Trong thực vật học, bông con (tiếng Anhː spikelet), còn gọi là bông nhỏ,[1] bông chét[1][2] hay chẹn[3] là đơn vị sinh sản đính trên trục chính của cụm hoahọ Hòa thảo Poaceae, họ Cói Cyperaceae, họ Chanh lươn Restionaceae và một số thực vật một lá mầm khác.

Tập tin:En Anatomia.png
Các bộ phận của một bông con ở Lúa mì, bao gồm hai mày không chứa hoa (glume), bốn hoa con hữu thụ (fertile floret), với một hoa con ở trung tâm có thể hữu thụ hoặc không
Tập tin:Grassbluete numbers clones unlinked.svg
Mặt cắt dọc, hoa đồ và hoa thức ở họ Hòa thảo (Poaceae)
Chú thích: (1) mày không chứa hoa (glume), (2) mày nhỏ ngoài/dưới/trên (lemma), (3) râu, tua (awn), (4) mày nhỏ trên/trong (palea), (5) mày cực nhỏ (lodicule), (6) nhị hoa (stamen), (7) bầu nhụy (ovary), (8) vòi nhụy (style)

Mỗi bông con có một hoặc nhiều hoa con (floret).[4]:12 Các bông con tập hợp thành cụm hoa. Phần của cụm hoa mang các bông con được gọi là trục chính.[4]:13

Ở họ Hòa thảo

Ở họ Hòa thảo Poaceae, một bông con gồm hai lá bắc (hoặc đôi khi ít hơn) ở gốc, gọi là mày không chứa hoa (glume), theo sau là một hoặc nhiều hoa con.[4]:13 Một hoa con bao gồm một hoa thật sự được bao quanh bởi hai lá bắc, một lá bắc bên ngoài (gọi là mày ngoài (lemma)) và một lá bắc bên trong (mày trong (palea)). Bao hoa tiêu giảm còn hai vảy, gọi là mày cực nhỏ (lodicule),[4] :11có thể giãn ra và co lại để lan rộng mày ngoài và mày trong; chúng thường được hiểu là lá đài biến đổi.

Những bông hoa thường là lưỡng tính (ngô là một ngoại lệ) và chủ yếu là thụ phấn nhờ gió, mặc dù côn trùng đôi khi cũng tham gia quá trình này.[5]

Mày ngoài

Mày ngoài là thuật ngữ hình thái học thực vật dùng để chỉ một phần của bông con. Đây là lá bắc thấp nhất trong hai lá bắc giống như trấu bao quanh bông con.[6] Phần cuống lá thường có một sợi lông dài gọi là râu/tua (awn), và có thể có hình dạng tương tự như mày không chứa hoa (glume), là các lá bắc thô ở gốc của mỗi bông con. Nó thường được hiểu là một lá bắc nhưng cũng có thể được hiểu là một phần còn lại (phần dưới trục (abaxial)) của ba bộ phận của vòng bao hoa ngoài (mày trong có thể đại diện cho hai bộ phận còn lại, đã được hợp lại với nhau).

Hình dạng của mày ngoài, số lượng gân, có râu hay không và có lông hay không là những đặc điểm quan trọng trong phân loại học thực vật.

Mày trong

Mày trong ở họ Hòa thảo dùng để chỉ một trong hai cơ quan giống như lá bắc ở bông con.

Mày trong là lá bắc trên cùng trong hai lá bắc giống như trấu bao quanh hoa con (lá bắc còn lại là mày ngoài). Nó thường bị nứt ở phần đầu, dấu hiệu cho thấy cơ quan này có thể là một cấu trúc bắt nguồn từ sự hợp nhất của hai cơ quan riêng biệt.[6] Điều này gợi ý rằng mày trong có thể là những gì còn lại của lá đài (vòng bao hoa ngoài): cụ thể là hai bộ phận hướng trục của vòng ba bộ phận đặc trưng của thực vật một lá mầm. Bộ phận thứ ba có thể vắng mặt hoặc có thể biến thành mày ngoài, tùy theo các cách giải thích thực vật học khác nhau.

