Đồng Quý phi
Đồng Quý phi Thư Mục Lộc thị (chữ Hán: 彤貴妃舒穆魯氏; 3 tháng 6 năm 1817 - 15 tháng 11 năm 1877), là một phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế.
| Thanh Tuyên Tông Đồng Quý phi 清宣宗彤貴妃 | |||
|---|---|---|---|
| Đạo Quang Đế Quý phi | |||
| Tập tin:《雍宫式范》彤妃舒穆魯氏部分.jpg | |||
| Quý phi Đại Thanh | |||
| Tại vị | 18 tháng 8 năm 1836 - 21 tháng 10 năm 1844[1] | ||
| Đăng quang | 27 tháng 1 năm 1837 | ||
| Phục vị | 24 tháng 12 năm 1874 - 15 tháng 11 năm 1875[2] | ||
| Thông tin chung | |||
| Sinh | 3 tháng 6 năm 1817 | ||
| Mất | 15 tháng 11 năm 1875 | ||
| An táng | 8 tháng 9 năm 1877 Mộ Đông lăng (慕东陵) thuộc Thanh Tây lăng | ||
| Phối ngẫu | Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế | ||
| Hậu duệ |
| ||
| Tước hiệu | Đồng Quý nhân (彤貴人) Đồng tần (彤嬪) Đồng phi (彤妃) Đồng Quý phi (彤貴妃) Đồng Quý nhân (彤貴人) (giáng vị) Hoàng khảo Đồng tần (皇考彤嬪) Hoàng tổ Đồng phi (皇祖彤妃) Hoàng tổ Đồng Quý phi (皇祖彤貴妃) | ||
| Thân phụ | Ngọc Chương | ||
Xuất thân, gia thế
Đồng Quý phi sinh ngày 19 tháng 4 (tức ngày 3 tháng 6 dương lịch), giờ Mão, năm Gia Khánh thứ 22 (1817), xuất thân Mãn Châu Chính Hoàng kỳ là con gái của Lại bộ Lang trung Ngọc Chương (玉彰), xuất thân từ thị tộc Thư Mộc Lục thị (舒穆魯氏) - một gia tộc hiển hách thuộc Mãn Châu Bát Đại gia theo quyển Bát kỳ Mãn Châu thị tộc thông phổ (八旗满洲氏族通谱), gia tộc bà tuy là thị tộc hiển hách nhưng các ghi chép không nêu rõ gia tộc bà thuộc nhánh nào. Cha bà là Thư Mục Lộc Ngọc Chương nguyên là chức Bút thiếp thức, sau thi đỗ vào chức Nội các Trung thư. Trong những năm triều Gia Khánh, ông trải qua chức Quân cơ Chương kinh rồi Nội quan Thị độc, Hình bộ Lang trung, rồi Trực Lệ Nhiệt Hà đạo nhưng sau đó ông bị giáng chức mà không rõ nguyên do. Năm Đạo Quang thứ 11 (1831), ông lại nhậm chức Lại bộ Lang trung. Năm Đạo Quang thứ 14 (1834), ông kiêm nhiệm chức Lang trung của Lục kho thuộc Nội vụ phủ. Huynh trưởng của Đồng Quý phi là Văn Nhuận (溫潤) giữ chức Tri châu Ứng Châu, thuộc tỉnh Sơn Tây, đến năm Đạo Quang thứ 26 (1846), Ngọc Chương qua đời, gia tộc của bà đến đây thì tuyệt hậu.[3]
Đại Thanh tần phi
Liên tục thăng tiến
Năm Đạo Quang thứ 11 (1831), nhập cung thông qua tuyển tú và được sơ phong làm Đồng Quý nhân (彤貴人), phong hiệu "Đồng", cứ theo Mãn văn là 「Jaksangga」, ý là "Tươi đẹp diễm lệ", cho cư ngụ tại Hàm Phúc cung. Đây là một trong số ít những phong hiệu hậu phi của Đạo Quang được chú thích rõ ràng, cụ thể Mãn ngữ.[4]
