông Năng
71
071
Trung học Phổ thông Phạm Văn Đồng
35
035
Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng
72
072
Trung học Phổ thông Ea Rốk
36
036
Trung học Phổ thông Nguyễn Công Trứ
73
073
Trung học Phổ thông Trần Hưng Đạo
37
037
Trung học Phổ thông Y Jut

Trường Đại Học / Cao đẳng / Trung cấp

  • Trường Đại học Tây Nguyên
  • Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột
  • Phân hiệu Trường Đại học Đông Á tại Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
  • Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk
  • Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk
  • Trường Đại học Phú Yên
  • Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
  • Học viện Ngân hàng – Phân viện Phú Yên
  • Trường Cao đẳng Văn Hóa - Nghệ thuật Tỉnh Đắk Lắk
  • Trường Cao đẳng FPT Polytechnic - Cơ sở Tây Nguyên
  • Trường Cao đẳng Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên+Trường Cao đẳng Kỹ thuật Đắk Lắk+Trường Cao đẳng nghề Phú Yên)
  • Trường Cao đẳng Bách Khoa Tây Nguyên
  • Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk+Trường Cao đẳng Y tế Phú Yên)
  • Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Sư phạm Mầm non Đắk Lắk+Trường Cao đẳng Sư Phạm Đắk Lắk)
  • Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam - Cơ sở Đắk Lắk
  • Trường Cao đẳng Công Thương miền Trung
  • Trường Trung cấp Đắk Lắk (Sáp nhập Trường Trung cấp Đắk Lắk+Trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật Đắk Lắk)
  • Trường Trung cấp Trường Sơn
  • Trường Trung cấp Tây Nguyên

Dân cư

Bản mẫu:Lịch sử dân số

Tính đến ngày 31/12/2022, tỉnh Đắk Lắk có 13.070,41 km² diện tích tự nhiên, quy mô dân số 2.207.244 người.[38]

Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2024, dân số tỉnh Đắk Lắk tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2024 là 1.944.821 người.Lỗi chú thích: Tham số "ref" không hợp lệ trong thẻ <ref>. Các tham số được hỗ trợ là: dir, follow, group, name. dân số trung bình là 1.946.170 người,[39] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 983.600 người chiếm (50,54%),[39] dân số nữ ước tính đạt khoảng 962.560 người chiếm (49,46%),[39] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 507.790 người chiếm (26,09%),[39] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 1.438.380 người chiếm (73,91%),[39] với mật độ dân số là 148 người/km².[39]

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 18.096,40 km², quy mô dân số là 3.346.853 người, trong đó dân số thành thị ước tính đạt khoảng 910.278 người chiếm (27,2%), dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 2.436.575 người chiếm (72,8%), với mật độ dân số 184 người/km².[30][40][41]

Dân số trung bình tỉnh Đắk Lắk là 2.849.199 người,[42] tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: dân số nam 1.440.435 người, chiếm 50,56% tổng dân số, tăng 0,74%; dân số nữ 1.408.764 người, chiếm 49,44% tổng dân số, tăng 0,53%. Dân số khu vực thành thị là 778.923 người, chiếm 27,34% tổng dân số, tăng 0,77%; dân số khu vực nông thôn là 2.070.276 người, chiếm 72,66%, tăng 0,58% so với cùng kỳ năm trước.[43]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Đắk Lắk có 13 tôn giáo khác nhau chiếm 577.920 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo với 265.760 người, thứ 2 là Đạo Tin Lành với 181.670 người, thứ 3 là Phật giáo với 126.660, thứ 4 là Đạo Cao Đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo có 162 người, Hồi giáo có 65 người, Bửu sơn kỳ hương có 23 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 3 người, Bahá'í có 2 người, ít nhất là Minh Sư Đạo, Minh Lý ĐạoĐạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mỗi đạo có 1 người.[44]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ 2 là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ 3 là Người Nùng có 71.461 người, thứ 4 là Người Tày có 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người[44]...

