Andy Murray
Bản mẫu:Infobox tennis biography
Sir Andrew Barron Murray (sinh ngày 15 tháng 5 năm 1987), thường được gọi là Andy Murray, là một cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Scottland, Vương quốc Anh và hiện tại là huấn luyện viên.
Năm 2005, Andy giành được giải Nhân vật thể thao Scotland trong năm của BBC (BBC Scotland Sports Personality of the Year).
Trước đây, anh từng được huấn luyện bởi huấn luyện viên Brad Gilbert và Amélie Mauresmo.
Murray đại diện cho Vương quốc Anh trong các hoạt động thể thao của anh ấy và là người chiến thắng giải đấu Grand Slam ba lần, vô địch Thế vận hội hai lần, vô địch Davis Cup, người chiến thắng trong Chung kết ATP World Tour 2016, và cựu số 1 thế giới.
Murray đã đánh bại Novak Djokovic trong trận chung kết US Open 2012, trở thành cầu thủ người Anh đầu tiên kể từ năm 1977 và là người nam Anh đầu tiên kể từ năm 1936, để giành chiến thắng trong một giải đấu đơn Grand Slam. Murray cũng là người nam Anh đầu tiên giành được nhiều danh hiệu đơn Wimbledon kể từ Fred Perry năm 1936, chiến thắng giải đấu năm 2013 và 2016.
Murray là người giành huy chương vàng Thế vận hội mùa hè 2012 và 2016 đơn nam, khiến anh trở thành tay vợt duy nhất, dù là nam hay nữ, đã giành được hai danh hiệu đơn Olympic. Anh ấy đã góp mặt trong đội giành cúp Davis Cup của Anh năm 2015, thắng 11-0 trong các trận đấu của anh ấy (8 đơn và 3 đôi) khi họ bảo vệ danh hiệu Davis Cup đầu tiên của họ kể từ năm 1936.
Tuổi thơ
Anh bắt đầu chơi quần vợt từ năm 3 tuổi. Mẹ anh, bà Judy là một cựu tay vợt của Scotland và cha anh là ông William. Anh có một anh trai là Jamie Murray cũng là một tay vợt nhưng thường thi đấu ở thể loại đánh đôi.
Murray từng là học sinh của trường tiểu học Dunblane từ năm 1992 đến năm 1999. Năm 1999, anh học ở trường trung học Dunblane. Năm 11 đến 13 tuổi, Andy là thành viên của 3 đội quần vợt nhỏ tuổi tại câu lạc bộ Next Generation ở Newhaven, Edinburgh - nơi anh thi đấu thường xuyên. Vào tuổi 14, Murray đến Barcelona ở Tây Ban Nha, nơi anh đã học trường Schiller International và tập luyện trên mặt sân đất nện của học viện Sanchez-Casal, nơi mà anh được cho biệt danh "Lazy English" (người Anh lười). Murray giành giải nam trẻ tại US Open năm 2004 và tốt nghiệp sau đó một năm.
Sự nghiệp
2005
Tháng 3 năm 2005, lần đầu tiên Andy được gọi vào đội tuyển Davis Cup của Anh và trở thành tay vợt trẻ tuổi nhất của Anh tham dự Davis Cup. Murray và David Sherwood đã thắng cặp đôi của Israel - lúc đó đang đứng thứ 8 thế giới, vào đến bán kết Wimbledon năm 2003, giúp đội tuyển giành chiến thắng 3-2.
Tay vợt người Anh này vào đến bán kết giải trẻ Pháp mở rộng, để thua tay vợt người Croatia Marin Cilic. Điều này chứng tỏ đây là bước đột phá cuối cùng của anh tại giải trẻ Grand Slam.
Murray tham gia hầu hết tất cả các kết quả ATP tour đều đến từ mặt sân cỏ và mặt sân cứng, mặc dù anh thích chơi trên sân đất nện.
- Wimbledon 2005
Anh đã đánh bại tay vợt xếp trên anh 150 bậc trong trận đấu Grand Slam đầu tiên lúc đó Murray đứng thứ 374 thế giới. Ở vòng 2, Andy thắng hạt giống thứ 14 Radek Štěpánek và chịu thua David Nalbandian ở vòng 3.
- Mỹ mở rộng 2005
Tại đây Murray phải thi đấu vòng loại. Ở vòng 1, Murray đánh bại tay vợt người România Andrei Pavel trong 5 set đấu căng thẳng. Sau đó thua Arnaud Clement cũng trong 5 set. Đó là cú sốc cho Andy, nếu anh thắng trận đấu đó anh đã lọt vào top 100 lần đầu tiên trong đời.
- Thái Lan mở rộng
Vào ngày 29 tháng 9 cuối cùng Andy lọt được vào top 100 thế giới khi đánh bại Robin Soderling tại giải Thái Lan mở rộng. Sau đó thắng Robby Ginepri. Lần đầu tiên vào chung kết sau khi thắng tay vợt chủ nhà Paradorn Srichaphan ở bán kết. Để thua Roger Federer ở chung kết nhưng dù sao anh cung trở thành tay vợt thứ 72 của thế giới.
2006
Murray bắt đầu mùa giải 2006 bằng viêc bị loại tại vòng 2 trong hai giải đấu, tiếp theo thua Juan Ignacio Chela ở vòng một Úc mở rộng trong lần đầu tiên tham dự. Giải SAP Mở rộng là nơi đem lại cho Andy danh hiệu ATP đầu tiên trong sự nghiệp, để đến được với danh hiệu đầu tiên Andy đă thắng cả hai cựu số 1 thế giới Andy Roddick và Lleyton Hewitt. Anh vào đến tứ kết giải đấu tiếp theo - giải Memphis. Nhưng phong độ này không duy trì lâu, anh để thua ngay trong vòng 1 tại sáu trong chín giải tham dự bao gồm giải Pháp mở rộng và giải của Queen's Club.
