Dead Hand, còn gọi là Perimeter (tiếng Nga: Система «Периметр», đã Latinh hoá: Sistema "Perimetr", n.đ.'Hệ thống "Perimeter"', mang chỉ số GRAU 15E601, Cyrillic: 15Э601),[1], là một hệ thống điều khiển vũ khí hạt nhân tự động hoặc bán tự động được Liên Xô xây dựng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, có ý tưởng tương tự Hệ thống Liên lạc Tên lửa Khẩn cấp AN/DRC-8 của Hoa Kỳ.[2] Hệ thống này vẫn tiếp tục được Liên bang Nga sử dụng.[3][4] Là một ví dụ về cơ chế trả đũa chắc chắn và học thuyết đảm bảo phá hủy lẫn nhau, hệ thống có khả năng khởi động việc phóng các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) của Nga bằng cách gửi một mệnh lệnh đã được thiết lập sẵn ở cấp thẩm quyền cao nhất từ Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng Vũ trang và cơ quan quản lý Lực lượng Tên lửa Chiến lược tới các sở chỉ huy và các hầm phóng riêng lẻ nếu phát hiện một cuộc tấn công hạt nhân thông qua các cảm biến địa chấn, ánh sáng, phóng xạ và áp suất, ngay cả khi toàn bộ bộ máy chỉ huy đã bị phá hủy. Theo phần lớn các nguồn thông tin, hệ thống này bình thường ở trạng thái tắt và chỉ được kích hoạt trong thời kỳ khủng hoảng. Tuy nhiên,tính đến năm 2009, tính đến năm 2009, hệ thống được cho là vẫn hoàn toàn hoạt động và có khả năng thực hiện nhiệm vụ khi cần thiết.[5][6] Các nguồn tài liệu có sự khác biệt về việc liệu sau khi được giới lãnh đạo quốc gia kích hoạt, hệ thống có tự động phóng tên lửa hoàn toàn hay không, hay vẫn còn tồn tại một quy trình phê chuẩn của con người. Các nguồn gần đây hơn cho rằng trường hợp thứ hai có khả năng đúng hơn.

Dead Hand/Perimeter
Nơi chế tạo Liên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1/1985–nay
Sử dụng bởiTập tin:Flag of Strategic Rocket Forces of Russia.svg Lực lượng Tên lửa Chiến lược Nga
Lược sử chế tạo
Số lượng chế tạo1

Ý tưởng

"Perimeter" xuất hiện như một hệ thống thay thế dành cho tất cả các đơn vị được trang bị vũ khí hạt nhân. Nó được dự định là một hệ thống liên lạc dự phòng trong trường hợp các thành phần chủ chốt của hệ thống chỉ huy "Kazbek" và đường liên lạc với Lực lượng Tên lửa Chiến lược bị phá hủy bởi một đòn tấn công phủ đầu nhằm loại bỏ bộ chỉ huy.

Để bảo đảm khả năng hoạt động của mình, hệ thống được thiết kế phần lớn là tự động, có khả năng tự quyết định một cuộc tấn công trả đũa thích hợp mà không cần (hoặc chỉ cần rất ít) sự tham gia của con người trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công tổng lực.[7]

Theo Vladimir Yarynich, một trong những người phát triển hệ thống, hệ thống này còn đóng vai trò như một cơ chế đệm chống lại những quyết định vội vàng dựa trên thông tin chưa được xác minh của giới lãnh đạo đất nước. Khi nhận được cảnh báo về một cuộc tấn công hạt nhân, nhà lãnh đạo có thể kích hoạt hệ thống rồi chờ đợi các diễn biến tiếp theo, với sự bảo đảm rằng ngay cả khi tất cả những nhân sự chủ chốt có thẩm quyền ra lệnh đáp trả bị tiêu diệt thì điều đó vẫn không thể ngăn cản một cuộc phản công trả đũa.

Do đó, về mặt lý thuyết, việc sử dụng hệ thống này sẽ làm giảm khả năng xảy ra một cuộc trả đũa được kích hoạt bởi báo động giả.