Dân tộc Thành phần dân tộc tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên năm 2019.[45]
Đắk Lắk Phú Yên Tổng cộng
Dân số % Dân số % Dân số %
Toàn tỉnh 1.869.322 100% 872.964 100% 2.742.286 100%
Kinh 1.202.000 64,30% 812.830 93,11% 2.014.830 73,47%
Ê Đê 351.278 18,79% 25.225 2,89% 376.503 13,73%
Nùng 75.857 4,06% 2.283 0,26% 78.140 2,85%
Tày 53.124 2,84% 2.349 0,27% 55.473 2,02%
M'Nông 48.505 2,59% 9 / 48.514 1,77%
H'Mông 39.241 2,10% 192 / 39.433 1,44%
Gia Rai 20.495 1,10% 368 / 20.863 0,76%
Thái 19.709 1,05% 298 / 20.007 0,73%
Dao 17.479 0,94% 1.031 0,12% 18.510 0,67%
Mường 15.656 0,84% 231 / 15.887 0,58%
Xơ Đăng 9.818 0,53% 4 / 9.822 0,36%
Sán Chay 5.422 0,29% 27 / 5.449 0,20%
Ba Na 475 / 4.680 0,54% 5.155 0,19%
Bru–Vân Kiều 3.563 0,19% 0 / 3.563 0,13%
Hoa 2.842 0,15% 171 / 3.013 0,11%

Văn hóa

Tập tin:Bennuockodung.JPG
Bến nước Kodung

Sau khi sáp nhập, tỉnh Đắk Lắk (mới) hội tụ và giao thoa hai không gian văn hóa đặc sắc của Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ, tạo nên nền tảng bản sắc phong phú, đa dạng.

Ở khu vực phía Tây (vùng Tây Nguyên), Đắk Lắk nổi bật với kho tàng văn hóa truyền thống giàu giá trị như các bộ trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu; hệ thống ngôn ngữ của người Ê Đê, M'nông; cùng các nhạc cụ độc đáo như đàn đá, đàn T'rưng, đàn K'lông pút... Đặc biệt, Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên – được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc được duy trì thường niên như Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng, Lễ hội Cà phê... Bên cạnh đó là hệ thống di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu như Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu Biệt điện Bảo Đại, Tòa Giám mục Đắk Lắk, Hang đá Đắk Tur, Tháp Yang Prong...

Ở khu vực phía Đông (vùng duyên hải), Phú Yên mang đậm dấu ấn văn hóa biển và cư dân "xứ Nẫu" với tiếng nói địa phương đặc trưng (nẫu nghĩa là "người ta"), tạo nên sắc thái riêng trong đời sống sinh hoạt. Phú Yên còn nổi tiếng với nghệ thuật hát chòi – loại hình dân ca từng rất phổ biến trong cộng đồng và là một phần của di sản văn hóa miền Trung. Đồng thời, địa phương cũng phát hiện và lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc như các bộ trường ca quý của đồng bào dân tộc thiểu số, bộ đàn đá Tuy An có độ chuẩn cung bậc thuộc loại chính xác cao cùng những chiếc kèn đá độc đáo. Bên cạnh đó là hệ thống di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu có giá trị về kiến trúc, tín ngưỡng và truyền thống cách mạng như Tháp Nhạn (công trình kiến trúc Chăm Pa đặc sắc), di tích Vũng Rô (ghi dấu những chuyến tàu không số trong kháng chiến), Chùa Đá Trắng, Nhà thờ Mằng Lăng (một trong những nhà thờ cổ nhất Việt Nam, gắn với quá trình hình thành chữ Quốc ngữ), cùng các đình, lăng, miếu cổ ven biển mang đậm nét văn hóa cư dân miền Trung.

Sự hòa quyện giữa văn hóa cồng chiêng đại ngàn phía Tây và văn hóa biển đảo, dân gian miền Trung phía Đông đã tạo nên diện mạo văn hóa đa tầng, giàu bản sắc cho tỉnh, góp phần nâng cao giá trị và sức hấp dẫn trong phát triển du lịch, bảo tồn di sản và quảng bá hình ảnh địa phương.