Tại Wimbledon, Andy vào tới vòng 4 ngay trong lần đầu tiên tham dự. Sau đó, Murray còn ghi tên mình vào bán kết Hall of Fame Championship ở Newport và chung kết Legg Mason Classic tại Washington. Là thành viên của đội tuyển Anh tham dự Davis Cup, Andy đánh bại Andy Ram của Israel - đây là lần thứ hai Andy thắng được trận đấu kéo dài 5 set.
Phong độ của Andy ngày càng được cải thiện, anh vào bán kết Toronto Master. Ở giải đấu tiếp theo - giải Cincinnati, Murray vào tứ kết khi thất bại trước Andy Roddick, nhưng trước đó đã loại tay vợt số 1 thế giới Roger Federer và trở thành một trong hai tay vợt có thể đánh bại Roger trong năm 2006. Giải grand slam cuối cùng trong năm, Andy tiếp tuc vào vòng 4, dừng bước trước tay vợt Nga Nikolay Davydenko trong 4 set.
Sự thất vọng khi để thua tay vợt đồng hương Tim Henman tại Thái Lan mở rộng được giãm bớt khi Andy cùng người anh Jamie vào đến chung kết ở thể loại đánh đôi.
Với những thành công trong năm 2006, Andy kết thúc mùa giải với thứ hạng 17.
2007
Tại Úc Mở rộng, Murray được xếp hạt giống số 15. Tại vòng 1, Murray vượt qua tay vợt Tây Ban Nha Alberto Martín 6–0, 6–0, 6–1, đây cũng là chiến thắng áp đảo nhất tại Giải Úc Mở rộng từ năm 1968. Đối thủ tại vòng 4 của anh là tay vợt số 2 thế giới Rafael Nadal, trước đây hai tay vợt này chưa từng gặp nhau. Sau khi dẫn trước với 2-1, Murray thua Nadal (6(3)-7(7), 6–4, 4–6, 6–3, 6–1). Sau trận đấu, Murray nhận xét đây là một trong trận đấu hay nhất của anh từ trước đến nay.[1]
Andy Murray bảo vệ thành công danh hiệu tại San Jose, thắng Ivo Karlović 6–7 (3–7) 6–4 7–6 (7–2) trong trận chung kết. Anh trai của Murray, Jamie cũng đồng thời giành danh hiệu đôi tại đây. Anh em Murray trở thành cặp anh em đầu tiên giành danh hiệu đơn và đôi trong cùng một giải đấu kể từ năm 1989.[2]
Murray vào tới bán kết hai giải đấu tiếp theo là Indian Wells Masters và Miami Masters. Trong cả hai lần Murray đều phải dừng bước trước Novak Djokovic. Tuy nhiên, Murray vẫn vươn lên vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng thế giới.
2008
Murray mở đầu mùa giải 2008 với danh hiệu thứ 4 trong sự nghiệp tại giải Qatar ExxonMoblie Open. Chiến thắng hạt giống số 1 và hạng 4 thế giới Nikolay Davydenko 6-4 6-3 ở bán kết, Murray tự tin tiến thẳng vào chung kết đánh bại tay vợt Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 6-4 4-6 6-2. Danh hiệu tại Qatar giúp Andy lọt vào top 10 thế giới.
Andy Murray được xếp là hạt giống số 9 tại giải Giải quần vợt Úc mở rộng. Trái với dự đoán của nhiều người, Andy phải chia tay giải ngay từ vòng 1 khi thua tay vợt người Pháp Jo-Wilfried Tsonga 7-5, 6-4, 0-6, 7-6.
Sau khi thất bại tại vòng 1 Úc Mở rộng, Murray gặp phải chấn thương ở đầu gối khiến anh phải rút tên trong danh sách đội tuyển Anh tham dự Davis Cup.
Đầu tháng 2, Murray tham gia giải Open 13 tại Marseille, Pháp. Tuy vừa dính chấn thương đầu gối nhưng anh vẫn lọt chung kết, Murray gặp cựu số 7 thế giới, Mario Ancic và chiến thắng thuyết phục 6-3, 6-4. Danh hiệu tại Marseille là danh hiệu thứ 2 trong năm của Murray và cũng là danh hiệu thứ 5 trong sự nghiệp.
Giải ABN Amro Tournament tại Rotterdam, hạt giống số 6 - Andy Murray bị loại ngay vòng đầu khi thua tay vợt chủ nhà Robin Haase.
Không được xếp làm hạt giống tại giải Dubai Tennis Championship, Murray gặp tay vợt số 1 thế giới Roger Federer. Murray trở thành một trong số ít tay vợt có thành tích đối đầu trội hơn so với Federer khi chiến thắng 7-6(6), 3-6, 4-6. Murray dừng bước ở tứ kết khi thua Davydenko 7-5, 6-4.
Giải Master Series đầu tiên trong năm, Indian Wells, Murray không lập lại thành tích năm ngoái khi dừng chân tại vòng 4 trước tay vợt người Đức Tommy Haas 6-2 5-7 3-6. Giải Sony Ericsson Open tại Miami, Murray thất bại trước Mario Ancic tại vòng hai, Murray không còn nằm trong top 20 bảng xếp hạng ATP.
