Trong thần thoại Hy Lạp, Achilleus hay Achilles (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; phiên âm tiếng Việt dựa trên tiếng Pháp: A-sin) là nhân vật trung tâm và là chiến binh vĩ đại nhất của quân Hy Lạp trong cuộc chiến thành Troia, nhắc đến nhiều nhất trong sử thi Iliad. Những tích truyện về sau (bắt đầu với một bài thơ của Satius khoảng thế kỷ thứ nhất sau công nguyên) mô tả Achilles có một cơ thể không thể bị thương ngoại trừ gót chân của anh. Achilles đã chết vì bị thương ở gót chân, từ đó có câu thành ngữ "gót chân Achilles" thường dùng để nói về điểm yếu của mỗi người.

Tập tin:Thetis Bringing Armor to Achilles II by Benjamin West.jpg
Hoạ phẩm về Achilles (A-sin) và Thetis
Tập tin:Achilles by Lycomedes Louvre Ma2120.jpg
Achilles, bảo tàng Louvre
Tập tin:The Education of Achilles, by James Barry.jpg
Nhân mã Chiron đang chỉ dạy cho Achilles

Achilles sinh ra bởi Thetis, nữ thần biển, với vua Hy Lạp Peleus, có mẹ thì bất tử nhưng bố là người trần, vì thế Achilles cũng sẽ như bố, không sống mãi mãi được. Khi Achilles được sinh ra đã được tiên tri là chàng sẽ chết trong chiến trận. Để giúp sự trường tồn của con, Thetis đã dốc ngược người cậu bé, hai tay giữ 2 gót chân, rồi nhúng cả người cậu vào nước sông Styx, nhưng nàng lại quên nhúng 2 gót chân vào nước. Vậy là cả người Achilles là bất tử, duy chỉ có 2 gót chân là yếu vì không được nhúng nước. Peleus thấy cảnh đó tưởng vợ mình giết con bèn giật lại Achilles từ tay vợ. Trong lúc giằng co, xương ống chân của chàng bị gãy. Thetis tức giận bỏ về thủy cung và không gặp lại chồng nữa. Peleus đưa con trai cho nhân mã Chiron nhờ ông nuôi dưỡng. Cheiron thay xương ống chân người khổng lồ cho chàng để chàng trở thành người chạy nhanh nhất thế giới, thay gan sư tử, tim gấu cho chàng dũng cảm và không biết sợ gì.

Cuộc chiến thành Troia nổ ra. Có lời tiên tri quân Hy Lạp sẽ không chiếm được thành Troia nếu không có Achilles. Do đó Agamemnon, sai Odysseus tìm Achilles. Nữ thần Thetis biết cuộc chiến nổ ra nên giấu con trai lên một quốc đảo và bắt chàng giả làm thị nữ. Odysseus nghĩ ra cách để tìm ra chàng. Odysseus đem binh khí, mỹ phẩm, nước hoa đến đây bán. Các thị nữ đều vây quanh mua son phấn nhưng có một người cứ săm soi các thứ vũ khí. Odysseus biết ngay là Achilles bèn mời chàng tham gia cuộc chiến. Achilles vui vẻ nhận lời. Thetis biết không cản được con nên đưa cho con cây giáo thần của các thần tặng bà trong lễ cưới. Achilles tham gia cuộc chiến. Chàng là chiến binh vĩ đại nhất của Hy Lạp trong trận chiến. Nhưng do mâu thuẫn với Agamemnon quanh việc giành một nữ tù binh mà Achilles rời bỏ cuộc chiến. Thetis bèn cầu xin thần Zeus trừng phạt Hy Lạp vì đã làm nhục con trai bà. Zeus nhận lời và khiến quân đội Hy Lạp gặp phải 1 trận đại dịch. Khi quân Troia sắp đánh đuổi được quân Hy Lạp về nước thì tri kỉ của chàng là Patroclus bị Hector giết chết. Achilles tức giận quay lại trận chiến trả thù cho bạn, người chàng yêu thương nhất, chàng được mẹ ban cho chiếc khiên thần của thần Lửa và nhờ sự giúp sức của thần Athena chàng đâm chết Hector trước mặt cha của Hector, vua Priam, rồi kéo lê xác Hector quanh thành Troia bằng xe ngựa. Vua Priam cầu xin Achilles cho ông xin lại xác con trai. Achilles cảm động đồng ý.

Sau đó Achilles tiếp tục lập nhiều chiến công cho quân Hy Lạp như giết 7 người con của vua Priam, giết nữ hoàng Amazon Penthesilea. Nhưng cuối cùng do chàng có thái độ nhục mạ thần Apollo nên bị thần hướng mũi tên độc của Paris vào gót chân, nơi duy nhất trên cơ thể chàng có thể bị tổn thương. Achilles gục xuống chết. Từ đó thành ngữ "gót chân Achilles" ra đời. Quân Hy Lạp làm lễ tang cho chàng một cách trọng thể sau khi chiếm được thành Troia.

Những năm đầu đời

Tập tin:The Education of Achilles 1862 Delacroix.jpg
Bức tranh "Sự giáo dục dành cho Achilles" do Eugène Delacroix vẽ bằng phấn màu trên giấy vào khoảng năm 1862, hiện lưu giữ tại Trung tâm Getty, Los Angeles)

Achilles là con trai của Peleus (vua tộc Myrmidon) và nữ thần biển Thetis (con gái thần biển Nereus). Ban đầu, cả Zeus lẫn Poseidon đều muốn cưới Thetis. Tuy nhiên, Prometheus — vị thần nhìn trước tương lai — đã cảnh báo Zeus về lời sấm truyền của nữ thần pháp tắc Themis: con trai của Thetis sau này sẽ mạnh hơn cả cha mình. Nghe vậy, hai vị thần tối cao đành rút lui và gả nàng cho người thường là Peleus.[1]

Truyền thuyết cũng ghi nhận một dị bản khác: Trong thiên trường ca Argonautica (4.760), nữ thần Hera (vừa là chị, vừa là vợ Zeus) có đề cập đến việc Thetis kiên quyết từ chối sự theo đuổi của Zeus. Vì từng được Hera nuôi dưỡng nên Thetis rất coi trọng thệ nguyện hôn nhân của bà, thẳng thừng khước từ chúa tể các vị thần. Giận dữ trước điều này, Zeus ra sắc lệnh phạt Thetis không bao giờ được kết hôn với bất kỳ vị thần bất tử nào.[2]

Theo trường ca Achilleid của nhà thơ Statius (thế kỷ I CN) và một số nguồn tin cổ đã thất truyền, khi Achilles mới sinh, Thetis đã nắm gót chân trái của cậu rồi nhúng cậu xuống sông Styx dưới âm phủ để giúp con trở nên bất tử. Do gót chân là nơi tay mẹ cầm nên không dính nước sông, đây trở thành điểm yếu chí mạng duy nhất trên cơ thể cậu (đây cũng là nguồn gốc của các thuật ngữ "gót chân Achilles" và "gân Achilles").[3] Hiện chưa rõ chi tiết gót chân này có từ trước thời Statius hay không.