Y tế

Những năm gần đây, hệ thống y tế tỉnh Đắk Lắk từng bước được củng cố và phát triển đồng bộ từ tuyến tỉnh đến cơ sở, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Mạng lưới khám, chữa bệnh được mở rộng; chất lượng chuyên môn, trang thiết bị và nguồn nhân lực y tế từng bước được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi để người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, tiếp cận các dịch vụ y tế thiết yếu và chuyên sâu.

Trên địa bàn tỉnh hiện có nhiều cơ sở y tế nòng cốt giữ vai trò trung tâm trong công tác khám, chữa bệnh như: Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên; Bệnh viện Đa khoa Buôn Ma Thuột; Bệnh viện Đa khoa Phú Yên; Bệnh viện Đa khoa Buôn Hồ; Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh; Bệnh viện Trường Đại học Tây Nguyên; Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột;... Bên cạnh đó, hệ thống bệnh viện chuyên khoa như Bệnh viện Phổi tỉnh Đắk Lắk; Bệnh viện Tâm thần tỉnh Đắk Lắk; Bệnh viện Mắt tỉnh Đắk Lắk; Bệnh viện Da liễu tỉnh Đắk Lắk; Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Đắk Lắk; Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Đắk Lắk;... đã góp phần nâng cao năng lực điều trị chuyên sâu, giảm tải cho các bệnh viện tuyến Trung ương.

Có thể khẳng định, hệ thống y tế tỉnh Đắk Lắk đang phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ và bền vững, từng bước đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Thể thao

Đắk Lắk có phong trào thể thao phát triển, với các đội tham gia thi đấu ở các giải quốc gia. Tiêu biểu là Câu lạc bộ bóng chuyền Đắk Lắk, một đội bóng chuyền nữ chuyên nghiệp của tỉnh thi đấu tại Giải vô địch bóng chuyền quốc gia Việt Nam. Đội bóng tham gia giải này kể từ năm 2017 và góp mặt nhiều mùa giải. Bên cạnh đó, Câu lạc bộ Bóng đá Đắk Lắk là đội bóng đá đại diện tỉnh, thi đấu ở Giải hạng Nhì quốc gia với mục tiêu thăng hạng lên các giải cao hơn trong hệ thống bóng đá Việt Nam.

Du lịch

Tập tin:Holak02.JPG
Du khách đi voi ở hồ Lắk

Sau khi sáp nhập, tỉnh Đắk Lắk (mới) hình thành không gian phát triển trải dài từ Tây Nguyên xuống duyên hải Nam Trung Bộ, có thể phân thành hai khu vực đặc trưng là phía Tây và phía Đông của tỉnh.

Khu vực phía Tây tỉnh (vùng Tây Nguyên) nổi bật với địa hình cao nguyên, rừng tự nhiên và hệ sinh thái đa dạng, thuận lợi phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng và trải nghiệm văn hóa các dân tộc. Tiêu biểu có hồ Lắk, thác Gia Long, cụm du lịch Buôn Đôn, thác Krông Kmar, thác Đray Nur, thác Thủy Tiên; cùng các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên như Chư Yang Sin, Ea Sô[46]. Không gian này đậm sắc màu văn hóa cồng chiêng, nhà dài, lễ hội truyền thống của đồng bào Êđê, M'nông... tạo nên bản sắc riêng của vùng cao nguyên.

Khu vực phía Đông tỉnh (vùng duyên hải) được thiên nhiên ban tặng hệ thống cảnh quan phong phú với núi, đồng bằng, đầm, vịnh và hải đảo, thuận lợi phát triển du lịch biển, nghỉ dưỡng và tham quan di tích lịch sử. Các danh thắng tiêu biểu gồm Gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan, núi Đá Bia, vịnh Xuân Đài, bãi Môn – Mũi Điện; cùng các di tích lịch sử cấp quốc gia như Vũng Rô, núi Nhạnsông Đà Rằng...