Để cải thiện thành tích của mình trên mặt sân đất nện, Murray bắt đầu làm việc với cựu á quân Pháp mở rộng Alex Corretja. Tuy nhiên, dưới sự huấn luyện của Corretja, Murray cũng không thể đạt thành tích nào cao hơn là vòng 3 Giải quần vợt Pháp Mở rộng.
Mùa giải trên mặt sân cỏ bắt đầu với Andy Murray tại Queen's Club Championships, anh lọt vào vòng tứ kết nhưng phải rút lui vì chấn thương cổ tay. Tại Wimbledon, hạt giống số 12, Andy Murray đánh bại Fabrice Santoro, Xavier Malisse và Tommy Hass trước khi thực hiện cuộc lội ngược dòng trước tay vợt Pháp Richard Gasquet 5–7, 3–6, 7–6(3), 6–2, 6–4. Trong trận tứ kết Grand Slam đầu tiên, anh phải gác vợt với tỉ số 6–3, 6–2, 6–4 trước Rafael Nadal.
Trở lại mặt sân cứng sở trường, Murray giành suất vào bán kết Toronto Masters khi lần đầu tiên chiến thắng trước tay vợt số 3 thế giới Novak Djokovic, nhưng lại lần thứ hai liên tiếp thua trận trước Nadal. Với phong độ cao, Murray giành danh hiệu Masters Series đầu tiên tại Cincinnati Masters, đánh bại Djokovic 7-6(4) 7-6(5).[3]
Cùng anh trai Jamie, Andy Murray đại diện Vương quốc Anh tham dự Olympic Bắc Kinh 2008. Bất ngờ xảy ra khi Murray, hạt giống số sáu, bị loại ngay vòng một.[4] Ở nội dung đánh đôi, anh em Murray cũng sớm dứng bước tại vòng hai.
Tại Mỹ Mở rộng 2008, Murray lội ngược dòng chiến thắng tay vợt Jurgen Melzer 6-7(5), 4-6, 7-6(5), 6-1, 6-3 để vào vòng bốn. Vòng bán kết, Murray chạm trán tân số một thế giới Rafael Nadal, tay vợt đánh bại anh năm lần gặp trước, nhưng người chiến thắng lại là Andy Murray với tỉ số 6–2, 7–6(5), 4–6, 6–4. Murray trở thành tay vợt đầu tiên của Vương quốc Anh lọt vào trận chung kết một giải Grand Slam kể từ khi Greg Rusedski lọt vào chung kết Mỹ Mở rộng năm 1997. Mặc dù chịu thất bại trước Roger Federer, Murray vẫn vươn lên vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng thế giới.
Với tư cách hạt giống thứ 4, Andy Murray được miễn thi đấu vòng một, tại Madrid Masters. Murray dễ dàng đi tiếp sau khi đối thủ Simone Bolelli bỏ cuộc do chấn thương vai. Đánh bại các tay vợt Marin Cilic, Gael Monfils mà chưa thua set nào. Murray vào bán kết gặp lại đối thủ trong trận chung kết Mỹ Mở rộng 2008, Roger Federer. Qua 3 set đấu căng thẳng, Murray giành chiến thắng 3-6 6-3 7-5. Với phong độ cao, anh vượt qua tay vợt Pháp Gilles Simon 6–4 7–6 (8-6), giành danh hiệu Master Series thứ hai liên tiếp. Murray trở thành tay vợt Vương quốc Anh đầu tiên giành 4 danh hiệu trong cùng một mùa giải.
2011
Tại Australia Open 2011, Andy Murray lọt vào trận chung kết lần thứ 2 liên tiếp nhưng dường như sức ép quá lớn từ người hâm mộ xứ sương mù đã ảnh hưởng khá nặng nề lên tâm lý thi đấu của Murray khiến cho anh không còn giữ được phong độ và cuối cùng đành gác vợt nhanh chóng trước Novak Djokovic. Thất bại này là một đòn gián đau đớn vào tham vọng cũng như tinh thần của Murray, kể từ thất bại này anh bắt đầu thi đấu sa sút với chuỗi trận thua liên tiếp ở các giải ABN Amro Tournament tại Rotterdam, Indian wells và Miami. Nhưng khán giả hâm mộ Murray thì vẫn luôn cổ vũ anh và chờ đợi sự trở lại mạnh mẽ hơn của anh ở những giải đấu tiếp theo.
2012
Năm 2012 có thể nói là một năm đặc biệt thành công của Andy Murray, sau thất bại đầy nước mắt tại chung kết Wimbledon 2012 trên sân nhà trước Roger Federer anh đã xuất sắc đoạt Huy chương Vàng Olympic London cho đất nước ngay tại Vương quốc Anh, và còn xuất sắc hơn khi chỉ hơn 1 tháng sau một lần nữa anh chiến thắng trong trận chung kết giải Mỹ mở rộng 2012 trước Novak Djokovic với tỉ số 3-2 để lần đầu tiên giương cao chiếc cúp dành cho tay vợt đoạt Grand Slam. Người hâm mộ hy vọng đây sẽ là một cột mốc để Andy Murray có thể chinh phục được nhiều đỉnh cao mới trong các năm sau.