Động cơ

Mục đích của hệ thống Dead Hand là duy trì năng lực tấn công trả đũa hạt nhân (second-strike capability), bằng cách bảo đảm rằng việc tiêu diệt ban lãnh đạo Liên Xô sẽ không thể ngăn cản quân đội Liên Xô sử dụng vũ khí hạt nhân của mình.[2]

Mối lo ngại của Liên Xô về vấn đề này gia tăng cùng với việc Hoa Kỳ phát triển các hệ thống tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) có độ chính xác rất cao trong thập niên 1980.

Cho đến thời điểm đó, Hoa Kỳ sẽ triển khai phần lớn vũ khí hạt nhân của mình bằng máy bay ném bom tầm xa hoặc tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM). Những loại tên lửa phóng từ tàu ngầm trước đó, như UGM-27 Polaris từ thập niên 1960 và UGM-73 Poseidon từ thập niên 1970, được xem là không đủ chính xác để thực hiện các cuộc tấn công phản lực lượng (counterforce) hoặc đòn tấn công phủ đầu nhằm vào lực lượng hạt nhân của đối phương. Các tên lửa SLBM này được dành để tấn công các thành phố, mà không cần độ chính xác quá cao.

Trong trường hợp đó, một đối thủ sở hữu hệ thống giám sát radar và vệ tinh hiệu quả có thể nhận được khoảng 30 phút cảnh báo trước khi vụ nổ hạt nhân đầu tiên xảy ra. Điều này khiến việc tấn công phủ đầu một cách hiệu quả trở nên khó thực hiện, bởi đối phương sẽ có thời gian phóng tên lửa ngay khi nhận cảnh báo để giảm nguy cơ lực lượng của họ bị phá hủy trên mặt đất.

Sự phát triển của các SLBM có độ chính xác rất cao, như Trident C4 và sau đó là Trident D5, đã làm thay đổi cán cân này. Trident D5 được xem là có độ chính xác tương đương bất kỳ ICBM bố trí trên đất liền nào. Các tàu ngầm mang tên lửa Trident của Hoa Kỳ hoặc Anh có thể bí mật tiếp cận bờ biển Liên Xô rồi phóng các đầu đạn có độ chính xác cao từ cự ly gần, làm giảm thời gian cảnh báo sớm xuống dưới ba phút, khiến lực lượng tên lửa hạt nhân của Liên Xô không có khả năng đáp trả kịp thời.

Liên Xô đã thực hiện các bước nhằm bảo đảm rằng khả năng trả đũa hạt nhân vẫn được duy trì ngay cả khi ban lãnh đạo bị tiêu diệt trong một cuộc tấn công bất ngờ.[2] Ngược lại, Thompson cho rằng chức năng của Perimeter là hạn chế những quyết định sai lầm của giới lãnh đạo chính trị hoặc quân sự trong khoảng thời gian cực ngắn giữa lúc tên lửa SLBM hoặc tên lửa hành trình được phóng và lúc chúng đánh trúng mục tiêu.[8] Ông dẫn lời Zheleznyakov về mục đích của Perimeter là: "Làm nguội những cái đầu nóng và những kẻ cực đoan. Dù điều gì xảy ra đi nữa thì vẫn sẽ có sự trả đũa."[8]

Nguyên lý hoạt động

Sau khi được kích hoạt và xác định rằng một cuộc chiến tranh hạt nhân đang diễn ra, hệ thống sẽ phóng một tên lửa chỉ huy 15P011 mang đầu đạn đặc biệt 15B99. Trong quá trình bay, tên lửa này truyền các mệnh lệnh cho các trung tâm chỉ huy của Lực lượng Tên lửa Chiến lược Nga (RVSN) có trang bị các thiết bị thu tín hiệu phù hợp để mở tất cả các hầm phóng và phóng tên lửa hạt nhân,

Hệ thống tên lửa chỉ huy này có nguyên lý tương tự Hệ thống Liên lạc Tên lửa Khẩn cấp (Emergency Rocket Communications System) của Hoa Kỳ.

Thành phần

Tên lửa chỉ huy

Đây là thành phần duy nhất của toàn bộ hệ thống được biết đến khá rõ ràng. Trong tổ hợp có một tên lửa 15P011 mang chỉ số 15A11, do Cục thiết kế Yuzhnoe phát triển trên cơ sở tên lửa 15A16 (hay MR UR-100U). Được trang bị đầu đạn vô tuyến chỉ huy 15B99 do Cục thiết kế LPI (Đại học Bách khoa Sankt-Peterburg) phát triển, nó bảo đảm việc truyền lệnh phóng từ sở chỉ huy trung tâm tới tất cả các tổ hợp tên lửa dưới tác động gây nhiễu của các vụ nổ hạt nhân và các biện pháp gây nhiễu điện tử chủ động (ECM) trong giai đoạn bay theo quán tính.