Sự biểu hiện của gene MADS-box ở mày trong giải thích về nguồn gốc bao hoa của cơ quan này, như trường hợp lá đài ở thực vật hai lá mầm thật sự.[7]

Mày cực nhỏ

Mày cực nhỏ là cấu trúc bao gồm từ một đến ba vảy nhỏ ở gốc bầu nhụy của hoa con tượng trưng cho cánh hoa, được cho là bao hoa thô sơ. Sự phình ra của các mày cực nhỏ đẩy các lá bắc (mày ngoài và mày trong) của hoa ra xa nhau, để lộ các cơ quan sinh sản của hoa.

Ở họ Cói

Tập tin:Cyperus spikelet (16001805871).jpg
Bông con ở loài Cyperus sp.

Trong họ Cói Cyperaceae, cũng như trong họ Poaceae, đơn vị cơ bản của cụm hoa là bông con. Bông con này bao gồm những hoa con bị tiêu giảm chỉ còn các bộ phận sinh sản (bao phấn và lá noãn), không có bao hoa hoặc bao hoa tiêu giảm thành lông hoặc vảy. Những hoa con này có thể lưỡng tính hoặc đơn tính.[8] Mỗi bông con được đỡ và che khuất một phần bởi mày không chứa hoa. Cụm hoa bông con thường vô hạn (không có hoa ở cuối), ngoại trừ ở một số chi nhất định (Hypolytrum, LepironiaMapania) thì cụm hoa hữu hạn (cuối cụm hoa kết thúc bằng một hoa cái). Cụm hoa hữu hạn trong trường hợp này được gọi là bông con giả (pseudo-spikelet).[8] Số lượng hoa con trên mỗi bông con thường thấp, nhưng có thể vượt quá 100 ở chi Carex. Sự sắp xếp của chúng trên trục của bông con có thể là hai hàng, ba hàng hoặc xoắn ốc.[9]

Bông con có thể mọc đơn lẻ hoặc được nhóm lại thành các cụm hoa đơn giản hoặc phức tạp rất đa dạng: bông, đầu, chùm, tán...[9]

Tham khảo

  1. ^ a b Lê Mạnh Chiến; Lê Thị Hà; Nguyễn Thu Hiền; Trần Anh Kỳ; Nguyễn Hữu Ngọc; Nguyễn Văn Thân; Nguyễn Đức Thịnh; Nguyễn Quang Toàn; Đặng Văn Sử (1997). Từ điển Sinh học Anh - Việt và Việt - Anh [English - Vietnamese and Vietnamese - English Biology Dictionary]. Hà Nội: Nxb Khoa học và Kỹ thuật. tr. 368.
  2. ^ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011). Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8548:2011 về hạt giống cây trồng - phương pháp kiểm nghiệm (PDF). Bộ Khoa học và Công nghệ. tr. 19.
  3. ^ Hoàng Phê (chủ biên) (2003). Từ điển tiếng Việt [Vietnamese Dictionary]. TP. Hồ Chí Minh: Nxb Đà Nẵng. tr. 147.
  4. ^ a b c d Cope, T.; Gray, A. (ngày 30 tháng 10 năm 2009). Grasses of the British Isles. London, U.K.: Botanical Society of Britain and Ireland. ISBN 9780901158420.
  5. ^ "Insect Pollination of Grasses". Australian Journal of Entomology. 3: 74. 1964. doi:10.1111/j.1440-6055.1964.tb00625.x.
  6. ^ a b "Poaceae Barnh. 1895". Trung tâm Dữ liệu Thực vật Việt Nam. 2007. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  7. ^ Prasad, K.; Parameswaran S.; Vijayraghavan U. (2005). "OsMADS1, a rice MADS-box factor, controls differentiation of specific cell types in the lemma and palea and is an early-acting regulator of inner floral organs". The Plant Journal. 43 (6): 915–928. doi:10.1111/j.1365-313X.2005.02504.x.
  8. ^ a b Lun-Kai Dai; Song-Yun Liang; Shuren Zhang; Yancheng Tang; Tetsuo Koyama; Gordon C. Tucker; David A. Simpson; Henry J. Noltie; Mark T. Strong; Jeremy J. Bruhl; Karen L. Wilson; A. Muthama Muasya. "Cyperaceae". Flora of China. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.
  9. ^ a b Daniel Chicouène (1998). "Comparaison des inflorescences de Gramineae et Cyperaceae armoricaines". Erica (bằng tiếng Pháp). CBN Brest: 35-48. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026.