Biên Hòa là một tỉnh cũ của Việt Nam Cộng hòa (nay là một phần của Thành phố Hồ Chí Minh và một phần của thành phố Đồng Nai).

Biên Hòa
Tỉnh
Vị trí tỉnh Biên Hòa trên bản đồ hành chính Việt Nam Cộng hòa năm 1967
Vị tríViệt Nam Cộng hòa
Tỉnh lỵThành phố Biên Hòa
Phân chia hành chính1 thành phố, 6 huyện
Thành lập1832
Giải thể24/2/1976[1]
Dân số (1967)291.592 người

Địa lý

Tỉnh Biên Hòa có vị trí địa lý:

Lịch sử

Vùng đất Biên Hòa xưa

Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (còn có tên Nguyễn Hữu Kính) được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược xứ Đàng Trong đã thành lập dinh Trấn Biên, tiền thân của tỉnh Biên Hòa sau này.

Năm Gia Long thứ 7 (1808), dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, huyện Phước Long thuộc dinh Trấn Biên được nâng lên thành phủ Phước Long, các tổng được nâng lên thành huyện. Trấn Biên Hòa (gồm 1 phủ Phước Long) là một trong 5 trấn dưới thời Gia Long, thuộc Gia Định Thành.

Trấn Biên Hòa (1808–1832) hay tỉnh Biên Hòa (1832–1861, chữ Hán: 邊和省) có địa giới hành chính hết sức rộng, bao gồm vùng đất các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương và một phần Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, với tổng diện tích lên đến trên 17.000 km².

Nhà Nguyễn Độc lập

Tập tin:NamKyLucTinh1841-1862.jpg
Tỉnh Biên Hòa trong bản đồ Nam Kỳ Lục Tỉnh giai đoạn (1832–1862)
 
Tỉnh Biên Hòa trong bản đồ Nam Kỳ Lục tỉnh (Basse Cochinchine)

Tỉnh Biên Hòa được thành lập năm Minh Mạng thứ 13 (1832) và là một trong 6 tỉnh của Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh).

Năm Minh Mạng thứ 18 (1837), đặt thêm phủ Phước Tuy, tách hai huyện Long Thành và Phước An của phủ Phước Long đặt thuộc phủ Phước Tuy mới lập trực thuộc tỉnh Biên Hòa, đồng thời tách phần đất phía bắc hai huyện này lập thành huyện mới Long Khánh với 6 tổng là Long Xương, Long Cơ, An Trạch, An Viễn, Tập Phước và Khánh Nhơn. Như vậy tỉnh Biên Hòa có 2 phủ Phước Long và Phước Tuy. Phủ Phước Long gồm: 2 huyện Phước Chánh, Bình An và kiêm nhiếp 2 huyện Phước Bình, Nghĩa An. Phủ Phước Tuy gồm 2 huyện Long Thành và Phước An, và kiêm nhiếp 1 huyện Long Khánh.[2]

Năm 1840, đặt thêm 4 phủ: Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi, Tân Thuận và nhiều huyện.

Theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, Biên Hòa bị cắt nhượng cho Pháp cùng với Gia ĐịnhĐịnh Tường.

Thời Pháp thuộc

 
Bản đồ hạt Biên Hòa năm 1881

Năm 1876, tỉnh Biên Hòa bị Pháp giải thể và biến thành 3 tiểu khu, còn gọi là hạt tham biện (arrondissement): Biên Hòa, Thủ Dầu MộtBà Rịa.

Năm 1897, tỉnh Biên Hòa được chia thành 16 tổng:

  • Tổng Bình Lâm Thượng có 10 làng: An Lộc, Bình Lộc, Hưng Lộc, Phong Lộc, Phú Lộc, Quới Lộc, Tân Lộc, Thuận Lộc, Xuân Lộc, Chánh Lộc.
  • Tổng Chánh Mỹ Hạ có 15 làng: An Linh, Bình Cơ, Chánh Hòa, Chánh Hưng, Lạc An, Mỹ Lộc, Phước Hòa, Phước Vinh, Tân Lợi, Tân Lập, Tân Nhuận, Thanh Hòa, Thường Lang, Mỹ Đức, Tân Tịch.
  • Tổng Chánh Mỹ Thượng có 10 làng: Bình Long, Bình Trị, Mỹ Khánh, Tân Bản, Tân Hạnh, Tân Phước Đông, Tân Thiều, Tân Vạn, Tân An, Tân Hóa.
  • Tổng Chánh Mỹ Trung có 18 làng: An Chữ, Bình Chánh Đông, Bình Chữ, Bình Hóa, Bình Hưng, Điều Hòa, Dư Khánh, Hiệp Hưng, Nhựt Thạnh, Phước Hải Đông, Tân Ba, Tân Hội, Tân Long, Tân Lương, Tân Trạch, Tân Uyên, Thiện Khánh, Vĩnh Phước.
  • Tổng Long Vĩnh Thượng có 19 làng: An Định, An Hòa, An Hưng, An Lợi, An Phước, An Xuân, Bình Dương, Phước Cang, Phước Hội, Phước Hưng, Long Khánh, Phước Mỹ, Long Điền, Long Trường, Tân Xuân, Thiết Tượng, Vĩnh Hòa, Vĩnh Thọ.
  • Tổng Phước Vĩnh Hạ có 17 làng: Bình Lợi, Bình Ninh, Bình Thạnh, Bình Thảo, Thiên Quan, Tân Định, Bình An Chánh, Bình Lục, Long Chánh, Long Phú, Phú Trạch, Tân Huệ Đông, Đa Lộc, Hiền Quan, Tân Khai, Trị An, Xuân Hòa
  • Tổng Phước Vĩnh Thượng có 8 làng: Bình An, Bình Trước, Nhị Hòa, Nhứt Hòa, Tam Hòa, Tân Lại, Tân Mai, Vĩnh Cửu.
  • Tổng Phước Vĩnh Trung có 13 làng: Bạch Khôi, Bình Diện, Bình Hậu, Bình Mỹ, Bình Sơn, Bình Thạnh, Bình Thới, Bình Ý, Hàm Hòa, Tân Phong, Tân Thạnh Đông, Tân Triều Đông, Tân Triều Tây.
  • Tổng Thành Tuy Hạ có 19 làng: An Phú, Bình Quới, Long Điền, Long Hiệu, Lương Thiện, Mỹ Hội, Mỹ Khoan, Phú Mỹ, Phước An, Phước Khánh, Phước Kiến, Phước Lai, Phước Long, Phương Lương, Phước Lý, Phước Thạnh, Phước Thiền, Phước Thọ, Tân Tường
  • Tổng Thành Tuy Thượng có 11 làng: An Lâm, Khánh Lâm, Long Thuận, Phước Đức, Phú Lạc, Phước Lộc, Phước Thái, Tam Thiện, Thanh Nguyên, Tập Phước, Tuy Long.
  • Tổng An Viễn có 6 làng: Cam Ngôn, La Minh, Cam Đường, Cam Mỹ, Thoại Hương, Cam Tiêm.
  • Tổng Bình Tuy có 7 làng: Cao Cang, Định Quán, Gia Canh, Lý Lịch, Thuận Tùng, Túc Trưng, Vĩnh An.
  • Tổng Phước Thành có 10 làng: Bao Hàm, Đông Thành, Gia An, Gia Cấp, Trà Tân, Thọ Vức, Võ Đắt, Võ Định, Võ Dõng, Võ Quảng.
  • Tổng Tập Phước có 7 làng: Bảo Chánh, Bảo Định, Bảo Liệt, Bảo Mỹ, Long Tài, Thới Giao, Tích Thiện.
  • Tổng Thuận Lợi có 6 làng: Can Vàng, Chôn Lâm, Đặt Trụ, Phú Quan, Phú Tron, Phú Xuân.
  • Tổng Bình Cách có 7 làng: An Bình, An Trung, Chơn Thành, Diêm Quan, Hương Mát, Thành Công, Từ Tôn.

Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định về việc đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 đổi hạt tham biện Biên Hòa trở thành tỉnh Biên Hòa. Thời kỳ này, địa giới tỉnh Biên Hòa bao gồm một phần thành phố Đồng NaiThành phố Hồ Chí Minh hiện tại.

Năm 1901, tỉnh lỵ Biên Hòa đặt tại xã Bình Trước có 15 tổng, 151 làng.[3]

Năm 1903, Toàn quyền Đông Dương thành lập quận Chứa Chan gồm 4 tổng người dân tộc thiểu số ở tỉnh Biên Hòa.

Năm 1912, thành lập quận Xuân Lộc gồm 3 tổng: An Viễn, Bình Lâm Thượng, Phước Thành.

Năm 1924, tỉnh Biên Hòa có 17 tổng, 172 làng.

Năm 1925, thành lập hai quận Phú Riềng và Võ Đắc thuộc tỉnh Biên Hòa trên cơ sở quận Chứa Chan.