2013
Andy Murray đã trở thành tay vợt nam đầu tiên trong 77 năm của làng quần vợt vương quốc Anh giành chức vô địch Wimbledon sau khi anh đánh bại Djokovic 3-0 (6-4, 7-5, 6-4) trong trận chung kết.[5]
2015
Năm 2015 Murray thi đấu khá tốt. Anh lọt vào chung kết Australian Open nhưng để thua Novak Djokovic sau 4 set. Anh dừng bước ở tứ kết 2 giải Grand Slam tiếp theo là Roland Garros và Wimbledon.Ở US Open anh dừng bước tại bán kết trước Novak Djokovic. Đỉnh cao của Andy Murray trong năm 2015 chính là chức vô địch giải quần vọt đồng đội Davis Cup của với đội tuyển Vương Quốc Anh. Anh chiến thắng 2 trận đánh đơn với các tay vợt của đội tuyển Bỉ và 1 trận đánh đôi cùng người đồng đội là anh trai Jamie Murray. Andy Murray cũng lần đầu tiên kết thúc năm với vị trí số 2 trên bảng xếp hạng ATP
2016
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”.
Năm 2016 đến với Andy Murray sau niềm vui tại Davis Cup. Anh thi đấu rất tốt tại Australian Open và lọt tới trận chung kết nơi anh gặp Tay vợt số 1 thế giới Novak Djokovic. Thêm một lần anh thất bại trong trận chung kết Australian Open trước Novak Djokovic. Trước giải Grand Slam thứ 2 Roland Garros, anh thi đấu khá tốt ở các giải ATP 1000, lọt vào 3 trận chung kết Monte Carlo, Madrid Master và Rome Master. Anh đã giành chức vô địch trên sân đất nện lần đầu tiên sau khi đánh bại Novak Djokovic tại Chung kết tại Rome. Anh tiếp tục thi đấu xuất sắc tại Roland Garros và đi tới trận chung kết. Mặc dù đã thắng set đấu đầu nhưng anh vẫn chịu gác vợt trước Novak Djokovic tại chung kết. Murray đến với giải Grand Slam thứ 3 trong năm là Wimbledon với mục tiêu lật đổ Djokovic sau những trận chung kết thất bại. Murray lần lượt vượt qua các đối thủ khá dễ dàng và góp mặt trong trận chung kết Grand Slam lần thứ 3 trong năm. Nhưng lần này đối thủ của anh không còn là Novak Djokovic khi Djokovic bị loại từ vòng 3 mà đối thủ của anh là tay vợt người Canada Milos Raonic. Raonic đã ngược dòng đánh bại Roger Federer để vào chung kết. Nhưng trong trận chung kết Grand Slam đầu tiên của Raonic anh đã chịu thất bại trong vòng 3 set trước Andy Murray. Đây là một chung kết tuyệt vời của Murray và anh đã giành đã danh hiệu Grand Slam thứ 3 trong sự nghiệp trên quê nhà.
Murray cũng đạt huy chương vàng tại nội dung Quần vợt tại Thế vận hội Mùa hè 2016.
Chung kết Grand Slam
Đơn: 11 (3 danh hiệu, 8 á quân)
| Kết quả | Năm | Giải đấu | Mặt sân | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|
| Á quân | 2008 | US Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 2–6, 5–7, 2–6 |
| Á quân | 2010 | Australian Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 3–6, 4–6, 6–7(11–13) |
| Á quân | 2011 | Australian Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 4–6, 2–6, 3–6 |
| Á quân | 2012 | Wimbledon | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 6–4, 5–7, 3–6, 4–6 |
| Vô địch | 2012 | US Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–6(12–10), 7–5, 2–6, 3–6, 6–2 |
| Á quân | 2013 | Australian Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–6(7–2), 6–7(3–7), 3–6, 2–6 |
| Vô địch | 2013 | Wimbledon | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–4, 7–5, 6–4 |
| Á quân | 2015 | Australian Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–7(5–7), 7–6(7–4), 3–6, 0–6 |
| Á quân | 2016 | Australian Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 1–6, 5–7, 6–7(3–7) |
| Á quân | 2016 | French Open | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–3, 1–6, 2–6, 4–6 |
| Vô địch | 2016 | Wimbledon (2) | Grass | Bản mẫu:Flagicon Milos Raonic | 6–4, 7–6(7–3), 7–6(7–2) |
Các trận chung kết quan trọng khác
Chung kết ATP Finals
Đơn: 1 (1 danh hiệu)
| Kết quả | Năm | Giải đấu | Mặt sân | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|
| Vô địch | 2016 | ATP World Tour Finals, London | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–3, 6–4 |
Chung kết ATP Masters 1000
Đơn: 21 (14 danh hiệu, 7 á quân)
| Kết quả | Năm | Giải đấu | Mặt sân | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|
| Vô địch | 2008 | Cincinnati Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–6(7–4), 7–6(7–5) |
| Vô địch | 2008 | Madrid Open | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Gilles Simon | 6–4, 7–6(8–6) |
| Á quân | 2009 | Indian Wells Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Rafael Nadal | 1–6, 2–6 |
| Vô địch | 2009 | Miami Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–2, 7–5 |
| Vô địch | 2009 | Canadian Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Juan Martín del Potro | 6–7(4–7), 7–6(7–3), 6–1 |
| Vô địch | 2010 | Canadian Open (2) | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 7–5, 7–5 |
| Vô địch | 2010 | Shanghai Masters | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 6–3, 6–2 |
| Vô địch | 2011 | Cincinnati Open (2) | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–4, 3–0 chấn thương |
| Vô địch | 2011 | Shanghai Masters (2) | Cứng | Bản mẫu:Flagicon David Ferrer | 7–5, 6–4 |
| Á quân | 2012 | Miami Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 1–6, 6–7(4–7) |
| Á quân | 2012 | Shanghai Masters | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–5, 6–7(11–13), 3–6 |
| Vô địch | 2013 | Miami Open (2) | Cứng | Bản mẫu:Flagicon David Ferrer | 2–6, 6–4, 7–6(7–1) |
| Á quân | 2015 | Miami Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–7(3–7), 6–4, 0–6 |
| Vô địch | 2015 | Madrid Open (2) | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Rafael Nadal | 6–3, 6–2 |