Một dị bản khác lại kể rằng Thetis đã thoa mỡ thần lên người Achilles rồi đặt cậu vào ngọn lửa để thiêu rụi phần phàm trần. Đang thực hiện thì Peleus phát hiện và can thiệp, khiến Thetis giận dữ bỏ đi, để lại cả hai cha con.[4]

Thực tế, không có bất kỳ nguồn tư liệu nào trước thời Statius đề cập đến việc Achilles sở hữu thân thể bất hoại. Trái lại, trong trường ca Iliad, Hómēros từng mô tả Achilles bị thương: ở Khúc 21, dũng sĩ Asteropaios người Paeonia (con trai Pelagon) đã thách đấu với Achilles bên dòng sông Scamander. Nhờ khả năng sử dụng thành thục cả hai tay, Asteropaios phóng liền hai ngọn giáo; một ngọn sượt qua khuỷu tay Achilles khiến "máu phun ra". Trong các mảnh tàn thư còn lại thuộc Sử thi Chu kỳ (Epic Cycle) kể về cái chết của vị anh hùng này (như các tác phẩm Cypria, Little Iliad của Lesches, hay AethiopisIliupersis của Arctinus), cũng hoàn toàn không tìm thấy ghi chép nào nói về việc ông có thân thể bất xâm phạm hay điểm yếu ở gót chân. Ngay cả các bức vẽ trên bình gốm thời kỳ sau mô tả cảnh Achilles tử trận cũng chỉ thể hiện những mũi tên cắm vào phần thân trên của ông.

Tập tin:Achilleus Lyra.jpg
Bức bích họa La Mã thế kỷ I CN tại Herculaneum mô tả Nhân mã Chiron đang dạy Achilles chơi đàn lyre

Để con trai được nuôi dưỡng và giáo dục bài bản, Peleus đã gửi gắm Achilles cho Chiron — vị Nhân mã công chính nhất, sống trên núi Pelion.[5] Một số tài liệu ghi nhận tên ban đầu của Achilles là "Ligyron", về sau mới được thầy Chiron đổi tên thành Achilles.[6] Theo Hómēros, Achilles lớn lên ở vùng Phthia cùng người bạn tri kỷ từ thời thơ ấu là Patroclus.[7] Achilles cũng truyền dạy lại cho Patroclus những kiến thức mình học được từ Chiron, bao gồm cả y thuật.[8] Nữ thần Thetis từng tiên đoán số phận của con trai: một là gặt hái vinh quang hiển hách nhưng chết trẻ, hai là sống một đời bình lặng, dài lâu nhưng chìm trong vô danh. Achilles đã chọn vinh quang và quyết định tham gia Cuộc chiến thành Troia.[9]

Theo ghi chép của Photius (trích từ cuốn 6 bộ Lịch sử Mới của Ptolemy Hephaestion), Thetis từng bí mật đem thiêu tất cả những đứa con mà nàng sinh ra với Peleus. Đến lượt Achilles, Peleus kịp thời phát hiện và giật con khỏi đống lửa. Cậu bé sống sót nhưng bị bỏng phần bàn chân, sau đó được cha gửi gắm cho Nhân mã Chiron. Để chữa trị, Chiron đã quật mộ Damysus — gã khổng lồ chạy nhanh nhất thời đó — rồi lấy xương mắt cá chân của hắn đem ghép vào bàn chân bị bỏng của Achilles.[10]

Đặc điểm ngoại hình

Trong sử thi Iliad của Hómēros, Achilles được miêu tả là người cao lớn, vạm vỡ và có diện mạo vô cùng cuốn hút. Sức mạnh lẫn ngoại hình của ông đều vượt trội hơn hẳn các chiến binh Hy Lạp cùng thời.[11] Hómēros tả ông có mái tóc dài bồng bềnh tựa bờm ngựa (χαίτη).[12][13] Tương tự một số nhân vật khác, màu tóc của Achilles được mô tả bằng từ xanthḗ (ξανθή),[14] mang nghĩa là "vàng" — thuật ngữ vốn dùng để chỉ các tông tóc sáng như vàng, nâu sáng, vàng óng hay nâu đỏ.[15][16] Sau này, nhà văn Philostratus còn viết rằng Achilles sở hữu đôi mắt màu hổ phách sắc bén tựa mắt sư tử.[17]

Một văn bản tiếng Latinh xuất hiện muộn hơn (khoảng thế kỷ V CN) — từng bị gán nhầm tác quyền cho Dares Phrygius — đã miêu tả Achilles là người có "...lồng ngực nở rộng, đường nét khuôn miệng đẹp cùng tay chân vạm vỡ, săn chắc. Mái tóc ông dài, gợn sóng và mang màu hạt dẻ (capillo myrteo, màu sắc tương tự vỏ cây kim tơ hoặc nhựa mộc dược).[18] Dù ngày thường tính cách khá ôn hòa, ông lại vô cùng dữ dội khi xung trận. Gương mặt ông luôn toát lên vẻ rạng rỡ của một người được tạo hóa ưu ái ban tặng nhiều đặc ân."[19]

Ẩn náu trên đảo Skyros

Tập tin:Gaziantep Zeugma Museum Achilles mosaic in 2011 2098.jpg
Tranh khảm minh họa Achilles đóng giả làm một người phụ nữ và Odysseus đã khiến ông phải lộ diện thân phận.