Năm 1927, quận lỵ Phú Riềng chuyển về Bù Khoai và đổi tên là quận Sông Bé, quận lỵ Vô Đắc chuyển về Xuân Lộc và đổi tên là quận Xuân Lộc; lập quận Đồng Nai, lỵ sở đặt tại Thanh Sơn.

Năm 1928, thành lập quận Châu Thành thuộc tỉnh lỵ Bình Trước và quận Tân Uyên với trị sở tại chợ Tân Uyên.

Năm 1936, tỉnh Biên Hòa có diện tích là 11.044 km².

Năm 1939, tỉnh Biên Hòa diện tích là 11.234 km², dân số là 166.000 người, mật độ trung bình 14 người/km² và 5 quận: Châu Thành, Long Thành, Xuân Lộc, Tân Uyên, Núi Bà Rá.[4]

Đơn vị hành chính tỉnh Biên Hòa
STT Quận Tổng
1 Châu Thành
  • Chánh Mỹ Thượng có 6 làng: Bửu Hòa, Bình Trị, Hóa An, Tân Hạnh, Tân Vạn, Tân Hiệp
  • Phước Vĩnh Trung có 5 làng: Bình Hòa, Bình Ý, Bửu Long, Tân Phong, Tân Triều
  • Phước Vĩnh Thượng có 4 làng: Bình Trước, Hiệp Hòa, Tam Hiệp, Tân Thành
2 Long Thành
  • Long Vĩnh Thượng có 8 làng: An Hòa, An Lợi, Long Bình, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước, Tân An, Tân Hưng
  • Thành Tuy Thượng có 8 làng: Long An, Long Phước, Phước Hiệp, Phước Lai, Phước Lộc Xã, Phước Mỹ, Phước Thiện, Thái Thiện
  • Thành Tuy Hạ có 6 làng: Long Tân, Phú Hội, Phước An, Phước Khánh, Phước Lý, Phước Thạnh
3 Núi Bà Rá
  • Bình Cách có 6 làng: An Bình, Chơn Thành, Diêm Quan, Sam Bô, Thanh Sơn, Thành Công
  • Thuận Lợi có 11 làng: Bù Koou, Bù Marr, Bù N'dot, Bù Trít, Đông Bua, Gia Tru, Tam Glei, Tà Bai, Tà Bung, Tà Cô, Tà Mon
  • Tân Thuận có 5 làng: Bù Cat, Bù Dah, Bù K'teik, Bù Phong, Tat Rạch
4 Tân Uyên
  • Chánh Mỹ Trung có 8 làng: Bình Chánh Đông, Bình Hòa, Mỹ Hòa, Mỹ Quới, Phước Thành, Tân Ba, Thái Hòa, Uyên Hưng
  • Chánh Mỹ Hạ có 13 làng: An Linh, Bình Cơ, Chánh Mỹ Hòa, Chánh Hưng, Lạc An, Mỹ Lộc, Phước Hòa, Phước Vĩnh, Tân Hòa, Tân Nhuận, Tân Tịch, Thanh Hòa, Thường Lang
  • Phước Vĩnh Hạ có 8 làng: Bình Long, Bình Phước, Lợi Hòa, Bình Thạnh, Đại An, Tân Định, Tân Phú, Thiện Tân
5 Xuân Lộc
  • Bình Lâm Thượng có 6 làng: Bình Lộc, Gia Ray, Hưng Lộc, Tân Lập, Tân Phong, Xuân Lộc
  • An Viễn có 7 làng: Bảo Mỹ, Cam Đường, Cam Mỹ, Cam Ngôn, Cam Tiêm, Thới Giao, Tích Thiện
  • Phước Thành có 8 làng: Bao Hàm, Đông Thành, Gia Cấp, Túc Trưng, Vĩnh An, Võ Dõng, Võ Định, Võ Quảng
  • Tập Phước có 10 làng: Bảo Chánh, Bảo Định, Bảo Liệt, Gia An, La Minh, Long Tài, Thoại Hương, Thọ Vực, Trà Tân, Võ Đắt

Năm 1943, dân số tỉnh Biên Hòa là 183.000 người, trong đó người Việt 139.000 người, người Hoa 3.000 người, người Pháp 580 người, các dân tộc thiểu số chiếm 40.000 người.[5]

Việt Nam Cộng hòa

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143-NV[6] về việc chia tỉnh Biên Hòa thành 3 tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh, Phước Long (có thêm phần đất của tỉnh Thủ Dầu Một).