| Vô địch | 2015 | Canadian Open (3) | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–4, 4–6, 6–3 |
| Á quân | 2015 | Paris Masters | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 2–6, 4–6 |
| Á quân | 2016 | Madrid Open | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 2–6, 6–3, 3–6 |
| Vô địch | 2016 | Italian Open | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–3, 6–3 |
| Á quân | 2016 | Cincinnati Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Marin Čilić | 4–6, 5–7 |
| Vô địch | 2016 | Shanghai Masters (3) | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roberto Bautista Agut | 7–6(7–1), 6–1 |
| Vô địch | 2016 | Paris Masters | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon John Isner | 6–3, 6–7(4–7), 6–4 |
Đôi: 1 (1 á quân)
| Kết quả | Năm | Giải đấu | Mặt sân | Đồng đội | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Á quân | 2013 | Canadian Open | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Colin Fleming | Bản mẫu:Flagicon Alexander Peya Bản mẫu:Flagicon Bruno Soares |
4–6, 6–7(4–7) |
Trận tranh huy chương Olympic
Đơn: 2 (2 huy chương vàng)
| Kết quả | Năm | Giải đấu | Mặt sân | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng | 2012 | Summer Olympics | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 6–2, 6–1, 6–4 |
| Vàng | 2016 | Summer Olympics (2) | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Juan Martín del Potro | 7–5, 4–6, 6–2, 7–5 |
Đôi nam nữ: 1 (1 huy chương bạc)
| Kết quả | Năm | Giải đấu | Mặt sân | Đồng đội | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Bạc | 2012 | Summer Olympics | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Laura Robson | Bản mẫu:Flagicon Victoria Azarenka Bản mẫu:Flagicon Max Mirnyi |
6–2, 3–6, [8–10] |
Chung kết giải đồng đội
|
|
| Kết quả | Bản mẫu:NsNgàyBản mẫu:Ns | Giải đấu | Mặt sân | Đội | Đồng đội | Đội đối thủ | Tay vợt đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Á quân | 2010 | Hopman Cup, Australia | Cứng (i) | Bản mẫu:Hopman | Laura Robson | Bản mẫu:Hopman | María José Martínez Sánchez Tommy Robredo |
1–2[6] |
| Vô địch | 2015 | Davis Cup, Bỉ | Đất nện (i) | Bản mẫu:Davis | Jamie Murray Kyle Edmund James Ward |
Bản mẫu:Davis | David Goffin Steve Darcis Ruben Bemelmans Kimmer Coppejans |
3–1 |
| Á quân | 2022 | Laver Cup, Vương quốc Anh | Cứng (i) | Đội Châu Âu | Casper Ruud Rafael Nadal Stefanos Tsitsipas Novak Djokovic Roger Federer Matteo Berrettini Cameron Norrie |
Đội thế giới | Taylor Fritz Félix Auger-Aliassime Diego Schwartzman Frances Tiafoe Alex de Minaur Jack Sock |
8–13 |
Chung kết ATP
Đơn: 71 (46 danh hiệu, 25 á quân)
|
|
|
| Kết quả | Thắng-Thua | Bản mẫu:NsNgàyBản mẫu:Ns | Giải đấu | Cấp độ | Mặt sân | Đối thủ | Tỷ số | Ref |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Á quân | 0–1 | [[2005 Thailand Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Thailand Open, Thái Lan | International | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 3–6, 5–7 | |
| Vô địch | 1–1 | [[2006 SAP Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Pacific Coast Championships, Mỹ | International | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Lleyton Hewitt | 2–6, 6–1, 7–6(7–3) | |
| Á quân | 1–2 | [[2006 Legg Mason Tennis Classic – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Washington Open, Mỹ | International | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Arnaud Clément | 6–7(3–7), 2–6 | |
| Á quân | 1–3 | [[2007 Qatar Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Qatar Open, Qatar | International | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Ivan Ljubičić | 4–6, 4–6 | |
| Vô địch | 2–3 | [[2007 SAP Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Pacific Coast Championships, Mỹ (2) | International | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Ivo Karlović | 6–7(3–7), 6–4, 7–6(7–2) | |
| Á quân | 2–4 | [[2007 Open de Moselle – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Open de Moselle, Pháp | International | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Tommy Robredo | 6–0, 2–6, 3–6 | |
| Vô địch | 3–4 | [[2007 St. Petersburg Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | St. Petersburg Open, Nga | International | Thảm (i) | Bản mẫu:Flagicon Fernando Verdasco | 6–2, 6–3 | |
| Vô địch | 4–4 | [[2008 Qatar Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Qatar Open, Qatar | International | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Stan Wawrinka | 6–4, 4–6, 6–2 | |
| Vô địch | 5–4 | [[2008 Open 13 – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Open 13, Pháp | International | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Mario Ančić | 6–3, 6–4 | |
| Vô địch | 6–4 | [[2008 Western & Southern Financial Group Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Cincinnati Open, Mỹ | Masters | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–6(7–4), 7–6(7–5) | |
| Á quân | 6–5 | [[2008 US Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | US Open, Mỹ | Grand Slam | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 2–6, 5–7, 2–6 | |
| Vô địch | 7–5 | [[2008 Mutua Madrileña Masters Madrid – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Madrid Open, Tây Ban Nha | Masters | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Gilles Simon | 6–4, 7–6(8–6) | |
| Vô địch | 8–5 | [[2008 St. Petersburg Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | St. Petersburg Open, Nga (2) | International | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Andrey Golubev | 6–1, 6–1 | |