Năm Đạo Quang thứ 12 (1832), ngày 2 tháng 4 (tức ngày 1 tháng 5 dương lịch) Đạo Quang Đế hạ chỉ tấn phong làm Đồng tần (彤嬪), ngày 8 tháng 11 cùng năm (tức ngày 29 tháng 12 dương lịch), mệnh Lễ bộ Thượng thư Kỳ Anh (耆英) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Thự Hữu Thị lang Văn Khánh (文庆) làm Phó sứ, cử hành lễ tấn phong cho Đồng tần. [5][6]
Năm Đạo Quang thứ 13 (1833), ngày 15 tháng 8 (ngày 28 tháng 9 dương lịch), nhân dịp hành lễ sắc phong Toàn Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị làm Hoàng quý phi, Đạo Quang Đế nhân đó tấn phong cho Tĩnh phi Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị làm Tĩnh Quý phi, Đồng tần tấn phong làm Đồng phi (彤妃). Sang đến năm sau (1834), ngày 3 tháng 11 (tức ngày 3 tháng 12 dương lịch) lấy Lễ bộ Thượng thư Tả Đô ngự sử Dịch Hạo (奕颢) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Ân Quế (恩桂) làm Phó sứ, hành lễ sắc phong Đồng phi[7]. Đạo Quang năm thứ 16 (1836), ngày 7 tháng 7 (tức ngày 18 tháng 8 dương lịch), Đạo Quang Đế hạ chỉ tấn phong Đồng phi thành Đồng Quý phi (彤貴妃). Đến ngày 21 tháng 12 cùng năm (tức ngày 27 tháng 1 dương lịch năm 1837), lấy Đại học sĩ Nguyễn Nguyên (阮元) làm Chính sứ, Lễ bộ Hữu thị lang Liên Thuận (联顺) làm Phó sứ cử hành lễ sách phong cho bà, khi này bà 20 tuổi. [8]
Giáng vị và phục phong
Năm Đạo Quang thứ 20 (1840), ngày 2 tháng 7 (âm lịch), bà hạ sinh Hoàng thất nữ. Năm sau (1841), ngày 26 tháng 11 (âm lịch), buổi trưa, hạ sinh Hoàng bát nữ, tức Thọ Hi Hoà Thạc Công chúa (和碩壽禧公主). Năm thứ 24 (1844), ngày 17 tháng 3, sinh hạ Hoàng thập nữ. Ngày 10 tháng 9 (tức ngày 21 tháng 10 dương lịch), giáng xuống làm Quý nhân. Ngày 20 tháng 12 cùng năm, Hoàng thất nữ chết. Sang ngày 20 tháng 1 năm sau (1845), Hoàng thập nữ cũng chết non.
Nguyên do Đồng Quý phi đột ngột bị giáng vị, dù đã sinh dục Hoàng nữ, hơn nữa còn từ Quý phi rớt xuống Quý nhân, sự thay đổi địa vị quá lớn mà các cứ liệu trước mắt đều không đưa ra được lời giải thỏa đáng. Có tài liệu Nội vụ phủ ghi lại, Thái giám ở Hàm Phúc cung, nơi Đồng Quý phi sinh sống tên gọi Lý Đắc Hỉ (李得喜) bị phát hiện sở hữu nhiều tài vật trái phép, trong đó có quả nửa là những ngự dụng vật phẩm do chính Đạo Quang Đế ban cho Đồng Quý phi, Hoàng đế tức giận mà ra chỉ giáng vị Đồng Quý phi, tất cả Kim sách và Kim bảo khi trước đều bị giao ra cho Nội vụ phủ xử lý.