Sự kết hợp giữa cao nguyên đại ngàn phía Tây và biển đảo phía Đông tạo nên lợi thế đặc biệt cho tỉnh trong phát triển du lịch liên vùng "rừng – biển", hình thành chuỗi sản phẩm đa dạng, gia tăng sức cạnh tranh và sức hấp dẫn trên bản đồ du lịch quốc gia.

Giao thông

1. Đường bộ (Quốc lộ & Cao tốc)

Đây là mạng lưới xương sống kết nối các khu vực dân cư và các trung tâm kinh tế trực thuộc tỉnh.

  • Trục dọc kết nối Bắc - Nam:
  • Trục ngang kết nối Đông - Tây:
  • Đường địa phương: 14 tuyến tỉnh lộ (tổng chiều dài khoảng 460 km) đóng vai trò kết nối trực tiếp từ các đầu mối giao thông quốc gia đến các địa phương cơ sở.

2. Đường sắt


3. Đường hàng không

Đắk Lắk là tỉnh hiếm hoi sở hữu đồng thời hai cảng hàng không, tạo lợi thế cực lớn cho du lịch và giao thương:

  • Sân bay Buôn Ma Thuột (BMV): Cửa ngõ phía Tây.
    • Các tuyến bay đi: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế, Thanh Hóa, Côn Đảo, Phú Quốc, Chu Lai.
  • Sân bay Tuy Hòa (TBB): Cửa ngõ phía Đông.
    • Các tuyến bay đi: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng, Cần Thơ, Huế, Thanh Hóa, Côn Đảo, Phú Quốc, Chu Lai.

4. Đường thủy (Cảng biển)

  • Cảng Vũng Rô: Cửa ngõ ra biển Đông của tỉnh Đắk Lắk, phục vụ việc xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng nông sản và công nghiệp từ các địa phương trong tỉnh ra quốc tế.

Danh nhân

Chính trị, lịch sử

  • N'Trang Gưh (1845-1913): Là người dân tộc Êđê, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1887 đến 1913, gây nhiều khó khăn cho quân xâm lược.
  • Ama Jhao (1840-1905): Tên thật là Y Yên Ayŭn, một tù trưởng giàu có và uy tín, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp từ năm 1889 đến 1905.
  • Y Jút H'Wing (1888-1934): Một nhân sĩ trí thức người Êđê, đã tham gia phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của giới công chức, viên chức Buôn Ma Thuột vào những năm 1925-1926.
  • Y Ngông Niê Kdăm (1922-2001): Là người dân tộc Êđê, một nhân vật chính trị tiêu biểu của Đắk Lắk. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk. Ông là Đại biểu Quốc hội 9 khóa liên tục (khóa I đến khóa IX).
  • Ama Pui (1932-2005): Tên khai sinh là Y Liă Mjâo, từng giữ chức Phó Bí thư Thị ủy, Phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận thị xã Buôn Ma Thuột sau năm 1975. Sau đó, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk.
  • Lương Văn Chánh (?-1611) Danh tướng thời chúa Nguyễn, là người có công lớn trong việc khai phá, xác lập và đặt nền móng hình thành vùng đất Phú Yên vào đầu thế kỷ XVII. Ông được nhân dân Phú Yên tôn vinh là Tiền hiền khai khẩn của tỉnh.
  • Lê Thành Phương (1825-1899): Nhà nho yêu nước, lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Phú Yên cuối thế kỷ XIX. Ông lãnh đạo nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, thể hiện tinh thần yêu nước, bất khuất của người dân Phú Yên.
  • Lê Trung Kiên (1939-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Đại đội trưởng Đặc công 202 Phú Yên; anh dũng hy sinh trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại thị xã Tuy Hòa.
  • Nguyễn Anh Hào (1932-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ An ninh tỉnh Phú Yên; chỉ huy lực lượng điệp báo, an ninh đô thị, hy sinh trong Xuân Mậu Thân 1968.
  • Nguyễn Thế Bảo (1930-1968): Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ an ninh cách mạng Phú Yên; chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng trong cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968.