| Vô địch | 9–5 | [[2009 Qatar Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Qatar Open, Qatar (2) | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Andy Roddick | 6–4, 6–2 | |
| Vô địch | 10–5 | [[2009 ABN AMRO World Tennis Tournament – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Rotterdam Open, Hà Lan | 500 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Rafael Nadal | 6–3, 4–6, 6–0 | |
| Á quân | 10–6 | [[2009 BNP Paribas Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Indian Wells Open, Mỹ | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Rafael Nadal | 1–6, 2–6 | |
| Vô địch | 11–6 | [[2009 Sony Ericsson Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Miami Open, Mỹ | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–2, 7–5 | |
| Vô địch | 12–6 | [[2009 Aegon Championships – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Queen's Club Championships, Vương quốc Anh | 250 Series | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon James Blake | 7–5, 6–4 | |
| Vô địch | 13–6 | [[2009 Rogers Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Canadian Open, Canada | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Juan Martín del Potro | 6–7(4–7), 7–6(7–3), 6–1 | |
| Vô địch | 14–6 | [[2009 Valencia Open 500 – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Valencia Open, Tây Ban Nha | 500 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Mikhail Youzhny | 6–3, 6–2 | |
| Á quân | 14–7 | [[2010 Australian Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Australian Open, Australia | Grand Slam | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 3–6, 4–6, 6–7(11–13) | |
| Á quân | 14–8 | [[2010 Farmers Classic – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Los Angeles Open, Mỹ | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Sam Querrey | 7–5, 6–7(2–7), 3–6 | |
| Vô địch | 15–8 | [[2010 Rogers Cup – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Canadian Open, Canada (2) | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 7–5, 7–5 | |
| Vô địch | 16–8 | [[2010 Shanghai Rolex Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Shanghai Masters, Trung Quốc | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 6–3, 6–2 | |
| Á quân | 16–9 | [[2011 Australian Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Australian Open, Australia | Grand Slam | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 4–6, 2–6, 3–6 | |
| Vô địch | 17–9 | [[2011 Aegon Championships – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Queen's Club Championships, Vương quốc Anh (2) | 250 Series | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Jo-Wilfried Tsonga | 3–6, 7–6(7–2), 6–4 | |
| Vô địch | 18–9 | [[2011 Western & Southern Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Cincinnati Open, Mỹ (2) | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–4, 3–0 ret. | |
| Vô địch | 19–9 | [[2011 PTT Thailand Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Thailand Open, Thái Lan | 250 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Donald Young | 6–2, 6–0 | |
| Vô địch | 20–9 | [[2011 Rakuten Japan Open Tennis Championships – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Japan Open, Japan | 500 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Rafael Nadal | 3–6, 6–2, 6–0 | |
| Vô địch | 21–9 | [[2011 Shanghai Rolex Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Shanghai Masters, China (2) | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon David Ferrer | 7–5, 6–4 | |
| Vô địch | 22–9 | [[2012 Brisbane International – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Brisbane International, Australia | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Alexandr Dolgopolov | 6–1, 6–3 | |
| Á quân | 22–10 | [[2012 Dubai Tennis Championships – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Dubai Tennis Championships, UAE | 500 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 5–7, 4–6 | |
| Á quân | 22–11 | [[2012 Sony Ericsson Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Miami Open, Mỹ | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 1–6, 6–7(4–7) | |
| Á quân | 22–12 | [[2012 Wimbledon Championships – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Wimbledon, Vương quốc Anh | Grand Slam | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 6–4, 5–7, 3–6, 4–6 | |
| Vô địch | 23–12 | [[Tennis at the 2012 Summer Olympics – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Olympic Games, Vương quốc Anh | Olympics | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Roger Federer | 6–2, 6–1, 6–4 | |
| Vô địch | 24–12 | [[2012 US Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | US Open, US | Grand Slam | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–6(12–10), 7–5, 2–6, 3–6, 6–2 | |
| Á quân | 24–13 | [[2012 Shanghai Rolex Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Shanghai Masters, Trung Quốc | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–5, 6–7(11–13), 3–6 | [25] |
| Vô địch | 25–13 | [[2013 Brisbane International – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Brisbane International, Australia (2) | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Grigor Dimitrov | 7–6(7–0), 6–4 | |
| Á quân | 25–14 | [[2013 Australian Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Australian Open, Australia | Grand Slam | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 7–6(7–2), 6–7(3–7), 3–6, 2–6 | |