Ngày 2 tháng 5 năm 1957, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 140-BNV/HC/ND về việc ấn định các đơn vị hành chính tỉnh Biên Hòa mới gồm 4 quận, 11 tổng, 84 xã:

  • Quận Châu Thành, quận lỵ: Bình Trước, có 3 tổng: Long Vĩnh Thượng, Phước Vĩnh Thượng, Phước Vĩnh Trung.
  • Quận Dĩ An, quận lỵ: An Bình Xã, có 3 tổng: An Thủy, Chánh Mỹ Thượng, Long Vĩnh Hạ.
  • Quận Long Thành, quận lỵ: Phước Lộc Xã, có 2 tổng: Thành Tuy Hạ, Thành Tuy Thượng.
  • Quận Tân Uyên, quận lỵ: Uyên Hưng, có 3 tổng: Chánh Mỹ Hạ, Chánh Mỹ Trung, Phước Vĩnh Hạ.
Đơn vị hành chính tỉnh Biên Hòa năm 1957
STT Quận Tổng Quận lỵ
1 Châu Thành
  • Phước Vĩnh Thượng có 9 xã: Bình Trước, Tam Hiệp, Tân Thành, Hiệp Hòa, Bùi Tiếng, Hố Nai, Trảng Bom, Bửu Hòa, Tân Vạn
  • Long Vĩnh Thượng có 5 xã: Long Bình, Tân Bình, Phước Tân, Long Hưng, An Hòa Hưng
  • Phước Vĩnh Trung có 5 xã: Tân Phong, Bửu Long, Bình Ý, Bình Hòa, Tân Triều
Xã Bình Trước
2 Dĩ An
  • Chánh Mỹ Thượng có 4 xã: Bình Trị, Tân Hiệp, Tân Hạnh, Hóa An
  • An Thủy có 4 xã: Bình An, Đông Hòa, Tân Đông Hiệp, An Bình
  • Long Vĩnh Hạ có 4 xã: Long Bình, Long Phước Thôn, Long Thạnh Mỹ, Long Trường
An Bình Xã
3 Long Thành
  • Thành Tuy Thượng có 14 xã: Tam Phước, Tam An, An Lợi, Phước Lộc, Thái Thiện, Long Phước, Long An, Lộc An, Phước Hội, Phước Thọ, Phước Long, Phước Lai, Phước Mĩ, Phước Thiền
  • Thành Tuy Hạ có 7 xã: Phước An, Phú Thạnh, Đại Phước, Phú Hữu, Phước Khánh, Vinh Thạnh, Long Tân
Phước Lộc Xã
4 Tân Uyên
  • An Phước Hạ có 9 xã: Bình Phước, Bình Long, Lợi Hòa, Tân Phú, Bình Thạnh, Thiện Tân, Tân Định, Đại An, Trị An
  • Chánh Mỹ Trung có 10 xã: Thái Hòa, An Thành, Bình Hòa, Bình Chánh, Mỹ Hòa, Mỹ Quới, Tân Ba, Phước Thành, Thạnh Hội, Uyên Hưng
  • Chánh Mỹ Hạ có 14 xã: Tân Nhuận, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Lạc An, Thái Hưng, Chánh Hòa, Bình Mỹ, Thường Lang, Tân Hòa, Chánh Hưng, Phước Sang, Vĩnh Hòa, An Linh, Phước Hòa
Uyên Hưng

Ngày 23 tháng 1 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 25-NV[7] về việc thành lập tỉnh Phước Thành trên cơ sở quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.

Ngày 7 tháng 2 năm 1963, đổi tên quận Châu Thành thành quận Đức Tu, quận lỵ dời về Tam Hiệp.

Ngày 9 tháng 9 năm 1960, tách một phần đất quận Long Thành, lập quận Nhơn Trạch, quận lỵ đặt tại Phú Thạnh. Quận Nhơn Trạch có 2 tổng: Thành Tuy Trung (7 xã) và Thành Tuy Hạ (6 xã). Đồng thời nhập 2 quận Quảng Xuyên, Cần Giờ (tỉnh Phước Tuy) vào tỉnh Biên Hòa.

Ngày 22 tháng 3 năm 1963, lập quận mới Công Thanh, gồm 2 tổng: Thanh Quan (6 xã), Thanh Phong (6 xã), quận lỵ đặt tại Tân Phú.

