Địa lý Liberia
Địa lý Liberia mô tả các đặc điểm tự nhiên của một quốc gia vùng hạ Sahara nằm ở khu vực Tây Phi, tọa độ 6°B, 9°T. Quốc gia này giáp với Đại Tây Dương và giáp biên giới trên bộ với Sierra Leone, Guinée và Bờ Biển Ngà.
| Tập tin:Satellite image of Liberia in January 2003.jpg | |
| Vùng | Tây Phi |
|---|---|
| Tọa độ | 6°30′B 9°30′T / 6,5°B 9,5°T |
| Diện tích | |
| • Đất | 86.49% |
| • Nước | 13.51% |
| Biên giới | Tổng chiều dài: 1.587 km Bờ Biển Ngà: 716 km Guinea: 560 km Sierra Leone: 310 km |
| Điểm cao nhất | Dãy Wologizi (Núi Wuteve), 1.440 m |
| Điểm thấp nhất | Đại Tây Dương, 0 m |
| Sông dài nhất | Sông Cavalla, 515 km |
| Hồ lớn nhất | Hồ Piso, 103 km² |
| Địa hình | Vùng đồng bằng ven biển chuyển sang đồi núi trập trùng và cuối cùng là cao nguyên và núi thấp ở phía đông bắc. |
Diện tích và ranh giới
Diện tích
- Tổng cộng: 111.369 kilômét vuông (43.000 dặm vuông)[1]
- Đứng thứ: 102 trên thế giới
- Đất liền: 96.300 kilômét vuông (37.190 dặm vuông)
- Mặt nước: 15.000 kilômét vuông (5.810 dặm vuông)
So sánh diện tích:
- So với Úc: lớn hơn khoảng 3/5 diện tích Tasmania.
- So với Canada: lớn xấp xỉ gấp đôi diện tích Nova Scotia.
- So với Vương quốc Anh: lớn hơn khoảng 2/5 diện tích Scotland.
- So với Hoa Kỳ: lớn hơn một chút so với bang Virginia.
- So với Liên minh Châu Âu (EU): xấp xỉ diện tích Bulgaria.
Biên giới đất liền và yêu sách hàng hải
Tổng chiều dài biên giới trên bộ của Liberia là 1.587 kilômét (986 dặm): 310 kilômét (190 dặm) với Sierra Leone ở phía tây bắc, 560 kilômét (350 dặm) với Guinea ở phía bắc và 716 kilômét (445 mi) với Bờ Biển Ngà.[2]
Đường bờ biển tiếp giáp Đại Tây Dương kéo dài 580 kilômét (360 dặm). Liberia tuyên bố chủ quyền Vùng đặc quyền kinh tế lên tới 249.734 km² (96.423 dặm vuông) và giới hạn 200 hải lý (370 km; 230 dặm).
Địa lý tự nhiên
Liberia trải dài từ 4.21°B đến 8.34°B và 7.27°T đến 11.31°T. Lãnh thổ có hình dạng gần giống hình chữ nhật với chiều dài khoảng 510 km (317 dặm) từ tây bắc xuống đông nam, và chiều rộng khoảng 275 km (171 dặm). Bờ biển dài khoảng 680 km (423 dặm), tính cả các cửa sông và lạch nước biển có bề rộng lên đến một kilômét.[3]
Lưu vực thoát nước của toàn quốc gia đều hướng thẳng ra biển, với hàng loạt con sông ngắn đổ thẳng vào đại dương. Tính từ tây sang đông, các con sông này bao gồm Sông Mano (nằm trên biên giới Sierra Leone), sông Mafa, sông Lofa, sông Saint Paul, sông Mesurado, sông Farmington, sông Saint John, sông Timbo, sông Cestos, sông Sehnkwehn, sông Sinoe, sông Dugbe, sông Dubo, sông Grand Cess và sông Cavalla (tạo thành biên giới với Bờ Biển Ngà).[1]
Ở phía tây, bờ biển khá thấp và nhiều cát, nhưng ở các vùng miền trung và miền đông, bờ biển lại có sự pha trộn giữa cát và đá với độ nổi dốc vừa phải, thường xuyên bị chia cắt bởi các cửa sông. Vùng đồng bằng ven biển có chiều rộng không đồng đều, thu hẹp lại giữa Monrovia và Buchanan, nhưng mở rộng đáng kể ở khu vực phía tây và tại Thung lũng Cestos ở trung tâm, rồi lại hẹp lại ở cực đông của đất nước.[1]