| Vô địch | 26–14 | [[2013 Sony Open Tennis – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Miami Open, Mỹ (2) | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon David Ferrer | 2–6, 6–4, 7–6(7–1) | |
| Vô địch | 27–14 | [[2013 Aegon Championships – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Queen's Club Championships, Vương quốc Anh (3) | 250 Series | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Marin Čilić | 5–7, 7–5, 6–3 | |
| Vô địch | 28–14 | [[2013 Wimbledon Championships – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Wimbledon, Vương quốc Anh | Grand Slam | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–4, 7–5, 6–4 | |
| Vô địch | 29–14 | [[2014 ATP Shenzhen Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Shenzhen Open, Trung Quốc | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Tommy Robredo | 5–7, 7–6(11–9), 6–1 | |
| Vô địch | 30–14 | [[2014 Erste Bank Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Vienna Open, Áo | 250 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon David Ferrer | 5–7, 6–2, 7–5 | |
| Vô địch | 31–14 | [[2014 Valencia Open 500 – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Valencia Open, Tây Ban Nha (2) | 500 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Tommy Robredo | 3–6, 7–6(9–7), 7–6(10–8) | |
| Á quân | 31–15 | [[2015 Australian Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Australian Open, Australia | Grand Slam | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–7(5–7), 7–6(7–4), 3–6, 0–6 | |
| Á quân | 31–16 | [[2015 Miami Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Miami Open, Mỹ | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–7(3–7), 6–4, 0–6 | |
| Vô địch | 32–16 | [[2015 BMW Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Bavarian Championships, Đức | 250 Series | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Philipp Kohlschreiber | 7–6(7–4), 5–7, 7–6(7–4) | |
| Vô địch | 33–16 | [[2015 Mutua Madrid Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Madrid Open, Tây Ban Nha (2) | Masters 1000 | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Rafael Nadal | 6–3, 6–2 | |
| Vô địch | 34–16 | [[2015 Aegon Championships – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Queen's Club Championships, Vương quốc Anh (4) | 500 Series | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Kevin Anderson | 6–3, 6–4 | |
| Vô địch | 35–16 | [[2015 Rogers Cup – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Canadian Open, Canada (3) | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–4, 4–6, 6–3 | |
| Á quân | 35–17 | [[2015 BNP Paribas Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Paris Masters, Pháp | Masters 1000 | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 2–6, 4–6 | |
| Á quân | 35–18 | [[2016 Australian Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Australian Open, Australia | Grand Slam | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 1–6, 5–7, 6–7(3–7) | |
| Á quân | 35–19 | [[2016 Mutua Madrid Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Madrid Open, Tây Ban Nha | Masters 1000 | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 2–6, 6–3, 3–6 | |
| Vô địch | 36–19 | [[2016 Italian Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Italian Open, Ý | Masters 1000 | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–3, 6–3 | |
| Á quân | 36–20 | [[2016 French Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | French Open, Pháp | Grand Slam | Đất nện | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–3, 1–6, 2–6, 4–6 | |
| Vô địch | 37–20 | [[2016 Aegon Championships – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Queen's Club Championships, Vương quốc Anh (5) | 500 Series | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Milos Raonic | 6–7(5–7), 6–4, 6–3 | |
| Vô địch | 38–20 | [[2016 Wimbledon Championships – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Wimbledon, Vương quốc Anh (2) | Grand Slam | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Milos Raonic | 6–4, 7–6(7–3), 7–6(7–2) | |
| Vô địch | 39–20 | [[Tennis at the 2016 Summer Olympics – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Olympic Games, Brazil (2) | Olympics | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Juan Martín del Potro | 7–5, 4–6, 6–2, 7–5 | |
| Á quân | 39–21 | [[2016 Western & Southern Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Cincinnati Open, Mỹ | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Marin Čilić | 4–6, 5–7 | |
| Vô địch | 40–21 | [[2016 China Open – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | China Open, Trung Quốc | 500 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Grigor Dimitrov | 6–4, 7–6(7–2) | |
| Vô địch | 41–21 | [[2016 Shanghai Rolex Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Shanghai Masters, Trung Quốc (3) | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Roberto Bautista Agut | 7–6(7–1), 6–1 | |
| Vô địch | 42–21 | [[2016 Erste Bank Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Vienna Open, Áo (2) | 500 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Jo-Wilfried Tsonga | 6–3, 7–6(8–6) | |
| Vô địch | 43–21 | [[2016 BNP Paribas Masters – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Paris Masters, Pháp | Masters 1000 | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon John Isner | 6–3, 6–7(4–7), 6–4 | |
