Chu Thường Doanh (chữ Hán: 25 tháng 4, 1597 - 21 tháng 12, 1645), được biết đến với tước hiệu Quế Đoan vương (桂端王) là một tông thất và hoàng tử nhà Minh, con trai thứ của Minh Thần Tông[1].

Chu Thường Doanh
朱常瀛
Hoàng đế nhà Minh (truy phong)
Thông tin chung
Sinh25 tháng 4, 1597
Mất21 tháng 12, 1645
Phối ngẫuHiếu Khâm Đoan Hoàng hậu
Hiếu Chính Hoàng hậu
Chiều Thánh Hoàng hậu
Hậu duệVĩnh Lịch Đế Chu Do Lang
Thân phụMinh Thần Tông Chu Dực Quân
Thân mẫuCung Thuận Hoàng quý phi Lý thị

Với tư cách là sinh phụ của Vĩnh Lịch Đế, ông được con trai truy phong Hoàng đế sau khi qua đời.

Xuất thân

Chu Thường Doanh là con trai thứ bảy của Minh Thần Tông, sinh mẫu là Cung Thuận Hoàng quý phi Lý thị, một sủng phi của Hoàng đế bấy giờ bên cạnh Cung Khác Hoàng quý phi Trịnh thị. Trước ông, Lý thị còn sinh hoàng lục tử Chu Thường Nhuận nên được sách phong Kính phi (敬妃) rồi Quý phi (貴妃), địa vị khi ấy chỉ dưới Hiếu Đoan Hiển Hoàng hậu, chính thê của Thần Tông.

Sau khi sinh hoàng lục tử không lâu, Lý quý phi lại tiếp tục mang thai. Do thân thể điều dưỡng chưa tốt cùng với việc mang thai liên tục dẫn đến việc Lý thị sinh khó, sau khi sinh ra Chu Thường Doanh thì có dấu hiệu băng huyết rất nặng mà qua đời không lâu sau đó. Sau khi Lý quý phi qua đời, Thần Tông đau buồn mà truy phong bà làm Hoàng quý phi, đồng thời đưa hai con trai của bà cho Vương hoàng hậu nuôi dưỡng.

Cuộc đời

Sau khi trưởng thành, Chu Thường Doanh được phong đất tại Hành Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Nam), đến năm Thiên Khải thứ 7 (1627) thì đến phiên cung. Năm Sùng Trinh thứ 16 (1643), Trương Hiến Trung đưa quân đánh vào Hành Châu, Chu Thường Doanh đưa gia quyến tháo chạy về phương nam, theo chân của nhà Nam Minh vừa mới được lập. Tháng 11 năm Long Vũ thứ nhất (1645), ông bệnh mất tại Ngô Châu, tước vị do con trai thứ ba Chu Do Giản kế thừa.

Sau khi con trai thứ tư của ông là Vĩnh Lịch Đế Chu Do Lang đăng cơ, Chu Thường Doanh được truy tôn Hoàng đế, thụy hiệu Thể Thiên Xương Đạo Trang Nghị Ôn Hoằng Hưng Văn Tuyên Vũ Nhân Trí Thành Hiếu Đoan Hoàng đế (體天昌道莊毅溫弘興文宣武仁智誠孝端皇帝), miếu hiệu Lễ Tông (禮宗). Ông là vị Hoàng đế cuối cùng được truy tôn của nhà Minh. Lăng mộ của ông được gọi là Hưng lăng (興陵)[2] nằm tại thôn Tống, Tam Giang Khẩu, nơi giao nhau của Tả Giang và Hữu Giang (thường gọi là mộ Hoàng Cô).