Càng đi sâu vào nội địa, mặt đất càng dâng cao, đôi khi xuất hiện các dốc đứng, vươn lên thành một vùng cao nguyên có độ cao từ 300 đến 400 m (1.000 đến 1.300 ft) so với mực nước biển. Vùng này bị xẻ dọc bởi các thung lũng sông và có các sống đồi nổi lên giữa một số thung lũng. Về phía bắc và tây bắc, đất tiếp tục dâng cao thành các ngọn núi vượt quá 1.000 m (3.300 ft) ở nhiều nơi, với điểm cao nhất nằm ở dãy Wologizi đạt 1.440 m (4.724 ft).[3]
Khí hậu tại Monrovia
| Monrovia | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Dữ liệu khí hậu của Monrovia, Liberia | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 31.8 (89.2) |
32.0 (89.6) |
31.8 (89.2) |
31.6 (88.9) |
31.0 (87.8) |
29.3 (84.7) |
28.0 (82.4) |
27.6 (81.7) |
28.6 (83.5) |
29.5 (85.1) |
30.5 (86.9) |
31.2 (88.2) |
30.2 (86.4) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 23.3 (73.9) |
23.6 (74.5) |
23.5 (74.3) |
23.6 (74.5) |
23.6 (74.5) |
23.2 (73.8) |
22.8 (73.0) |
22.7 (72.9) |
23.0 (73.4) |
23.3 (73.9) |
23.5 (74.3) |
23.5 (74.3) |
23.3 (73.9) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 51 (2.0) |
71 (2.8) |
120 (4.7) |
154 (6.1) |
442 (17.4) |
958 (37.7) |
797 (31.4) |
354 (13.9) |
720 (28.3) |
598 (23.5) |
237 (9.3) |
122 (4.8) |
4.624 (181.9) |
| Nguồn: WMO | |||||||||||||
Tài nguyên thiên nhiên và khai khoáng
Nguồn tài nguyên thiên nhiên được tìm thấy tại Liberia bao gồm quặng sắt, gỗ, kim cương, vàng và thủy điện.
Ngành khai khoáng của Liberia đã chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ sau cuộc nội chiến kết thúc vào năm 2003.[4] Vàng, kim cương và quặng sắt tạo thành những khoáng sản cốt lõi của ngành khai thác với Chính sách Phát triển Khoáng sản và Luật Khai khoáng mới được ban hành nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.[5] Năm 2013, lĩnh vực khoáng sản đóng góp tới 11% GDP của cả nước và Ngân hàng Thế giới đã dự phóng mức tăng trưởng tiếp tục của ngành này vào năm 2017.[6]
Ngành khai khoáng được coi là động lực chính cho sự tăng trưởng kinh tế quốc gia, và việc khai thác tài nguyên phải được cân bằng một cách thích hợp với nỗ lực bảo tồn môi trường bền vững đối với hệ sinh thái đa dạng sinh học vô giá tại đây.[7] Bên cạnh quặng sắt, các nguồn tài nguyên xi măng, kim cương, vàng và dầu mỏ cũng được đặc biệt quan tâm nhằm làm phong phú thêm cho nền kinh tế quốc gia.
Sử dụng đất và nông nghiệp
- Đất canh tác: 5,2%
- Trồng cây lâu năm: 2,1%
- Đồng cỏ vĩnh viễn: 20,8%
- Rừng: 44,6%
- Các mục đích khác: 27,3% (số liệu năm 2011)
Vào năm 2012, có khoảng 30 kilômét vuông diện tích đất tại Liberia được trang bị hệ thống tưới tiêu nông nghiệp.
Vấn đề môi trường
Các vấn đề môi trường đang nhức nhối tại Liberia bao gồm chặt phá rừng mưa nhiệt đới, nạn săn bắn các loài nguy cấp để lấy thịt thú rừng (bushmeat), ô nhiễm dòng sông và vùng nước ven biển do dòng chảy công nghiệp và nước thải thô chưa qua xử lý, cùng với tình trạng đốt rác và vứt rác thải sinh hoạt bừa bãi.
