Ai Yori Aoshi (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. (あい)よりTrang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. (あお)?) là bộ seinen manga của tác giả Fumizuki Kō, đăng trên tạp chí Young Animal của Hakusensha từ ngày 27 tháng 11 năm 1998 đến ngày 26 tháng 8 năm 2005. Sau đó Hakusensha đã tập hợp lại thành 17 tankōbon.

Ai Yori Aoshi
Tập tin:Ai Yori Aoshi volume 1.jpg
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Thể loạiLãng mạn, hài hước, Drama, Harem
Manga
Tác giảFumizuki Kō
Nhà xuất bảnHakusensha
Nhà xuất bản khác
  • Canada Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Hoa Kỳ Tokyopop
  • Đài Loan Ever Glory Publishing
  • Đức EMA
  • Pháp Pika Édition
  • Tây Ban Nha Norma Editorial
  • México Grupo Editorial Vid
  • Nga Sakura-Press
  • Ý Panini Comics
  • Đối tượngSeinen
    Tạp chíYoung Animal
    Đăng tảiNgày 27 tháng 11 năm 1998Ngày 26 tháng 8 năm 2005
    Số tập17 tập với 141 chương
    Anime truyền hình
    Tập tin:Ai Yori Aoshi DVD 05 cover.jpg
    Đạo diễnShimoda Masami
    Hãng phimJ.C.Staff
    Cấp phép
  • Đài Loan Win International Multimedia
  • CanadaHoa Kỳ Funimation Entertainment
  • Cấp phép và phân phối khác
  • Nhật Bản PIONEER LDC
  • Pháp Déclic Images
  • Tây Ban Nha Jonu Media
  • Kênh gốcFuji TV
    Phát sóng Ngày 10 tháng 4 năm 2002 Ngày 25 tháng 9 năm 2002
    Số tập24
    Anime truyền hình
    Ai Yori Aoshi ~Enishi~
    Đạo diễnShimoda Masami
    Hãng phimJ.C.Staff
    Cấp phép
  • Đài Loan Proware Multimedia International
  • CanadaHoa Kỳ Funimation
  • Cấp phép và phân phối khác
    Pháp Déclic Images
    Kênh gốcUHF Stations
    Phát sóng Ngày 12 tháng 10 năm 2003 Ngày 27 tháng 12 năm 2003
    Số tập12
    OVA
    Ai Yori Aoshi ~Enishi~ Saiai
    Đạo diễnShimoda Masami
    Hãng phimJ.C.Staff
    Cấp phépCanada Hoa Kỳ Geneon
    Phát hànhNgày 31 tháng 12 năm 2003
    Trò chơi điện tử
    Phát triểnKID
    Phát hành
  • KID
  • Hoa Kỳ Hirameki International
  • Thể loạiVisual novel
    Phân hạngESRB: T (Teen)
    Hệ máyPlayStation 2, Windows 98
    Ngày phát hànhNgày 20 tháng 3 năm 2003
    Trò chơi điện tử
    Ai Yori Aoshi shunka
    Phát hànhJ.C.Staff
    Thể loạiVisual novel
    Hệ máyWindows 98
    Ngày phát hànhNgày 20 tháng 5 năm 2004
    Trò chơi điện tử
    Ai Yori Aoshi shuutou
    Phát hànhJ.C.Staff
    Thể loạiVisual novel
    Hệ máyWindows 98
    Ngày phát hànhNgày 24 tháng 6 năm 2004
    Trò chơi điện tử
    SuperLite 2000 adventure Ai Yori Aoshi
    Phát triểnKID
    Phát hànhSUCCESS Corporation
    Thể loạiVisual novel
    Hệ máyPlayStation 2
    Ngày phát hànhNgày 23 tháng 6 năm 2005
    icon Cổng thông tin Anime và manga

    Ai Yori Aoshi đã chuyển thể thành anime bởi J.C.Staff và được đạo diễn bởi Shimoda Masami. Bộ anime đã phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 10 tháng 4 đến ngày 25 tháng 9 năm 2002 với 24 tập. Bộ anime tiếp theo có tên Ai Yori Aoshi ~Enishi~ (藍より青し ~縁~) lấy bối cảnh hai năm sau bộ đầu đã phát sóng từ ngày 12 tháng 10 đến ngày 27 tháng 12 năm 2003 với 12 tập. Một tập đặc biệt có tựa Ai Yori Aoshi ~Enishi~ Saiai (藍より青し~縁~ 最愛) đã phát hành ngày 31 tháng 12 năm 2003. Bốn visual novel với cốt truyện dựa theo loạt manga cũng đã được phát hành trên hệ PlayStation 2Windows.