Văn hóa, nghệ thuật

  • NSND Y Moan Ênuôl (1957-2010): Được mệnh danh là "Giọng ca của đại ngàn Tây Nguyên", ông là một trong những nghệ sĩ người Êđê nổi tiếng nhất Việt Nam với những đóng góp to lớn cho âm nhạc dân gian và hiện đại.
  • Nghệ nhân Y Nuh Niê (dưới 1922-?): Người có đóng góp lớn trong việc gìn giữ và phát huy sử thi Ê Đê, với hơn 45 năm miệt mài hát kể sử thi và truyền dạy cho nhiều thế hệ.
  • NSND Y San Aliô (sinh năm 1960) và NSƯT Y Joel Knul (sinh năm 1975): Những nghệ sĩ đã được vinh danh vì những đóng góp trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật của dân tộc Êđê.
  • H'Hen Niê (sinh năm 1992): Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017, là người dân tộc thiểu số đầu tiên đăng quang ngôi vị cao nhất của cuộc thi này, truyền cảm hứng mạnh mẽ về nghị lực và bản sắc văn hóa.
  • Nhã Phương (sinh năm 1990): Nữ diễn viên điện ảnh và truyền hình nổi tiếng, sinh ở Đắk Lắk và nguyên quán ở Quảng Nam, được biết đến qua nhiều vai diễn ấn tượng.
  • Hồ Quang Hiếu (sinh năm 1983): Ca sĩ nổi tiếng với nhiều bản hit, cũng là một người con của Đắk Lắk.
  • Hiền Hồ (sinh năm 1997): Nữ ca sĩ trẻ tài năng và triển vọng, được biết đến sau Giọng Hát Việt 2017.
  • Lê Bê La (sinh năm 1987): Nữ diễn viên truyền hình nổi tiếng tại Việt Nam. Cô được biết đến qua vai Tùng trong Cổng mặt trời và nhiều phim truyền hình khác như Hoa nắng, Thời gian để yêu, Bão ngầm...
  • Trương Đình Hoàng (sinh năm 1990): Võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp nổi tiếng, là niềm tự hào của thể thao Đắk Lắk.
  • Y Điêng (1928–2010): Nhà văn dân tộc Êđê sinh tại Phú Yên, có nhiều tác phẩm giá trị về văn hóa, con người Tây Nguyên; được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật.
  • Bùi Công Nam (sinh năm 1993): ca sĩ, nhạc sĩ sinh ra ở Đắk Lắk có nguyên quán ở Quảng Nam.
  • Dương Cầm (sinh năm 1986): nhạc sĩ sinh ra ở Đắk Lắk có nguyên quán Quảng Ngãi.
  • Châu Đăng Khoa (sinh năm 1990): ca sĩ, nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất thu âm sinh ra ở Đắk Lắk.
  • Hà Trúc Linh (sinh năm 2004): cô đăng quang Hoa hậu Việt Nam 2024 và trước đó từng đạt danh hiệu Hoa khôi tại cuộc thi Nét đẹp sinh viên Đại học Tài chính - Marketting 2023.
  • Duyên Quỳnh (sinh năm 1990): ca sĩ nổi tiếng nhờ ca khúc Viết tiếp câu chuyện hòa bình có nguyên quán ở Quảng Nam.

Doanh nhân

  • Đặng Lê Nguyên Vũ (sinh năm 1971): Doanh nhân tiêu biểu trong lĩnh vực cà phê, người sáng lập, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên Legend. Ông được xem là một trong những doanh nhân có ảnh hưởng lớn nhất đối với ngành cà phê Việt Nam, góp phần đưa thương hiệu cà phê Việt vươn ra thị trường quốc tế, đồng thời khởi xướng nhiều hoạt động truyền cảm hứng khởi nghiệp và xây dựng văn hóa cà phê. Bên cạnh hoạt động kinh doanh, ông còn được biết đến với bộ sưu tập xe có giá trị lớn, thể hiện phong cách cá nhân và dấu ấn của một doanh nhân thành đạt.