Một số nguồn tư liệu xuất hiện sau thời Hómēros[cho biết, nhằm bảo vệ Achilles khỏi nguy cơ tử trận, nữ thần Thetis (hoặc trong một số dị bản là Peleus) đã đưa vị anh hùng trẻ tuổi đến ẩn náu tại cung điện của Lycomedes — vua đảo Skyros — dưới hình danh một công chúa hay thiếu nữ. Tại đây, Achilles sống trà trộn giữa các công chúa con vua Lycomedes dưới những bí danh như "Pyrrha" (nghĩa là "cô gái tóc đỏ"), Cercysera hay Aissa ("nhanh nhẹn"[20]).[21] Trong thời gian ẩn náu, ông nảy sinh tình cảm với công chúa Deidamia và có cùng nàng hai người con trai: Neoptolemus (còn gọi là Pyrrhus, đặt theo bí danh của cha) và Oneiros.

Theo truyền thuyết, nhà tiên tri Calchas phán rằng quân Achaea (Hy Lạp) sẽ không thể hạ được thành Troia nếu thiếu đi sự trợ giúp của Achilles. Biết được manh mối này, Odysseus đã cải trang thành một thương nhân chuyên bán quần áo và nữ trang phụ nữ để tìm đến Skyros, nhưng khéo léo gài thêm một chiếc khiên cùng ngọn giáo vào giữa gánh hàng. Ngay khi Achilles vô thức vươn tay lấy ngọn giáo, Odysseus đã nhận ra thân phận thật của ông và thuyết phục vị anh hùng gia nhập lực lượng Hy Lạp. Một dị bản khác lại kể rằng, Odysseus đã dàn dựng một tiếng tù và báo động giả trong cung điện; trong khi các thiếu nữ hoảng loạn tháo chạy, Achilles lại đứng ra chuẩn bị chiến đấu để bảo vệ hoàng cung, qua đó tự làm lộ diện thân phận của mình.

Cuộc chiến thành Troia

Trong các tác phẩm của Hómēros, từ Hellenes ban đầu vốn dùng để chỉ một bộ tộc tương đối nhỏ định cư tại vùng Phthia thuộc Thessaly, tập trung quanh các khu định cư như Alos, Alope, Trachis và Pelasgian Argos.[22] Vùng đất Hellas thời Hómēros này được miêu tả là "καλλιγύναικος" (kalligýnaikos — nghĩa là "xứ sở của những người phụ nữ đẹp"). Các chiến binh Hellene cùng đội quân Myrmidon tinh nhuệ, đáng sợ tại đây đều đặt dưới quyền chỉ huy của Achilles.

Theo sử thi Iliad, Achilles tiến về thành Troia với hạm đội gồm 50 chiến thuyền, mỗi thuyền chở 50 chiến binh Myrmidon. Ông chia quân đội thành 5 đơn vị (mỗi đơn vị gồm 500 quân) và giao cho 5 vị thủ lĩnh chỉ huy: Menesthius, Eudorus, Peisander, PhoenixAlcimedon.[23]

Vua Telephus

Khi quân Hy Lạp giông buồm sang đánh thành Troia, họ đã đi chệch hướng và vô tình đổ bộ vào lãnh thổ Mysia do Vua Telephus cai trị. Trong cuộc giao tranh bùng nổ sau đó, Achilles đã đâm Telephus một vết thương nghiêm trọng. Khi Telephus tìm đến thần dụ để xin chỉ dẫn, thần dụ phán rằng: "Kẻ gây ra vết thương cũng chính là người chữa lành nó." Theo lời dạy này, ông tìm đến Argos và được Achilles chữa khỏi; đổi lại, Telephus đồng ý làm người dẫn đường cho đoàn quân Hy Lạp tiến đến thành Troia.[24]

Tuy nhiên, trong vở bi kịch đã thất truyền của Euripides viết về Telephus, câu chuyện lại diễn ra theo cách khác: Telephus cải trang thành một kẻ ăn xin tìm đến vùng Aulis để cầu xin Achilles chữa trị. Achilles ban đầu từ chối vì cho rằng mình không có hiểu biết về y thuật. Ở một chi tiết khác của vở kịch, Telephus còn bắt giữ cậu bé Orestes làm con tin nhằm ép Achilles phải chữa thương cho mình. Nhận thấy bế tắc, Odysseus mới lý giải rằng chính ngọn giáo của Achilles mới là thứ trực tiếp gây ra vết thương, nên bản thân ngọn giáo cũng phải mang năng lực chữa lành. Người ta bèn cạo mạt sắt từ ngọn giáo rắc lên vết thương, và Telephus đã hoàn toàn hồi phục.[24]

Trong trường ca Iliad

Trường ca Iliad của Hómēros là tác phẩm nổi tiếng nhất ghi chép về những chiến công của Achilles trong Cuộc chiến thành Troia. Trong đó, cơn thịnh nộ của Achilles (μῆνις Ἀχιλλέως, mênis Achilléōs) chính là chủ đề trung tâm xuyên suốt toàn bộ thiên sử thi. Hai câu thơ mở đầu của Iliad viết rằng:

Μῆνιν ἄειδε θεὰ Πηληιάδεω Ἀχιλῆος

οὐλομένην, ἣ μυρί' Ἀχαιοῖς ἄλγε' ἔθηκε, [...]

Hỡi Thi Thần, xin cất lời ca phẫn nộ dâng lên trong lòng Achilleus,

phẫn nộ tai hại đem lại muôn vàn đau khổ cho binh sĩ Achaian, [...][Chú thích 1]

Bộ sử thi của Hómēros chỉ xoay quanh vài tuần ngắn ngủi trong cuộc chiến kéo dài suốt một thập kỷ và không đề cập đến cái chết của Achilles. Mở đầu tác phẩm là việc Achilles quyết định rút khỏi chiến trường do bị Agamemnon — vị tổng chỉ huy lực lượng Achaea — xúc phạm danh dự. Nguyên do bắt đầu từ việc Agamemnon bắt một nữ nhân tên là Chryseis làm nô lệ. Cha của nàng là Chryses, một tư tế thờ thần Apollo, đã tìm đến van xin Agamemnon trả lại con gái. Bị Agamemnon thẳng thừng từ chối, Chryses cầu xin Apollo và vị thần này đã trút một trận dịch bệnh kinh hoàng xuống quân Hy Lạp. Nhà tiên tri Calchas nhận ra nguyên nhân của tai họa nhưng không dám nói ra, trừ khi được Achilles thề bảo vệ mạng sống. Được Achilles cam kết, Calchas tuyên bố Chryseis phải được trả tự do về với cha nàng. Agamemnon đành chấp thuận, nhưng lại ngay lập tức bắt Achilles phải nộp lại nữ nô lệ của ông là Briseis (con gái của Briseus) để bù đắp tổn thất.