    Tổng quan

    Sơ lược cốt truyện

    Nhân vật

    Chính

    Hanabishi Kaoru (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.花菱 (はなびし) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. (かおる)?) / Honjō Kaoru (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.本条 (ほんじょう) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. (かおる)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Sakuraba Aoi (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.桜庭 (さくらば) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. (あおい)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Tina Foster (ティナ・フォスター Tina Fosuta?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Kagurazaki Miyabi (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.神楽崎 (かぐらざき) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. (みやび)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Minazuki Taeko (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.水無月 (みなづき) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.妙子 (たえこ)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Miyuki Mayu (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.美幸 (みゆき) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. ( まゆ)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Minazuki Chika (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.水無月 (みなづき) ちか?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Uzume (ウズメ?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime

    Phụ

    Tsurube (つるべ?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Aizawa Chizuru (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.(相澤 (あいざわ) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.千鶴 (ちづる)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Komiya Natsuki (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.小宮 (こみや) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.夏樹 (なつき)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Saionji Ruka (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.西園寺 (さいおんじ) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.琉伽 (るか)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Suzuki (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.鈴木 (すずき)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Satō (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.佐藤 (さとう)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Hanabishi Gen'ichirō (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.花菱 (はなびし) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.源一郎 (げんいちろう)?)
    Bản mẫu:Lồng tiếng anime
    Hanabishi Yūji (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.花菱 (はなびし) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.優二 (ゆうじ)?)
    Honjō Kumi (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.本条 (ほんじょう) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.久美 (くみ)?)
    Hanabishi Kaoru (Em trai) (Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung.花菱 (はなびし) Trang Bản mẫu:Ruby/styles.css không có nội dung. (かおる) <弟>?)
    Mẹ của Kaoru (Em trai) (薫(異母弟)の母?)

    Truyền thông

    Manga

    Loạt manga được thực hiện bởi Fumizuki Kō đã đăng trên tạp chí Young Animal của Hakusensha từ ngày 27 tháng 11 năm 1998 đến ngày 26 tháng 8 năm 2005. Sau đó Hakusensha đã tập hợp lại thành 17 tankōbon. Tokyopop đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của loạt manga tại thị trường Bắc Mỹ.

    Loạt manga này cũng được đang ký bản quyền tại châu Âu, châu Á, Trung Mỹ với các phiên bản không phải tiếng Anh. Tại châu Âu phiên bản tiếng Pháp được đăng ký bản quyền bởi Pika Édition, phiên bản tiếng Đức được đăng ký bản quyền bởi EMA và phiên bản tiếng Tây Ban Nha được đăng ký bản quyền bởi Norma Editorial. Tại châu Á phiên bản tiếng Trung được đăng ký bản quyền bởi Jonesky, phiên bản tiếng Hàn được đăng ký bản quyền bởi Daiwon CI và phiên bản tiếng Nga được đăng ký bản quyền bởi Sakura Press. Tại Trung Mỹ loạt manga được phát hành bởi Grupo Editorial Vid.

    Ngoài ra loạt manga sau đó còn mở rộng ra với các chủ đề về em trai của Kaoru và quá khứ của Miyabi.

    Anime

    Chuyển thể anime đã được thực hiện bởi J.C.Staff với sự đạo diễn của Shimoda Masami. Bộ anime đã phát hàng tuần trên kênh Fuji TV từ ngày 11 tháng 4 đến ngày 25 tháng 9 năm 2002 với 24 tập. Hầu hết nhạc của bộ anime được soạn bởi Masuda Toshio. Bộ anime đã phát hành thành 8 bộ DVD tại Nhật Bản. Geneon Entertainment đã đăng ký bản quyền phát hành phiên bản tiếng Anh của bộ anime để tiến hành phân phối tại thị trường Bắc Mỹ, Déclic Images thì đăng ký tại Pháp, Jonu Media đăng ký tại Tây Ban Nha và Win International Multimedia đăng ký tại Đài Loan.

    J.C. Staff cũng đã thực hiện bộ anime thứ hai có tên Ai Yori Aoshi ~Enishi~ (藍より青し ~縁~) cũng được đạo diễn bởi Shimoda Masami. Bộ anime đã được phát sóng trên hệ thống UHF Stations từ ngày 12 tháng 10 đến ngày 27 tháng 12 năm 2003 với 12 tập. Bộ anime thứ hai cũng có ba bài hát chủ đề là bài hát mở đầu Takaramono (たからもの) do Ishida Yoko trình bày, bài hát kết thúc thứ nhất I Do! và bài hát kết thúc thứ hai Presence cả hai do The Indigo trình bày. Bộ anime này đã phát hành thành 3 bộ DVD tại Nhật Bản. Geneon Entertainment cũng đã đăng ký bản quyền phát hành phiên bản tiếng Anh của bộ anime này, Déclic Images thì đăng ký tại Pháp và Win International Multimedia đăng ký tại Đài Loan.

    Một tập đặc biệt dài 16 phút được biết với tên Ai Yori Aoshi ~Enishi~ Saiai (藍より青し~縁~ 最愛) cũng đã được thực hiện. Trong tập có tất cả các nhân vật nhưng xem như họ chưa từng gặp nhau trước đó (ngoại trừ Kaoru và Tina) tập này có một cột truyện huyền ảo. Tập này lấy bối cảnh đêm giáng sinh một hoặc hai năm trước khi xảy ra các sự kiện trong Ai Yori Aoshi.