Khoa học

  • Giáo sư Nguyễn Trọng Toán (sinh năm 1981 tại Đắk Lắk) là nhà toán học Việt Nam, hiện là giáo sư tại Pennsylvania State University. Ông nghiên cứu trong các lĩnh vực giải tích, phương trình đạo hàm riêng và vật lý toán, tập trung vào các bài toán về cơ học chất lỏng, lý thuyết động học và thuyết tương đối rộng. Năm 2022, ông được trao Giải thưởng T. Brooke Benjamin của Hiệp hội Toán học Công nghiệp và Ứng dụng Quốc tế (SIAM) nhờ những đóng góp nổi bật cho lý thuyết động lực học chất khí và chất lỏng.

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ "Chữ và nghĩa: Đắk Lắk - xưa và nay".
  2. ^ a ă â Phía Tây Đắk Lắk giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  3. ^ "Gấp rút xác định ranh giới Đắk Lắk - Khánh Hòa".
  4. ^ Giới thiệu viễn thông Đắk Lắk Lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2024 tại Wayback Machine, Website tỉnh Đắk Lắk.
  5. ^ a ă Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất nước với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  6. ^ Lắk, Trung Tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công xã Liên Sơn (ngày 12 tháng 11 năm 2024). "Đăk Lăk 120 năm hình thành và phát triển". Trung Tâm Cung ứng dịch vụ công xã Liên Sơn Lắk. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
  7. ^ "Tạp chí cộng sản". Tạp chí Cộng sản. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
  8. ^ Louis Victor Bourgeois, công sứ Pháp đầu tiên ở Đắc Lắc (lúc đó Đắc Lắc thuộc Lào, năm 1904 thì thuộc về Việt Nam), cai trị tỉnh này từ năm 1899 - 1904. Bộ máy cai trị Đắc Lắc khá đơn giản, ngoài ông ta (Công sứ Bourgeois) thì còn có phó công sứ de Blakovitch; chỉ huy lính bản xứ Henry. Bourgeois là tên thực dân Pháp cáo già, lên Tây Nguyên vào những năm 90 của thế kỷ XIX; năm 1890, Bourgeois đã lần lượt thu phục các tù trưởng Khumjunop (vua săn voi nổi tiếng ở Bản Đôn), Ama Y Thuột, Ama Jhao (thất bại)... Ngày 2/11/1899, Bourgeois lập ra hạt đại lý khu vực Bản Đôn làm nơi thí điểm để bình định các dân tộc Edeh, M'nông (nhóm Kpă và Bih) vùng hạ lưu sông Krông Ana và sông Krông Nô...nhưng thất bại. Năm 1900, cuộc nổi dậy của N'Trang Gưh, người Bih chống lại Bourgeois làm tên này phải đối phó rất vất vả (1900 - 1914)
  9. ^ Năm cai trị của tên công sứ Besnard căn cứ theo "Monographie de la Province du Darlac (1930)" của A. Monfleur, p. 13 và "Lịch sử di tích cách mạng nhà ngục Đắk Mil", tr. 26
  10. ^ Leopold Sabatier, công sứ Pháp ở Đắc Lắc từ năm 1914 - 1925. Thời gian đầu khi cai trị, Sabatier đón tiếp Henri Maitre (Tham biện hạng nhất, đóng ở Peksa). Ông ta liên tiếp đem quân chống phá các cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng, cưới một người vợ Tây Nguyên (có chỗ ghi là người Lào) là Sao Nhuôn; ra thông tri về cai trị vùng Mọi (cho người dân tộc làm rưộng nước trên nương rẫy, trồng cây ăn quả). Trong Cuộc thương nghị của lời thề, ông lệnh cho các già làng làm ruộng (có trồng ngô và khoai) theo kế hoạch đã được định ra của Sabatier: "Ông công sứ "Những kẻ đầu cá kroa và đầu cá kenh cứng cổ, ta đã nói cho cac ngươi phải làm như thế nào. Tuy cac ngươi chỉ là những con trâu, ta vẫn muốn cứu các ngươi, nhưng ta sẽ làm cho những kẻ không nghe lời ta phải hối hận. Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè khắp nơi, ở nơi có đầm lầy và đất thấp có thể tưới nước. Các ngươi chặn dòng sông khắp nơi ở những nơi có thể. Trên bờ các ngươi làm ruộng trồng ngô và khoai để thu hoạch và phơi khô dành cho mùa ian mdé phùn (10)[...]" Ta ra lệnh cho các ngươi làm ruộng vụ hè. Ta ra lệnh cho các ngươi cày chứ không phải là dẫm đất. Ta nói với các ngươi chỉ một người với chỉ một con trâu kéo cày, sẽ làm ít vất vả hơn công việc của mười người và mười con trâu giẫm đất. Ngươi, Y Bak, được người ta gọi là "Vua của thóc lúa", đó là gì? Ta cấm người ta gọi ngươi như vậy, nếu không để chế diễu ngươi mà biết bao ruộng lúa không được cày xới. Ta sẽ đưa cho các ngươi hai mươi cái cày. Y Đê, Y Đjut và Y Đong đã học ở Huế, sẽ bày cho các ngươi cách làm và cách dùng. Các ngươi có nghe thấy không? Các tù tưởng Đã nghe rồi. Hây. Công sứ Các ngươi có hiểu không? Các tù trưởng Sao chúng tôi không hiểu. Hây. Công sứ Nếu các ngươi hiểu, thì năm nay sẽ không có nạn đói. Nếu trong một làng, ta thấy một người gầy, ta sẽ bỏ tù chủ làng. Chưa hết đâu. Ta sẽ phát cho các ngươi mười nghìn cây cà phê, năm nay ta sẽ phân phát ba mươi nghìn. Ta đã nói với các ngươi, mỗi dầu dân đinh phải trồng mười cây cà phê"" Ông cũng là người sưu tầm, soạn thảo ra Luật tục Êđê gồm 236 điều với khoảng trên dưới 8.000 câu. Cuối thời cai trị của mình, ông đã ra lệnh tuyệt cấm người Việt lên lập nghiệp ở Darlac với chủ trương cực đoan "đất Tây Nguyên của người Tây Nguyên", rồi lại vận động khâm sứ Trung Kỳ là Pierre Pasquier áp dụng chung chính sách này cho toàn cao nguyên Trung phần. Chính vì quá độc quyền vùng Tây Nguyên nên ông ta bị nhân dân phản đối. Cuộc biểu tình của người Ê Đê do Y Jut lãnh đạo đã buộc Pháp phải đuổi ông ta về nước (10/1925). Giran lên thay.
  11. ^ a ă Theo Annuaire general de L'Indochine 1914, Daklak là một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum mới thành lập, với Leopold Sabatier (ra thay Louis Cottez từ giữa năm 1913) làm đại lý (tương đương chủ quận) lệ thuộc vào Jules-Francois Guénot (công sứ Kon Tum), chỉ huy là Kaufman (đóng ở Buôn Ma Thuột). Pháp đưa Phan Tử Khâm làm tri huyện quản lý cả tỉnh Kon Tum rộng lớn (bao gồm Daklak, đến năm 1917 thêm cả An Khê), đặt H'Ma (người Ê-đê) làm tri huyện ở Mang-yang
  12. ^ Giran, tên đầy đủ là Paul Giran, ông này thay Leopold Sabatier làm Công sứ tỉnh Đắc Lắc khi ông này (tức Sabatier) bị Tổng thanh tra Đông Dương đuổi do có hành động miệt thị dân Thượng (đấu tranh của nhân dân Edeh do thầy giáo Y Jut lãnh đạo (1925)). Dưới thời Công sứ Giran, Pháp cho xây dựng Tòa Công sứ Đắc Lắc (1926 - 1927) và tiếp tục đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống Pháp, nhất là khởi nghĩa N'Trang Lơng.
  13. ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  14. ^ "LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN BAN MÊ THUỘT". Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016.
  15. ^ Quyết định 230-CP năm 1977 về việc chia huyện Krông Buk thành huyện Krông Buk và huyện Ea Sup và chia huyện Krông Pắk thành huyện Krông Pắk và huyện M'Drắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  16. ^ Quyết định 110-CP năm 1980 về việc chia huyện Krông Buk thành hai huyện, huyện Krông Buk và huyện Ea H'Leo và thành lập một số xã mới của huyện Ea Súp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  17. ^ Quyết định 75-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới của huyện và thị xã Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk
  18. ^ Quyết định 15-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới huyện Ea Sup thuộc tỉnh Đắk Lắk
  19. ^ Quyết định 19-HĐBT năm 1986 về việc chia huyện Đắk Nông thành hai huyện Đắk Nông và huyện Đăk R'lấp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  20. ^ Quyết định 108-HĐBT năm 1986 về việc thành lập huyện Ea Kar thuộc tỉnh Đắk Lắk