Tập tin:Wall painting - Briseis taken away from Achilles - Pompeii (VI 8 5) - Napoli MAN 9105 - 01.jpg
Achilles giao nộp Briseis cho Agamemnon, bức tranh tường La Mã cổ đại thế kỷ I CN khai quật từ "Ngôi nhà của Nhà thơ Bi kịch" (House of the Tragic Poet) ở Pompeii (hiện được trưng bày tại Bảo tàng Khảo cổ Quốc gia Naples).

Uất hận vì bị cướp mất chiến lợi phẩm lẫn danh dự (và như sau này ông tự nhận, là vì ông thực lòng yêu Briseis),[25] Achilles nghe theo lời khuyên của mẹ là nữ thần Thetis, quyết định đình công: tuyệt đối không tham chiến hay dẫn dắt quân đội của mình sát cánh cùng lực lượng Hy Lạp. Đồng thời, vì căm tức trước hành vi tước đoạt của Agamemnon, Achilles cầu xin mẹ thuyết phục thần Zeus giúp quân Troia chiếm ưu thế trên chiến trường, qua đó buộc phe Hy Lạp phải nhận ra giá trị của ông và trả lại danh dự cho ông. Dưới sự can thiệp của Zeus, cục diện trận đánh nhanh chóng bất lợi cho quân Hy Lạp. Lão tướng Nestor nhận định rằng quân Troia đang lấn lướt chính vì Agamemnon đã làm chọc giận Achilles, ông giục vị vua này phải tìm cách làm hòa. Agamemnon đồng ý và cử Odysseus cùng hai thủ lĩnh khác là Ajax và Phoenix đến thương lượng. Họ hứa rằng nếu Achilles chịu tái xuất, Agamemnon sẽ trao trả Briseis cùng vô số lễ vật hậu nghĩnh. Tuy nhiên, Achilles từ chối toàn bộ và còn khuyên quân Hy Lạp nên giương buồm trở về quê nhà.

Dưới sự dẫn dắt của Hector, quân Troia tiếp tục đẩy lùi phe Hy Lạp về sát bờ biển và tấn công thẳng vào hạm đội thuyền. Đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, Patroclus đã khoác lên mình bộ giáp của Achilles để dẫn dắt đội quân Myrmidon xông trận, dù Achilles vẫn kiên quyết ở lại doanh trại. Patroclus thành công đẩy lùi quân Troia khỏi khu vực bờ biển, nhưng ông đã bị Hector hạ sát trước khi kịp mở cuộc tấn công quy mô vào chính thành Troia. Khi nhận tin báo tử của Patroclus từ Antilochus (con trai của Nestor), Achilles chìm đắm trong nỗi đau đớn tột cùng. Nữ thần Thetis vội đến an ủi đứa con đang quẫn trí, rồi cầu xin thần thợ rèn Hephaestus chế tác cho ông một bộ giáp mới để thay thế bộ giáp cũ đã bị Hector tước đoạt. Binh khí mới này bao gồm chiếc Khiên Achilles lừng danh, một tuyệt tác nghệ thuật được miêu tả vô cùng chi tiết trong thiên sử thi.

Sôi hừng hực phẫn nộ trước cái chết của bạn, Achilles từ bỏ việc đình công và chính thức tái xuất chiến trường. Trong cơn điên cuồng, ông tàn sát vô số quân thù nhưng ánh mắt vẫn ráo riết truy tìm Hector. Achilles thậm chí còn giao chiến với thần sông Scamander — vị thần nổi giận vì dòng chảy bị tắc nghẽn bởi vô số xác chết do ông gặt hái. Thần sông định nhấn chìm Achilles nhưng đã bị Hera và Hephaestus kịp thời ngăn lại.

Tập tin:The Rage of Achilles by Giovanni Battista Tiepolo.jpeg
Cơn thịnh nộ của Achilles (The Rage of Achilles), bức tranh tường kiệt tác do họa sĩ Giovanni Battista Tiepolo thực hiện năm 1757 tại Biệt thự Valmarana ai Nani (Vicenza, Ý), thể hiện khoảnh khắc Achilles tuốt kiếm định đâm Agamemnon nhưng được nữ thần Athena can ngăn.

Chính Zeus cũng nhận thấy sức mạnh hủy diệt từ cơn thịnh nộ của Achilles nên đã cử các vị thần xuống can thiệp, ngăn không cho ông san bằng thành Troia — chi tiết này như muốn khẳng định rằng cơn giận dữ không gì cản nổi của Achilles đủ sức thách thức cả định mệnh. Và cuối cùng, Achilles cũng đã đối mặt với con mồi của mình.

Tập tin:The Triumph of Achilles by Franz von Matsch.jpg
Sự khải hoàn của Achilles (The Triumph of Achilles), bức tranh tường hoành tráng do họa sĩ Franz von Matsch vẽ tại Cung điện Achilleion (đảo Corfu, Hy Lạp), mô tả cảnh Achilles kéo thi thể Hector đằng sau chiến xa trước tường thành Troia.

Achilles đuổi theo Hector ba vòng quanh tường thành Troia cho đến khi nữ thần Athena cải trang thành Deiphobus — người em trai mà Hector yêu quý nhất — để thuyết phục Hector dừng lại và quyết chiến sòng phẳng với Achilles. Khi nhận ra mình bị lừa, Hector biết trận chiến là điều không thể tránh khỏi. Với ý nguyện chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, ông vút kiếm lao vào Achilles nhưng đánh hụt. Chấp nhận số phận, Hector xin Achilles sau khi hạ sát hãy đối xử tôn trọng với thi thể của mình thay vì sỉ nhục. Achilles đáp trả thẳng thừng rằng đó là điều không tưởng: "Cơn phẫn nộ và uất hận trong ta lúc này chỉ muốn xẻ thịt ngươi ra mà ăn sống — vì những đau thương khôn xiết mà ngươi đã gây ra cho ta." Achilles sau đó kết liễu Hector, xỏ dây qua gót chân thi thể ông rồi buộc vào sau chiến xa để kéo đi. Sau khi nằm mơ thấy Patroclus hiện về cầu xin làm lễ an táng, Achilles đã đứng ra tổ chức một chuỗi các cuộc thi tài thể thao để tưởng nhớ người bạn tri kỷ.[26]

Được sự trợ giúp của thần Hermes, Vua Priam — cha của Hector — đã bí mật tìm đến doanh trại của Achilles để xin lại xác con trai về an táng. Achilles mủi lòng trắc ẩn nên đồng ý, đồng thời cam kết đình chiến trong suốt thời gian diễn ra tang lễ. Thiên sử thi kết thúc bằng mô tả về tang lễ của Hector.