Án theo Thanh cung đương án (清宫档案), ngày 10 tháng 9 (âm lịch), Đạo Quang Đế đã hạ chỉ dụ như sau :
[彤贵妃受朕厚恩多年,不想如此丧良,不知自重,李得喜何等下贱不堪之物,乃如此狎比亲信,实属大负朕恩,有玷贵妃之位,着革去贵妃,降为彤贵人,其金册宝印即行交出,命广储司收贮,朝衣朝冠交敬事房,九月底进宫时呈览,钦此。]
Dịch ra như sau :
– "Đồng Quý phi hưởng hậu ơn của Trẫm nhiều năm, không ngờ lại mất hết lương tâm, không biết tự trọng như thế. Lý Đắc Hỷ là hạng hạ tiện không ra gì, mà lại đi thân cận, nuông chiều, tin dùng hắn đến mức ấy, thật là phụ ơn lớn của Trẫm, làm hoen ố vị trí Quý phi. Cho tước bỏ vị Quý phi, giáng xuống làm Đồng Quý nhân, kim sách và bảo ấn của thị lập tức nộp ra, mệnh cho Quảng Trữ ty thu giữ, triều phục giao cho Kính Sự phòng, chờ đến cuối tháng 9 khi Trẫm tiến cung sẽ dâng lên xem xét. Khâm thử!"[9]
Vào những năm cuối triều Đạo Quang, Hoàng đế đã đồng loạt giáng vị rất nhiều phi tần, tuy vậy trường hợp Đồng Quý phi vẫn là đặc biệt, vì những người khác đều có xuất thân và địa vị thấp, trong khi Đồng Quý phi là từ vị trí chỉ sau Hoàng hậu và Hoàng quý phi. Một bước xuống hàng thấp Quý nhân, đó thật sự là một đại biến.
Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), sau khi lên ngôi, ngày 21 tháng 1 (tức ngày 4 tháng 3 dương lịch) Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế đã tấn tôn bà lên thành Hoàng khảo Đồng tần (皇考彤嬪), đến ngày 15 tháng 3 năm (ngày 16 tháng 4 dương lịch) Hàm Phong nguyên niên (1861), cử hành lễ sắc phong cho Đồng tần. Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), ngày 10 tháng 10 (âm lịch), Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế tấn phong cho bà là Hoàng tổ Đồng phi (皇祖彤妃). Năm Đồng Trị thứ 13 (1874), ngày 16 tháng 11 (ngày 24 tháng 12 dương lịch) , Từ An Thái hậu cùng Từ Hi Thái hậu ra chỉ, tấn phong làm Hoàng tổ Đồng Quý phi (皇祖彤貴妃) nhằm xung hỉ cho bệnh tình của Đồng Trị Đế, trong đợt đó khắp lục cung tần phi đều được tấn phong. [10]
Ngày 12 tháng 10 (âm lịch) năm Quang Tự nguyên niên (1875), Đồng Quý phi tạ thế, khi đó bà được 59 tuổi, kim quan tạm quàn tại Điền Thôn.[11]
Năm Quang Tự thứ 3 (1877), Đồng Quý phi qua đời, tạm an ở Điền thôn. Ngày 3 tháng 9, giờ Dần, Đồng Quý phi kim quan phụng di. Ngày 8 tháng 9, nhập táng tại Mộ Đông lăng (慕东陵) thuộc Thanh Tây lăng.[12]
Hậu duệ
- Hoàng thất nữ 2 tháng 7 năm 1840 - 20 tháng 12 năm 1844].
- Thọ Hi Hòa Thạc Công chúa [壽禧和碩公主; 26 tháng 12,1841 - 2 tháng 8 năm 1866], con gái thứ 8 của Đạo Quang Đế, hạ giá lấy Trát Lạp Phong A (扎拉丰阿) thuộc danh tộc Tát Khắc Đặc đại tông.
- Hoàng thập nữ [17 tháng 3 năm 1844 - 20 tháng 1, 1845].