| Vô địch | 44–21 | [[2016 ATP World Tour Finals – Singles|Bản mẫu:Dts]] | ATP World Tour Finals, Vương quôc Anh | Tour Finals | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 6–3, 6–4 | |
| Á quân | 44–22 | [[2017 Qatar ExxonMobil Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Qatar Open, Qatar | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Novak Djokovic | 3–6, 7–5, 4–6 | |
| Vô địch | 45–22 | [[2017 Dubai Tennis Championships – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Dubai Tennis Championships, UAE | 500 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Fernando Verdasco | 6–3, 6–2 | |
| Vô địch | 46–22 | [[2019 European Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | European Open, Bỉ | 250 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Stan Wawrinka | 3–6, 6–4, 6–4 | |
| Á quân | 46–23 | [[2022 Sydney International – Men's singles|Bản mẫu:Dts]] | Sydney International, Australia | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Aslan Karatsev | 3–6, 3–6 | |
| Á quân | 46–24 | [[2022 BOSS Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Stuttgart Open, Đức | 250 Series | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Matteo Berrettini | 4–6, 7–5, 3–6 | |
| Á quân | 46–25 | [[2023 Qatar ExxonMobil Open – Singles|Bản mẫu:Dts]] | Qatar Open, Qatar | 250 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Daniil Medvedev | 4–6, 4–6 |
Đôi: 5 (3 danh hiệu, 2 á quân)
|
|
|
| Kết quả | Thắng-Thua | Bản mẫu:NsNgàyBản mẫu:Ns | Giải đấu | Cấp độ | Mặt sân | Đồng đội | Đối thủ | Tỷ số | Ref |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Á quân | 0–1 | [[2006 Thailand Open – Doubles|Bản mẫu:Dts]] | Thailand Open, Thái Lan | International | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Jamie Murray | Bản mẫu:Flagicon Jonathan Erlich Bản mẫu:Flagicon Andy Ram |
2–6, 6–2, [4–10] | |
| Vô địch | 1–1 | [[2010 Valencia Open 500 – Doubles|Bản mẫu:Dts]] | Valencia Open, Tây Ban Nha | 500 Series | Cứng (i) | Bản mẫu:Flagicon Jamie Murray | Bản mẫu:Flagicon Mahesh Bhupathi Bản mẫu:Flagicon Max Mirnyi |
7–6(10–8), 5–7, [10–7] | |
| Vô địch | 2–1 | [[2011 Rakuten Japan Open Tennis Championships – Doubles|Bản mẫu:Dts]] | Japan Open, Nhật Bản | 500 Series | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Jamie Murray | Bản mẫu:Flagicon František Čermák Bản mẫu:Flagicon Filip Polášek |
6–1, 6–4 | |
| Á quân | 2–2 | [[2013 Rogers Cup – Men's doubles|Bản mẫu:Dts]] | Canadian Open, Canada | Masters 1000 | Cứng | Bản mẫu:Flagicon Colin Fleming | Bản mẫu:Flagicon Alexander Peya Bản mẫu:Flagicon Bruno Soares |
4–6, 6–7(4–7) | |
| Vô địch | 3–2 | [[2019 Queen's Club Championships – Doubles|Bản mẫu:Dts]] | Queen's Club Championships, Vương quốc Anh | 500 Series | Cỏ | Bản mẫu:Flagicon Feliciano López | Bản mẫu:Flagicon Rajeev Ram Bản mẫu:Flagicon Joe Salisbury |
7–6(8–6), 5–7, [10–5] |
Các Giải Đấu
| Giải đấu | 2005 | 2006 | 2007 | 2008 | Career SR | Thắng / thua |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Úc Mở rộng | A | V1 | V4 | V1 | 0 / 3 | 3-3 |
| Pháp Mở rộng | A | V1 | A | V3 | 0 / 2 | 2-2 |
| Wimbledon | V3 | V4 | A | TK | 0 / 3 | 9-3 |
| Mỹ Mở rộng | V2 | V4 | V3 | CK | 0 / 4 | 12-4 |
| Grand Slam SR | 0 / 2 | 0 / 4 | 0 / 2 | 0 / 4 | 0 / 12 | N/A |
| Grand Slam thắng thua | 3-2 | 6-4 | 5-2 | 12-4 | N/A | 20-11 |
| Tennis Masters Cup | A | A | A | 0 / 0 | 0-0 | |
| Indian Wells Masters | A | V2 | BK | V4 | 0 / 3 | 7-3 |
| Miami Masters | A | V1 | BK | V2 | 0 / 3 | 4-3 |
| Monte Carlo Masters | A | V1 | A | V3 | 0 / 1 | 0-1 |
| Rome Masters | A | V1 | V1 | V2 | 0 / 2 | 0-2 |
| Hamburg Masters | A | V2 | V1 | V3 | 0 / 2 | 1-2 |
| Canada Masters | A | BK | V2 | BK | 0 / 3 | 8-3 |
| Cincinnati Masters | V2 | TK | V1 | T | 1 / 4 | 10-3 |
| Madrid Masters (Stuttgart) | A | V3 | V3 | T | 1 / 3 | 10-2 |
| Paris Masters | A | V3 | TK | 0 / 2 | 3-2 | |
| Danh hiệu | 0 | 1 | 2 | 4 | N/A | 7 |
| Thắng / Thua trên sân cứng | 7-4 | 26-14 | 25-7 | 14-5 | N/A | 83-35 |
| Thắng / Thua trên sân cỏ | 5-3 | 9-4 | 0-0 | 6-1 | N/A | 20-8 |
| Thắng / Thua trên sân thảm | 2-1 | 1-2 | 0-0 | 0-0 | N/A | 3-3 |
| Thắng / Thua trên sân đất nện | 0-2 | 4-5 | 0-2 | 7-5 | N/A | 11-14 |
| Thắng / Thua | 14-10 | 40-25 | 29-10 | 27-11 | N/A | 124–60 |
| Xếp hạng cuồi năm | 63 | 17 | 11 | N/A | N/A |
- A: không tham dự giải Career SR: tỷ lệ số lần thắng trên số lần tham dự
Chú thích
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Wins SAP Open in San Jose, California: SAP Open (18th tháng 2 năm 2007)
- ^ Andy Murray lên ngôi giải Cincinnati MastersBản mẫu:Liên kết hỏng, Báo Thanh Niên.
- ^ Bắc Kinh 2008: Andy Murray bị loại ở vòng 1Bản mẫu:Liên kết hỏng, Báo Thanh Niên.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă â b Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "One more equals four" australianopen.com. Retrieved 31 January 2010.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Murray Reaches first Wimbledon Final
- ^ Murray Wins Olympic Gold
- ^ Murray Wins his maiden Grand slam
- ^ Novak Djokovic beats Andy Murray to win Shanghai Masters
- ^ Andy Murray loses to Novak Djokovic in Australian Open final
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Liên kết ngoài
Bản mẫu:Top ten British male singles tennis players Bản mẫu:Giải thưởng Thể thao Thế giới Laureus hạng mục Vận động viên bứt phá của năm Bản mẫu:Các tay vợt nam số 1 thế giới Bản mẫu:Các nhà vô địch Wimbledon Bản mẫu:US Open men's singles champions Bản mẫu:Các nhà vô địch Masters Cup cuối năm