Penthesilea và Memnon

Tập tin:Akhilleus Memnon Staatliche Antikensammlungen 1410.jpg
Chiếc bình hai quai gốm đen Attica (khoảng năm 510 TCN) phát hiện tại Vulci, mô tả cuộc giao chiến giữa Achilles và Memnon trước sự chứng kiến của hai nữ thần Thetis và Eos.

Các tác phẩm xuất hiện về sau, bao gồm trường ca Aethiopis (thế kỷ VII TCN) và tác phẩm PostHómērosica do Quintus ở Smyrna sáng tác vào thế kỷ IV CN, đã ghi chép thêm những diễn biến tiếp theo của Cuộc chiến thành Troia. Khi Penthesilea — nữ hoàng của tộc nữ chiến binh Amazon, con gái thần chiến tranh Ares — tiến về ứng cứu thành Troia, Vua Priam từng đặt hy vọng nàng sẽ đánh bại được Achilles. Tuy nhiên, sau thời hạn đình chiến tạm thời với Priam, Achilles đã giao chiến và hạ sát nữ chiến binh này, để rồi sau đó chính ông lại ngậm ngùi xót thương trước cái chết của nàng.[27]

Sau cái chết của Patroclus, Antilochus — con trai của lão tướng Nestor — trở thành người bạn tri kỷ gắn bó nhất với Achilles. Achilles vốn đã rất quý mến Antilochus, nên Menelaus nhận định Antilochus là người thích hợp nhất để báo tin dữ về Patroclus cho Achilles.[28] Về sau, Memnon — vua xứ Ethiopia và là con trai của Nữ thần Rạng đông Eos — đã hạ sát Antilochus khi vị anh hùng trẻ tuổi này xả thân cứu cha. Theo tác phẩm Imagines của Philostratus, Achilles đã đau đớn khóc thương Antilochus ngay trên chiến trường, hứa cử hành một lễ an táng hiển hách và thề sẽ trả thù. Achilles một lần nữa thực hiện trọn vẹn lời thề báo thù khi hạ gục Memnon trên chiến trường.[29] Đau xót trước cái chết của con trai, thần Eos kiên quyết không chịu cho mặt trời mọc cho đến khi thần Zeus đứng ra thuyết phục. Cuộc quyết chiến giữa Achilles và Memnon để trả thù cho Antilochus tái hiện lại chính cuộc đối đầu giữa Achilles và Hector vì Patroclus, chỉ khác ở chỗ Memnon (không giống như Hector) cũng là con trai của một nữ thần.

Nhiều nhà nghiên cứu sử thi Hómēros nhận định rằng giai thoại này chính là nguồn cảm hứng cho nhiều chi tiết trong Iliad khi mô tả về cái chết của Patroclus cũng như phản ứng của Achilles. Câu chuyện sau đó trở thành cốt truyện chính cho bản trường ca Aethiopis thuộc Sử thi Chu kỳ, được sáng tác sau thời Iliad (khoảng thế kỷ VII TCN). Ngày nay, tác phẩm Aethiopis đã bị thất truyền, chỉ còn lại những mảnh tàn thư rải rác do các tác giả thời sau trích dẫn lại.

Achilles và Patroclus

Tập tin:Akhilleus Patroklos Antikensammlung Berlin F2278.jpg
Hình ảnh Achilles chăm sóc, băng bó vết thương cho Patroclus trên chén gốm đỏ kylix (khoảng 500 TCN).

Bản chất thực sự trong mối quan hệ giữa Achilles và Patroclus vẫn là chủ đề gây tranh cãi kéo dài từ thời Cổ đại cho đến tận ngày nay. Trong trường ca Iliad, đây được xem là hình mẫu tiêu biểu cho một tình bạn sâu sắc và thủy chung. Hómēros dường như không hề ám chỉ việc Achilles và người bạn thân thiết Patroclus có quan hệ về mặt tình dục với nhau.[30][31] Mặc dù nguyên tác Iliad không cung cấp bằng chứng rõ ràng cho thấy hai người là tình nhân, giả thuyết này vẫn được nhiều tác giả thời sau ủng hộ.

Các nhà bình luận từ thời Cổ đại đến nay thường giải thích mối quan hệ này qua lăng kính văn hóa của chính thời đại họ. Tại Athens vào thế kỷ V TCN, tình gắn kết mãnh liệt này thường được lý giải theo tục paiderasteia của người Hy Lạp — tức mối quan hệ bảo hộ và tình cảm giữa một người đàn ông trưởng thành với một thanh thiếu niên. Trong tác phẩm Yến hội (Symposium) của Platon, các nhân vật tham gia cuộc thảo luận về tình yêu đều ngầm thừa nhận Achilles và Patroclus là một cặp đôi.[32] Ngược lại, trong tác phẩm Yến hội của Xenophon, Socrates lại khẳng định Achilles và Patroclus không phải là tình nhân mà chỉ duy trì một tình bạn tinh thần thuần khiết.

Nhà nghiên cứu Kenneth Dover nhận định rằng tiếng Hy Lạp cổ đại vốn không có thuật ngữ riêng để phân biệt giữa xu hướng tính dục dị giớiđồng giới;[33] thời đó, xã hội mặc định một người đàn ông hoàn toàn có thể vừa bị thu hút bởi các thanh niên tuấn tú, vừa có thể vẫn quan hệ tình dục với phụ nữ. Dù vậy, một số văn bản Hy Lạp cổ đại vẫn nhìn nhận rằng có những người đàn ông bẩm sinh chỉ có cảm xúc với nam giới và họ chỉ lấy vợ sinh con do nghĩa vụ.[33] Trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều cặp đôi nam giới có mối quan hệ gắn kết đặc biệt thường được so sánh với Achilles và Patroclus nhằm hàm ý về một mối tình đồng giới.[34]

Cái chết

Tập tin:Aias body Akhilleus Staatliche Antikensammlungen 1884.jpg
Ajax khiêng thi thể Achilles.