Giống như nhiều quốc gia khác ở châu Phi, Liberia cũng đặc biệt dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu, khiến các vấn đề môi trường sẵn có càng trở nên trầm trọng hơn.
Rủi ro thiên nhiên phổ biến nhất tại Liberia là gió Harmattan mang theo khói bụi thổi từ sa mạc Sahara xuống vào giai đoạn từ tháng 12 đến tháng 3.
Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu gây ra nhiều vấn đề sâu sắc bởi Liberia là một quốc gia đặc biệt dễ bị tổn thương. Quốc gia này vừa phải đối phó với những vấn đề môi trường hiện tại, vừa phải giải quyết các thách thức về phát triển bền vững.[8] Nhờ đặc thù vị trí địa lý tại châu Phi, Liberia rất dễ hứng chịu các hiện tượng thời tiết cực đoan, các tác động ven biển do mực nước biển dâng cao, và sự biến đổi của các hệ thống thủy văn tự nhiên.[9] Biến đổi khí hậu được dự báo sẽ giáng những đòn nặng nề vào nền kinh tế Liberia, đặc biệt là các ngành nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp. Liberia đã trở thành một bên tham gia tích cực vào các thay đổi chính sách ở cấp độ quốc tế cũng như địa phương nhằm ứng phó với hiện tượng này.[10]
Vào tháng 3 năm 2024, Ngân hàng Thế giới đã công bố Báo cáo Quốc gia và Phát triển Khí hậu Liberia (CCDR), trong đó làm nổi bật mối đe dọa tàn khốc của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với sự ổn định và tăng trưởng kinh tế của Liberia. Báo cáo vạch rõ các yếu điểm của quốc gia, bao gồm sự phụ thuộc quá mức vào tài nguyên thiên nhiên, không gian tài khóa chật hẹp và hệ thống hạ tầng yếu kém. Báo cáo cảnh báo rằng nếu không có sự can thiệp chủ động, biến đổi khí hậu có thể làm suy giảm 15% nền kinh tế Liberia và đẩy thêm 1,3 triệu người vào cảnh đói nghèo vào năm 2050. Ngược lại, báo cáo gợi ý rằng các nỗ lực thích ứng có mục tiêu rõ ràng có thể cải thiện đáng kể khả năng phục hồi cho tối đa 800.000 người dân. Báo cáo CCDR đã vạch ra một chiến lược chi tiết cho các hành động khí hậu, tập trung vào bốn chủ đề chính: rủi ro khí hậu và mức độ sẵn sàng, cơ sở hạ tầng thiết yếu, phát triển con người, và quản lý đất đai bền vững.[11]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là danh sách các điểm cực trị của Liberia:
- Cực Bắc: Một địa điểm không tên trên biên giới với Guinea nằm trên sông Sodia, ngay phía bắc thị trấn Voinjama, Hạt Lofa.
- Cực Đông: Mũi đất không tên tại ngã ba sông Cavally và sông Hana, Hạt River Gee.
- Cực Nam: Mũi Kablaké, Hạt Maryland.
- Cực Tây: Mũi đất không tên ngay phía tây thị trấn Sewulu tại cửa sông Mano, Hạt Grand Cape Mount.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c Philip's (1994). Atlas of the World. Reed International. tr. 100. ISBN 0-540-05831-9.
- ^ "The World Factbook: Liberia". cia.gov. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
- ^ a b Hughes, R.H. (1992). A Directory of African Wetlands. IUCN. tr. 385–386. ISBN 978-2-88032-949-5.
- ^ "Liberia". Natural Resource Governance Institute. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Mining in Liberia- Overview". mbendi.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Quick-Action Helps Maintain Key Mining Industries during Ebola Outbreak". USGS. ngày 7 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Coordinating Mining Conservation Efforts in Liberia". World Bank. ngày 28 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Building effective climate governance in Liberia - Liberia". ReliefWeb. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2020.
- ^ "Climate Risk Profile: Liberia". Climatelinks. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2020.
- ^ Blackmore, R.D. (1900). Lorna Doone. Ryerson Press. ISBN 0-665-26503-4. OCLC 1084383140.
- ^ "Liberia Country and Climate Development Report (CCDR)". World Bank. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2024.
Liên kết ngoài
- Dữ liệu tổng quát về Liberia Lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2021 tại Wayback Machine trên The World Factbook (CIA).