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim ảnh | Diễn viên | Nhân vật |
| 2011 | Vạn Phụng Chi Vương | Phan Quan Lâm |
Thư Mục Lộc Dĩnh Đồng |
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Bị giáng xuống Quý nhân
- ^ Được phục lại vị hiệu dưới thời Đồng Trị
- ^ 宣宗彤贵妃出身正黄旗满洲舒穆禄氏,所属大系不明。她的父亲玉彰由候补笔帖式考中内阁中书出仕,嘉庆年间历任军机章京、内阁侍读、刑部郎中,在嘉庆末年出为直隶热河道,因故降级。道光十一年又出任吏部郎中,在道光十四年兼摄内务府六库郎中事务。玉彰生有一个儿子和至少两个女儿,独子名为文润,曾任山西应州知州。已知的两位女儿里,除一位为彤贵妃之外,还有一位比彤贵妃年幼,嫁给旗人和顺。玉彰在道光二十六年初病故,文润只留下一个女儿,导致其家族绝嗣。
- ^ 道光十一年(1831)入宫,初赐号彤贵人。居咸福宫。时年15岁。封号“彤”,满语为“jaksangga”,意为“鲜艳美丽的”。
- ^ 〇庚辰。命礼部尚书耆英为正使。署右侍郎内阁学士文庆为副使。持节赍册册封彤贵人舒穆禄氏为彤嫔。册文曰。朕惟六宫起化。鞠衣佐中阃之勤。九御修仪。兰殿重内宫之选惟徽章之克协斯宠命之攸颁。咨尔彤贵人舒穆禄氏。质秉柔嘉。性成淑慎。蚀机丝而襄事柘馆扬芬佩箴管以分猷。萱帏锡庆。兹仰承皇太后懿旨、晋封尔为彤嫔。申之册命。尔其恩承芝检。迓蕃祉以长膺。度式椒涂。励芳规而益懋钦哉。
- ^ 《日記檔》:道光十二年 十一月,奴才祿喜謹奏,於十一月初八日,咸福宮彤嬪接冊,奴才率領中和樂首領太監伺候作樂。謹此奏聞。奴才祿喜謹奏於十一月初八日,彤嬪賞祿喜小卷五絲緞一件,小荷包一對;賞中和樂首領梁忠、尤進喜每名小荷包一對、檳榔口袋一個。太監等銀二兩。謹此奏聞。dịch nguyên văn sang tiếng Việt
- ^ 道光十三年癸巳八月十五日(1833.9.28),彤嫔诏晋彤妃。另有静妃博尔济吉特氏诏晋静贵妃。 道光十四年甲午十一月初三(1834.12.3)行册封礼。时年18岁。
- ^ 道光十六年丙申七月初七日,彤妃晋为彤贵妃。同年十二月二十一日(1837.1.27)行册封礼。时年20岁。
- ^ 《清代宫廷档案集成》: :九月初十日,总管许福喜、沈魁奉旨,据总管内务府大臣具奏,遵旨查收咸福宫太监李得喜房间物件等项,朕看单开各款,大半皆系朕赐彤贵妃之物,命送进呈览,果俱系官物,其未经查出之银两、尺头等件,亦必不少,或埋藏或寄顿,已着刑部根究,彤贵妃受朕厚恩多年,不想如此丧良,不知自重,李得喜何等下贱不堪之物,乃如此狎比亲信,实属大负朕恩,有玷贵妃之位,着革去贵妃,降为彤贵人,其金册宝印即行交出,命广储司收贮,朝衣朝冠交敬事房,九月底进宫时呈览,钦此。
- ^ 咸丰元年辛亥三月十五日(1851.4.16),行册尊礼。时年35岁。 咸丰十一年辛酉十一月(1861.12.2 — 1861.12.30),同治帝晋尊为皇祖彤妃。时年45岁。 同治十三年甲戌十一月十六日(1874.12.24),为给病中的同治帝冲喜,两宫太后下旨大封六宫。彤妃也因此被晋尊为皇祖彤贵妃。时年58岁。
- ^ 光绪元年乙亥(1875)十月十二日,彤贵妃逝世,享年五十九岁。金棺暂安于田村。
- ^ 光绪三年丁丑九月初三日(1877.10.9)寅时由田村奉移,九月初八巳时,奉安于慕东陵。