Ngay cả khi chỉ xét riêng trong các nguồn thư tịch cổ nhất, cái chết của Achilles vẫn là một chủ đề phức tạp với nhiều dị bản khác nhau. Khởi đầu từ lời kể lâu đời nhất trong khúc 22 của trường ca Iliad, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Hector đã đưa ra lời tiên đoán rằng Paris và thần Apollo sẽ kết liễu Achilles ngay tại Cổng Scaean dẫn vào thành Troia (theo tác giả Statius thì là do một mũi tên bắn trúng gót chân). Trong khúc 23, linh hồn u buồn của Patroclus hiện về thăm Achilles khi ông vừa chợp mắt, khẩn cầu được đặt tro xương của mình chung với tro xương của Achilles trong chiếc bình bằng vàng — món quà do chính mẹ ông trao tặng.

Trong khúc 11 của trường ca Odyssey, Odysseus giương buồm xuống âm phủ và trò chuyện với các linh hồn. Một trong số đó là Achilles. Khi được Odysseus ca ngợi là "kẻ vinh hiển lúc sống, ngự trị khi chết", Achilles liền đáp lại rằng ông thà làm nô lệ cho kẻ tồi tệ nhất trên trần gian còn hơn làm vua của toàn bộ cõi âm. Tuy nhiên, Achilles sau đó đã sốt sắng hỏi thăm về những chiến công của con trai mình trong Cuộc chiến thành Troia, và Odysseus đã kể cho ông nghe về những hành động dũng cảm của Neoptolemus.[35]

Khúc 24 của Odyssey mang đến góc nhìn từ vong linh của Vua Agamemnon về cái chết của Achilles: những phần xương trắng thu gom từ hỏa đài tang lễ của Achilles được hòa chung với tro xương của Patroclus và đặt trong chiếc bình vàng của nữ thần Thetis. Ngoài ra, hài cốt của Antilochus — người trở nên thân thiết nhất với Achilles sau cái chết của Patroclus — cũng được cất giữ riêng biệt. Người ta đã cử hành các cuộc thi tài thể thao tưởng niệm theo đúng nghi thức dành cho một vị anh hùng, đồng thời đắp một ngôi mộ vĩ đại trên eo biển Hellespont để những thủy thủ đi ngang qua có thể chiêm bái.[36]

Trong trường ca Aethiopis, Achilles được mô tả là vẫn tiếp tục sống sau khi qua đời tại hòn đảo Leuke ở cửa sông Danube. Một dị bản khác về cái chết của Achilles kể rằng ông đã đem lòng yêu tha thiết Polyxena, một công chúa thành Troia. Achilles tìm đến Priam để cầu hôn Polyxena; Priam vui vẻ chấp thuận vì điều này đồng nghĩa với việc kết thúc chiến tranh và giao hảo được với vị chiến binh vĩ đại nhất thế giới. Thế nhưng, trong lúc Priam đang chứng giám cho lễ cưới riêng tư giữa Polyxena và Achilles, Paris — kẻ sẽ phải trả lại Helen nếu Achilles trở thành em rể hắn — đã ẩn nấp trong bụi rậm và bắn một mũi tên mang sức mạnh thần linh kết liễu Achilles. Theo nhà thần thoại học Apollodorus, sau khi qua đời, Achilles đã kết hôn với Medea tại cánh đồng Elysian.[37]

Số phận bộ giáp của Achilles

Tập tin:Odysseus Ajax Louvre F340.jpg
Ajax and Odysseus tranh cãi nhau về bộ giáp của Achilles

Bộ giáp của Achilles trở thành tâm điểm tranh chấp nảy lửa giữa Odysseus và Ajax Đại. Cả hai tranh tụng bằng cách trình bày lý lẽ trước các tù binh thành Troia để chứng minh ai mới là chiến binh quả cảm nhất sau Achilles. Sau khi xem xét lập luận của đôi bên, các tù binh phán quyết Odysseus là người xứng đáng hơn cả. Căm tức trước phán quyết này, Ajax nổi giận buông lời nguyền rủa Odysseus. Hành động này làm chọc giận nữ thần Athena, khiến bà trừng phạt ông bằng một cơn điên loạn bộc phát từ nỗi đau đớn và uất hận. Trong cơn mê muội, Ajax tàn sát cả đàn cừu vì ngỡ đó là đồng đội của mình. Khi Athena bãi bỏ phép thuật, Ajax bừng tỉnh và nhận ra sự thật cay đắng. Nỗi hổ e xấu hổ bao trùm khiến ông quyết định tự sát để bảo toàn danh dự. Về sau, Odysseus đã trao lại bộ giáp này cho Neoptolemus — con trai của Achilles. Rất lâu sau đó, khi xuống cõi âm và chạm mặt vong linh Ajax (Odyssey 11.543–566), Odysseus nhận ra Ajax vẫn căm hờn chuyện cũ đến mức nhất quyết ngoảnh mặt đi, không chịu nói với ông dù chỉ một lời.

Bộ giáp mà họ tranh giành do chính thần thợ rèn Hephaestus chế tác, do đó nó kiên cố và lộng lẫy vượt xa mọi khí giới do người phàm tạo ra. Nữ thần Thetis phải nhờ cậy thần thợ rèn làm bộ giáp này vì bộ giáp đầu tiên của Achilles đã bị Patroclus mượn ra trận và rơi vào tay Hector sau khi Patroclus hy sinh. Chiếc Khiên Achilles huyền thoại cũng là tác phẩm của Hephaestus . Ngoài giáp trụ, Achilles còn sở hữu một ngọn giáo do người thầy Chiron trao tặng trước khi ông lên đường tham gia Chiến tranh thành Troia. Ngọn giáo có tên là Giáo Pelian, tương truyền ngoài Achilles ra không một phàm nhân nào có thể vung nổi.