  21. ^ Quyết định 227-HĐBT năm 1990 thành lập huyện Cư Jút thuộc tỉnh Đắk Lắk
  22. ^ Nghị định 08/CP năm 1995 về việc thành lập thành phố Buôn Ma Thuột và điều chỉnh địa giới hành chính giữa thành phố với các huyện Cư Jút, Ea Súp, Krông Pắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  23. ^ Nghị định 61-CP năm 1995 về việc chia xã và thành lập huyện mới thuộc tỉnh Đắk Lắk
  24. ^ Nghị định 30/2001/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil để thành lập huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Lắk
  25. ^ "NGHỊ QUYẾT 22/2003/QH.11 VỀ VIỆC CHIA VÀ ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH MỘT SỐ TỈNH".
  26. ^ Quyết định 38/2005/QĐ-TTg công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại II do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  27. ^ Nghị định 137/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc các huyện: Krông Ana, Ea Kar, Krông Búk, M'Drắk, Ea H'Leo; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana để thành lập huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
  28. ^ Nghị định 07/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Krông Búk, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Búk để thành lập thị xã Buôn Hồ và thành lập các phường trực thuộc thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk
  29. ^ Quyết định 228/QĐ-TTg năm 2010 công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Đắk Lắk do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  30. ^ a ă "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  31. ^ xaydungchinhsach.chinhphu.vn (ngày 7 tháng 8 năm 2025). "Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH". xaydungchinhsach.chinhphu.vn. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
  32. ^ Nghị quyết số 203/2025/QH15 ban hành ngày 16/06/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  33. ^ Nghị quyết 1660/NQ-UBTVQH15 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đắk Lắk.
  34. ^ "Toàn văn Nghị quyết số 1660/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Đắk Lắk năm 2025". Báo Điện tử Chính Phủ. ngày 16 tháng 6 năm 2025.
  35. ^ Căn cứ vào Đề án số 341/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đắk Lắk (mới) năm 2025
  36. ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  37. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  38. ^ "Phương án mở rộng địa giới hành chính thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk năm 2023". ngày 26 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
  39. ^ a ă â b c d Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
  40. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên TT
  41. ^ https://dantri.com.vn/noi-vu/du-kien-chi-tiet-dien-tich-dan-so-quy-mo-kinh-te-cua-34-tinh-thanh-moi-20250609213449364.htm
  42. ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 6 tháng 1 năm 2026). "Dân số tỉnh Đắk Lắk là 2,8 triệu hay 3,3 triệu người?". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  43. ^ tử, Báo Nhân Dân điện (ngày 6 tháng 1 năm 2026). "Dân số tỉnh Đắk Lắk là 2,8 triệu hay 3,3 triệu người?". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  44. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  45. ^ "Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019" (PDF). Tổng cục Thống kê.
  46. ^ Tính đến ngày 31/12/2000, toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 2 di tích lịch sử văn hoá Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Liên kết ngoài