Dân số của các quận thuộc tỉnh Biên Hòa năm 1967[8]
Quận Dân số (người)
Đức Tu 148.374
Dĩ An 30.377
Long Thành 26.095
Nhơn Trạch 49.553
Tân Uyên 14.064
Công Thanh 23.129
Tổng số 291.592

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW[9] về việc hợp nhất tỉnh Bà Rịa, tỉnh Biên Hòa, tỉnh Bình Tuy, tỉnh Long Khánh, huyện Định Quán của tỉnh Tân Phú và 2 huyện Dĩ An, Tân Uyên của tỉnh Thủ Dầu Một thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.

Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19/NQ[10] về việc hợp nhất tỉnh Bà Rịa (kể cả thành phố Vũng Tàu), tỉnh Biên Hòa (trừ 2 huyện Phú Giáo, Tân Uyên của tỉnh Thủ Dầu Một), tỉnh Long Khánh thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.

Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976[1] về việc hợp nhất tỉnh Bà Rịa, tỉnh Biên Hòa, tỉnh Long Khánh và thành phố Biên Hòa thành một tỉnh, lấy tên là tỉnh Đồng Nai. Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Biên Hòa.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội ban hành Nghị quyết[11] về việc thành lập tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trên cơ sở đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo và 3 huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai (thuộc địa bàn tỉnh Phước Tuy cũ).

Địa danh "Biên Hòa" chỉ còn được dùng để chỉ phường Biên Hòa, đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc thành phố Đồng Nai.

Như vậy, địa bàn tỉnh Biên Hòa thời Việt Nam Cộng hòa tương ứng với khu vực thành phố Biên Hòa cũ, khu vực các huyện Long Thành, Nhơn Trạch cũ và một phần của khu vực các huyện Trảng Bom, Vĩnh Cửu cũ thuộc thành phố Đồng Nai; khu vực thành phố Dĩ An cũ, một phần của khu vực thành phố Tân Uyên cũ và một phần của khu vực huyện Bắc Tân Uyên cũ của tỉnh Bình Dương cũ thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Chú thích

  1. ^ a ă "Nghị định số 3/NQ/1976 về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 24 tháng 2 năm 1976. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
  2. ^ "Basse Cochinchine 1ère Feuille Province de Bien-Hoa". Université Côte d'Azur. BU Lettres Arts Sciences Humaines. Fonds ASEMI. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2025.
  3. ^ Phan Đình Dũng – Nguyễn Thanh Lợi (2010). Bản sao đã lưu trữ (PDF). NXB. Đồng Nai. tr. 16. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích sách}}: Đã định rõ hơn một tham số trong |ngày lưu trữ=|archive-date= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |ngày truy cập=|access-date= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tựa đề=|title= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |url lưu trữ=|archive-url= (trợ giúp)
  4. ^ Phan Đình Dũng – Nguyễn Thanh Lợi (2010). Bản sao đã lưu trữ (PDF). NXB. Đồng Nai. tr. 17. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích sách}}: Đã định rõ hơn một tham số trong |ngày lưu trữ=|archive-date= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |ngày truy cập=|access-date= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tựa đề=|title= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |url lưu trữ=|archive-url= (trợ giúp)
  5. ^ Phan Đình Dũng – Nguyễn Thanh Lợi (2010). Bản sao đã lưu trữ (PDF). NXB. Đồng Nai. tr. 18. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích sách}}: Đã định rõ hơn một tham số trong |ngày lưu trữ=|archive-date= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |ngày truy cập=|access-date= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tựa đề=|title= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |url lưu trữ=|archive-url= (trợ giúp)
  6. ^ Sắc lệnh số 143-NV về việc để thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng hòa gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh.
  7. ^ Sắc lệnh số 25-NV về việc thành lập tỉnh Phước Thành.
  8. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh (1967). Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia.
  9. ^ "Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh". ngày 20 tháng 9 năm 1975. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
  10. ^ "Nghị quyết số 19/NQ về việc điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 20 tháng 12 năm 1975. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
  11. ^ "Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương". Hệ thống pháp luật. ngày 12 tháng 8 năm 1991.

Tham khảo

  • Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 2005
  • Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính, Nguyễn Quang Ân, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 1997
  • Sổ tay địa danh Việt Nam, Đinh Xuân Vịnh, Nhà xuất bản Lao động, 1996
  • Sổ tay địa danh Việt Nam, Nguyễn Dược - Trung Hải, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003
  • Địa chí tỉnh Biên Hòa của Nam Kỳ thuộc Pháp, M.Robert.[liên kết hỏng]

Bản mẫu:Tỉnh cũ Việt Nam