Một di vật được cho là ngọn giáo đầu đồng của Achilles đã được lưu giữ qua nhiều thế kỷ tại đền thờ Athena trên đỉnh acropolis ở Phaselis, Lycia — một thành phố cảng thuộc Vịnh Pamphylia. Vào năm 333 TCN, Alexander Đại đế — người luôn tự coi mình là "Achilles tái thế" và luôn mang theo tập Iliad bên mình — đã đến thăm thành phố này. Dù các sử gia thân cận của nhà vua không đề cập đến ngọn giáo, sự tồn tại của di vật này vẫn được ghi nhận trong các ghi chép của nhà địa lý Pausanias vào thế kỷ II CN.[38]

Tiếp nhận trong thời Cổ đại

Trong bi kịch Hy Lạp

Nhà soạn bi kịch Hy Lạp Aeschylus từng sáng tác một bộ ba vở kịch về Achilles, được giới nghiên cứu hiện đại gọi chung là bộ ba Achilleis. Các tác phẩm này tái hiện những chiến công của Achilles trong Chiến tranh thành Troia, bao gồm trận hạ sát Hector và cái chết của ông. Bằng cách tập hợp những trích đoạn còn sót lại của Achilleis cùng một số mảnh tàn thư khác của Aeschylus, các nhà nghiên cứu đã phục dựng thành công một bản kịch hoàn chỉnh cho sân khấu hiện đại. Phần đầu tiên của bộ kịch có tên Những chiến binh Myrmidon. Ngày nay, tác phẩm này chỉ còn lưu giữ được vài dòng thơ ngắn ngủi.[39] Trong tác phẩm Yến hội của Platon, nhân vật Phaedrus có lưu ý rằng Aeschylus đã miêu tả Achilles là người chủ động yêu còn Patroclus là người được yêu. Phaedrus cho rằng cách thể hiện này chưa đúng, bởi Achilles trẻ trung và tuấn tú hơn nên phải là người được yêu — vị anh hùng vì quá yêu thương nhân tình của mình mà chấp nhận hy sinh để trả thù cho anh.Trong vở kịch cuối cùng mang tên The Phrygians (Những người Phrygia), Vua Priam đã tìm đến cầu xin Achilles trao trả thi thể của con trai mình.[40]

Nhà soạn bi kịch Sophocles cũng từng sáng tác vở Những người tình của Achilles với Achilles là nhân vật trung tâm, nhưng tác phẩm hiện cũng chỉ còn lại vài trích đoạn rải rác.[41]

Đến cuối thế kỷ V TCN, một góc nhìn tiêu cực hơn về Achilles bắt đầu xuất hiện trong sân khấu Hy Lạp. Trong các tác phẩm như Hecuba, ElectraIphigenia in Aulis, Euripides đã nhắc đến Achilles bằng giọng điệu chua chát và đầy mỉa mai. Nhiều nhà soạn bi kịch cùng thời khác, chẳng hạn như Astydamas, cũng viết các tác phẩm về Achilles nhưng đến nay đều đã thất truyền hoàn toàn.

Trong triết học Hy Lạp

Nghịch lý Zeno

Triết gia Zeno vùng Elea đã xây dựng một trong những nghịch lý nổi tiếng nhất của mình dựa trên cuộc chạy đua tưởng tượng giữa vị anh hùng "chân nhanh" Achilles và một chú rùa. Qua đó, ông tìm cách chứng minh rằng Achilles không bao giờ có thể đuổi kịp con rùa nếu nó được chấp xuất phát trước, từ đó lập luận rằng chuyển động và sự biến đổi trong tự nhiên thực chất là bất khả thi. Là học trò của nhà nhất thể luận Parmenides và là thành viên của trường phái Elea, Zeno tin rằng thời gian lẫn chuyển động chỉ là những ảo giác.

Platon

Trong tác phẩm Hippias Minor (bài đối thoại Socratic được cho là của Platon), một nhân vật ngạo mạn tên là Hippias đã tranh luận với Sokrates về bản chất của sự dối trá. Cả hai đi đến kết luận rằng: một người cố ý dối trá sẽ "tốt hơn" một người vô tình nói sai, xuất phát từ lý do kẻ cố tình dối trá phải là người thực sự hiểu rõ bản chất của vấn đề mà mình đang nói dối.[42] Sokrates đã sử dụng nhiều ví dụ so sánh trong thể thao và các ngành khoa học để chứng minh cho luận điểm này.

Cả hai cũng viện dẫn rất nhiều chi tiết từ các thi phẩm của Hómēros. Sokrates và Hippias đều thừa nhận Odysseus — nhân vật đã thêu dệt nên vô số lời dối trá trong trường ca Odyssey cùng các câu chuyện thuộc Chu kỳ Chiến tranh thành Troia — là kẻ cố tình dối trá. Giống như Odysseus, Achilles cũng từng đưa ra không ít lời sai sự thật. Tuy nhiên, Hippias cho rằng Achilles về cơ bản vẫn là một người trung thực, trong khi Socrates lại nhận định Achilles đã dối trá vì lợi ích cá nhân. Cả hai tranh luận về việc cố tình dối trá hay vô tình nói sai thì điều nào "tốt hơn". Cuối cùng, Socrates từ bỏ các lập luận dựa trên thơ Hómērosos và chuyển sang so sánh với thể thao để chốt lại quan điểm: một người cố tình làm sai vẫn "tốt hơn" (về mặt năng lực và hiểu biết) so với một kẻ làm sai do vô thức.

Trong văn học La Mã và Trung cổ

Người La Mã — vốn theo truyền thống luôn xem nguồn gốc tổ tiên mình xuất thân từ thành Troia — có cái nhìn vô cùng tiêu cực về Achilles. Nhà thơ Virgil gọi Achilles là một kẻ dã man và gã đồ tể tàn nhẫn,[43] trong khi Horace khắc họa Achilles như một kẻ tàn sát phụ nữ và trẻ em một cách không thương tiếc.[44] Các tác giả khác như Catullus, Propertius và Ovid lại đại diện cho một nhánh quan điểm phê phán khác, xoáy sâu vào đời sống tình ái phóng túng của vị anh hùng này.

Xu hướng gièm pha này tiếp tục kéo dài trong các bản ghi chép tiếng Latinh về Chiến tranh thành Troia của Dictys Cretensis và Dares Phrygius, cũng như trong trường ca Roman de Troie của Benoît de Sainte-Maure và tác phẩm Historia destructionis Troiae của Guido delle Colonne. Đây chính là những phiên bản lưu truyền phổ biến và được đọc nhiều nhất về "chủ đề thành Troia" mãi cho đến thế kỷ XVII.