    Tại sự kiện Anime Expo 2010, Funimation Entertainment đã tuyên bố về việc hợp tác với Geneon trong việc phát hành cả hai bộ anime tại thị trường Bắc Mỹ trong năm 2011.

    Drama CD

    Một đĩa drama CD ngắn đã được thực hiện bởi đội ngũ không tham gia lồng tiếng cho bộ anime với cốt truyện lấy từ chương 35 của truyện đã phát hành vào ngày 27 tháng 4 năm 2001. Đĩa cũng có chứa các bài hát do các nhân vật trình bày.

    Drama CD đặc biệt đã phát hành vào ngày 01 tháng 4 năm 2002 có tên Aiao Housoukyoku (藍青放送局) để giới thiệu cho bộ anime. Hai đĩa drama CD khác của bộ anime là Aiao Gekiban Ichi "Himawari" (藍青劇盤一 "向日葵") và Aiao Gekiban Ni "Kosumosu" (藍青劇盤二 "秋桜") đã phát hành vào ngày 26 tháng 6 và 23 tháng 8 năm 2002 các đĩa này cũng chứa các bài hát do các nhân vật trình bày trong đó có bài hát kết thúc I'll Be Home.

    Một drama CD đặc biệt được thực hiện để đính kèm với tập 11 của loạt manga đã phát hành vào ngày 05 tháng 6 năm 2003.

    Một drama CD khác có tựa Ai yori Aoshi no Natsu Yasumi (藍より青しの夏休み) đã phát hành ngày 19 tháng 7 năm 2003 trước khi bộ anime thứ hai được phát sóng.

    Trò chơi điện tử

    KID Corp. đã phát hành phiên bản visual novel với cùng tên dựa trên loạt manga này cho hệ PlayStation 2 vào năm 2003, Hirameki International đã phát triển phiên bản tiếng Anh của trò chơi và phát hành trên Windows. Năm 2005 SUCCESS Corporation đã tái phát hành trò chơi này nhưng có thêm các cảnh mới và mini game.

    Còn J.C.Staff đã phát hành hai visual novel dựa trên loạt manga cho hệ điều hành Windows của máy tính cá nhân (PC). Mỗi visual novel lại chia thành hai phần khác nhau.

    Âm nhạc

    Bộ anime thứ nhất có bốn bài hát chủ đề một mở đầu và ba kết thúc. Bài hát mở đầu của bộ anime là bài hát mở đầu Towa no Hana (永遠の花) trình bày bởi Ishida Yoko bài này cũng là bài hát kết thúc của tập 24, bài hát kết thúc cho toàn bộ anime trừ tập 15, 18 và 24 là Namo Shirenu Hana(名も知れぬ花) trình bày bởi The Indigo, đĩa đơn chứa hai bài hát này đã phát hành vào ngày 24 tháng 4 năm 2002. Bài hát kết thúc của tập 15 là bài Akai Hana (朱い花) do The Indigo trình bày và bài hát kết thúc của tập 18 I'll Be Home trình bày bởi Yukino Satsuki. Hai album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 24 tháng 5 và 26 tháng 9 năm 2002.

    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

    Bộ anime thứ hai có ba bài hát chủ đề, một mở đầu và hai kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa Takaramono (たからもの) do Ishida Yoko trình bày bài hát này cũng là bài kết thúc của tập 12, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 29 tháng 10 năm 2003. Bài hát kết thúc thứ nhất có tựa I Do! do The Indigo trình bày dùng trong tập 1-8 và 10-11, bài hát kết thúc thứ hai có tựa Presence cũng do The Indigo trình bày dùng trong tập 9, đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 12 tháng 11 năm 2003. Album chứa các bản nhạc của bộ anime thứ hai đã phát hành vào ngày 27 tháng 3 năm 2004, ban album này chỉ có bản giới hạn và sau khi tiêu thụ hết thì mới có bản bình thường.

    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Track listing”.

    Đón nhận

    Phiên bản tiếng Anh của loạt manga này được đón nhận tốt. Với cuốn đầu tiên đứng hạng thứ 45 trong 50 các cuốn truyện có doanh thu cao nhất trong tháng phát hành.

    Các đánh giá cho loạt manga thường là "rất tức cười khi đọc" hoặc "một chuyện tình lãng mạn sâu đậm". Adam Beck của Advanced Media đã nói rằng một số tập không dịch một số đoạn đối thoại nhưng các đoạn đối thoại còn lại được dịch rất tốt bởi Tokyopop.

    Bộ anime đầu tiên nhận được nhiều đánh giá khác nhau. Bộ anime đi theo hai chiều hướng là nghiêm túc, lãng mạn kịch tính pha với một chút hài hước và yếu tố harem. Khi nét vẽ của bộ anime được đánh giá là "Ấn tượng" thì phần âm nhạc của bộ anime cũng nhận được nhiều đánh giá tích cực.

    Liên kết ngoài

    1. đổi Bản mẫu:Anime News Network

    Bản mẫu:Redirect category shell