Gia quyến

Thê thiếp

  1. Vương phi Lữ thị (呂氏, ? - 1619), người Đại Hưng, Bắc Kinh. Nguyên phối, kết hôn tháng 7 năm Vạn Lịch thứ 47 (1619) sách phong Quế Vương phi (桂王妃), cùng năm bệnh mà mất. Về sau, truy phong là Hiếu Khâm Đoan Hoàng hậu (孝欽端皇后). Sinh được trưởng tử Quế vương Thế tử.
  2. Vương phi Vương thị (王氏, 1594 - 1651), người Đan Đồ, em trai là Vũ Thành bá Vương Quốc Tỉ (王國璽), là một tín đồ Thiên Chúa giáo với tên thánh Helena. Kế phối, sau tôn vị Quế Vương thái phi (桂王太妃). Vĩnh Lịch Đế tức vị, tôn làm Hoàng thái hậu. Qua đời vì bệnh tại Điền Châu, được an táng tại Nam Ninh. Được truy thụy hiệu đầy đủ là Hiếu Chính Hoàng thái hậu (孝正皇太后). Sinh được nhị tử Quế Mẫn Thế tử và tam tử Quế vương Chu Do Giản.
  3. Thứ phi Mã thị (馬氏, 1578 - 1669), người Tứ Xuyên, anh trai là Trung quân Đô đốc phủ Mã Cửu Tước (馬承祖), là một tín đồ Thiên Chúa giáo với tên thánh Maria. Thứ thất, sinh ra Vĩnh Lịch Đế, sau khi con trai tức vị tôn là Chiêu Thánh Hoàng thái hậu (昭聖皇太后). Sau khi đến Bắc Kinh được nhà Thanh chu cấp sinh hoạt phí đến hết đời, qua đời ở tuổi 91. Sinh được tứ tử Minh An Tông Chu Do Tung, ngũ tử Vĩnh Hưng vương Chu Do Triển và trưởng nữ An Hoá Công chúa.
  4. Thứ phi Trần thị (陳氏)

Con cái

Con trai

  1. Trưởng tử, mẹ là Chính phi Lữ thị, được phong Thế tử nhưng chết non.
  2. Nhị tử, mẹ là Kế phi Vương thị, được phong Quế Thế tử (桂世子) nhưng cũng chết non, sau được Vĩnh Lịch Đế truy thụy Mẫn (閔).
  3. Tam tử Chu Do Giản (朱由𣜬, 1623 - 1646), mẹ là Kế phi Vương thị, sơ phong An Nhân vương (安仁王), sau khi cha qua đời thì kế thừa tước hiệu Quế vương (桂王), qua đời vào năm sau.
  4. Tứ tử Chu Do Lang, tức Vĩnh Lịch Đế, mẹ là Thứ phi Mã thị.
  5. Ngũ tử Chu Do Triển (朱由榐), mẹ là Thứ phi Mã thị. Được phong Vĩnh Hưng vương (永興王), chết trong loạn quân.
  6. Lục tử, thất tử, bát tử chết yểu
  7. Cửu tử Chu Do Vinh (朱由榮), chết yểu, mẹ là Thứ phi Trần thị.

Con gái

  1. Trưởng nữ (? - 1649), mẹ là Thứ phi Mã thị, phong An Hóa công chúa (安化公主). Cùng triều đình Nam Minh di chuyển rồi lưu lạc đến Phú Châu (nay thuộc tỉnh Vân Nam), sau khi nghe tin Vĩnh Lịch Đế bị hại, quá đau buồn mà qua đời không lâu sau đó. Mộ của bà được gọi là "Minh Quế Cung Vương phủ An Hóa Quận chúa chi mộ" (明桂恭王府安化郡主之墓).
  2. Nhị nữ (1626 - 1627), mẹ không rõ, chết yểu, sau khi qua đời táng tại Kim Sơn.
  3. Tam nữ, mẹ không rõ, phong Quảng Đức công chúa (廣德公主). Quân Thanh đánh vào Nam Kinh, công chúa lưu lạc đến huyện Võ Duyên, tại đây bà kết hôn với con trai thứ của Bách hộ Hoàng Cảnh (黃燝) là Hoàng Tinh (黃垶). Công chúa qua đời được táng tại đồi Tàm Du, phía nam thôn Hạ Hoàng. Vì sợ tai mắt nhà Thanh, ngôi mộ được xây theo kiểu "bất phong bất thụ" (không đắp nấm, không trồng cây, không lập bia).

Chú thích

  1. ^ 乾隆二十八年《清泉县志》卷三十六《杂志》说是“神宗第五子”。這是因為神宗第二、第四子早夭,所以有的书把朱常瀛记为第五子。
  2. ^ 《南明史》卷二十六