Xem thêm

Chú thích

Tham khảo

  1. ^ Aeschylus, Prometheus Bound 755–768; Pindar, Nemean 5.34–37, Isthmian 8.26–47; Pseudo-Apollodorus, Bibliotheca 3.13.5; Poeticon astronomicon 2.15.
  2. ^ Pseudo-Apollodorus, Bibliotheca 3.13.5.
  3. ^ Jonathan S. Burgess (2009). The Death and Afterlife of Achilles. Baltimore: Johns Hopkins University Press. tr. 9. ISBN 978-0-8018-9029-1. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010.
  4. ^ Apollonius xứ Rhodes, Argonautica 4.869–879.
  5. ^ Hesiod, Catalogue of Women, fr. 204.87–89 MW; Iliad 11.830–832.
  6. ^ Apollodorus, Library, Book III 3.13.6
  7. ^ Dorothea Sigel; Anne Ley; Bruno Bleckmann. "Achilles". Trong Hubert Cancik; và đồng nghiệp (biên tập). Achilles. Brill's New Pauly. Brill Reference Online. doi:10.1163/1574-9347_bnp_e102220. Retrieved 5 May 2017.
  8. ^ "The Iliad (bản dịch tiếng Anh của Murray)/Quyển XI - Wikisource". en.wikisource.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2026.
  9. ^ Iliad 9.410ff.
  10. ^ Photius, Bibliotheca, cod. 190: "Thetis burned in a secret place the children she had by Peleus; six were born; when she had Achilles, Peleus noticed and tore him from the flames with only a burnt foot and confided him to Chiron. The latter exhumed the body of the giant Damysos who was buried at Pallene—Damysos was the fastest of all the giants—removed the 'astragale' and incorporated it into Achilles's foot using 'ingredients'. This 'astragale' fell when Achilles was pursued by Apollo and it was thus that Achilles, fallen, was killed. It is said, on the other hand, that he was called Podarkes by the Poet, because, it is said, Thetis gave the newborn child the wings of Arce and Podarkes means that his feet had the wings of Arce."
  11. ^ Strauss, Barry (2007). The Trojan War: A New History (bằng tiếng Anh). Simon and Schuster. tr. 87. ISBN 978-0-7432-6442-6.
  12. ^ "Homer, Iliad, Quyển 23, Dòng 138". www.perseus.tufts.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2026.
  13. ^ Bản mẫu:LSJ
  14. ^ Myres, John Linton (1967). Who were the Greeks?, pp. 192–199. University of California Press.
  15. ^ Bản mẫu:LSJ
  16. ^ Woodhouse, Sidney Chawner (1910). English–Greek Dictionary: A Vocabulary of the Attic Language. London: Routledge & Kegan Paul Limited. tr. 52, 84, 101.
  17. ^ Maxwell-Stuart, P. G (1981). Studies in Greek colour terminology: Volume 2. Brill. tr. 19.
  18. ^ Navarro Antolín, Fernando (1996). Lygdamus: Corpus Tibullianum III. 1-6: Lygdami Elegiarum Liber : Edition and Commentary. Belgium: E.J. Brill. tr. 309.
  19. ^ Dares Phrygius, History of the Fall of Troy 13
  20. ^ Graves, Robert (2017). The Greek Myths – The Complete and Definitive Edition. Penguin Books Limited. tr. Index s.v. Aissa. ISBN 978-0-241-98338-6.
  21. ^ Graves, Robert (2017). The Greek Myths – The Complete and Definitive Edition. Penguin Books Limited. tr. 642. ISBN 978-0-241-98338-6.
  22. ^ Homer. Iliad, 2.681–685.
  23. ^ Iliad 16.168–197.
  24. ^ a ă Pseudo-Apollodorus. "Bibliotheca, Epitome 3.20". theoi.com.
  25. ^ Iliad 9.334–343.
  26. ^ Lattimore, Richmond (2011). The Illiad of Homer. Chicago: The University of Chicago. ISBN 978-0-226-46937-9.
  27. ^ Propertius, 3.11.15; Quintus Smyrnaeus 1.
  28. ^ Philostratus, Imagines, 2.7.1 (Original Greek text)
  29. ^ Philostratus, Imagines, 2.7.2 (Tiếng Hi Lạp)
  30. ^ Robin Fox (2011). The Tribal Imagination: Civilization and the Savage Mind. Harvard University Press. tr. 223. ISBN 978-0-674-06094-4. There is certainly no evidence in the text of the Iliad that Achilles and Patroclus were lovers.
  31. ^ Martin, Thomas R (2012). Alexander the Great: The Story of an Ancient Life. Cambridge University Press. tr. 100. ISBN 978-0-521-14844-3. The ancient sources do not report, however, what modern scholars have asserted: that Alexander and his very close friend Hephaestion were lovers. Achilles and his equally close friend Patroclus provided the legendary model for this friendship, but Homer in the Iliad never suggested that they had sex with each other. (That came from later authors.).
  32. ^ Plato, Symposium, 180a; the beauty of Achilles was a topic already broached at Iliad 2.673–674.
  33. ^ a ă Dover, Kenneth (1989) [1978]. Greek Homosexuality. Harvard University Press. p. 1 et passim. ISBN 0-674-36270-5.
  34. ^ Clarke, W. M. (1978). "Achilles and Patroclus in Love". Hermes. 106 (3): 381–396. ISSN 0018-0777.
  35. ^ Odyssey 11.467–564.
  36. ^ Richmond Lattimore (2007). The Odyssey of Homer. New York: Harper Perennial. tr. 347. ISBN 978-0-06-124418-6.
  37. ^ Dräger, paras. 1, 4; Apollodorus, E.5.5.
  38. ^ Fox, Robin Lane (1973). Alexander the Great. tr. 144. Alexander came to rest at Phaselis, a coastal city which was later renowned for the possession of Achilles' original spear.
  39. ^ Pantelis Michelakis, Achilles in Greek Tragedy, 2002, p. 22
  40. ^ Michelakis 2002, p. 54
  41. ^ S. Radt. Tragicorum Graecorum fragmenta, vol. 4, (Göttingen: Vandenhoeck & Ruprecht, 1977) frr. 149–157a.
  42. ^ Jowett, Benjamin; Plato (ngày 15 tháng 1 năm 2013). "Lesser Hippias". Project Gutenberg.
  43. ^ Aeneid 2.28, 1.30, 3.87.
  44. ^ Odes 4.6.17–20.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Sơ khai Hy Lạp Bản mẫu:Nhân vật Iliad
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "Chú thích", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="Chú thích"/> tương ứng