Việc vận hành kỹ thuật hoàn toàn giống với tên lửa cơ sở 15A16. Bệ phóng 15P716 là một hệ thống thụ động tự động kiểu hầm phóng thuộc loại "công trình phóng tên lửa", rất có thể là phiên bản nâng cấp của công trình mang mã OS-84, mặc dù cũng không loại trừ khả năng tên lửa được bố trí trong các loại hầm phóng khác.

Việc phát triển bắt đầu vào năm 1974 theo lệnh của Bộ Quốc phòng. Các cuộc thử nghiệm bay được tiến hành tại thao trường NIIP-5 (Baikonur) từ năm 1979 đến năm 1986. Tổng cộng đã thực hiện 7 lần phóng (6 lần thành công và 1 lần thành công một phần), và hệ thống được đưa vào trang bị vào tháng 1 năm 1985.[9] Đầu đạn 15B99 nặng 1.412 kg.

Hệ thống chỉ huy và điều khiển tự động

Đây là thành phần ít được công khai nhất của toàn bộ hệ thống và không có thông tin đáng tin cậy nào về sự tồn tại của nó.

Có những suy đoán cho rằng hệ thống được trang bị đầy đủ các phương tiện liên lạc và cảm biến khác nhau để theo dõi tình hình quân sự. Hệ thống này được cho là có khả năng theo dõi cường độ liên lạc trên các tần số quân sự, nhận tín hiệu đo xa từ các sở chỉ huy, đo mức độ phóng xạ trên mặt đất và khu vực lân cận; kết hợp với việc phát hiện các chấn động địa chấn ngắn hạn, từ đó suy luận rằng đã xảy ra một cuộc tấn công hạt nhân bằng nhiều đầu đạn.

Hệ thống thậm chí có thể có khả năng theo dõi những người còn sống trong các sở chỉ huy. Sau khi phân tích các yếu tố này, hệ thống tương quan dữ liệu có thể thực hiện bước cuối cùng là ra lệnh phóng tên lửa.

Một giả thuyết khác cho rằng hệ thống sử dụng cơ chế dead man's switch. Khi nhận được thông tin về một vụ phóng tên lửa, tổng tư lệnh sẽ kích hoạt hệ thống; nếu sau đó hệ thống không nhận được tín hiệu dừng thuật toán tác chiến, nó sẽ tự động phóng tên lửa chỉ huy.

Trong một cuộc phỏng vấn không chính thức với tạp chí Wired, Valery Yarynich, một trong những người phát triển hệ thống, đã tiết lộ những thông tin sau về thuật toán hoạt động của Perimeter:

Hệ thống được thiết kế để nằm trong trạng thái bán ngủ cho đến khi được một quan chức cấp cao kích hoạt trong thời kỳ khủng hoảng. Sau đó nó sẽ bắt đầu giám sát một mạng lưới các cảm biến địa chấn, phóng xạ và áp suất không khí để tìm dấu hiệu của các vụ nổ hạt nhân. Trước khi tiến hành bất kỳ cuộc tấn công trả đũa nào, hệ thống phải kiểm tra bốn điều kiện theo logic "nếu/thì". Nếu hệ thống đã được kích hoạt, nó sẽ cố gắng xác định xem có vũ khí hạt nhân nào đã đánh trúng lãnh thổ Liên Xô hay không. Nếu có vẻ như điều đó đã xảy ra, hệ thống sẽ kiểm tra xem các đường liên lạc tới phòng tác chiến của Bộ Tổng tham mưu Liên Xô còn hoạt động hay không. Nếu chúng vẫn hoạt động và sau một khoảng thời gian nhất định – có thể từ 15 phút đến 1 giờ – không xuất hiện thêm dấu hiệu tấn công nào, hệ thống sẽ giả định rằng các quan chức vẫn còn sống và có thể ra lệnh phản công, rồi tự động ngừng hoạt động. Nhưng nếu đường liên lạc tới Bộ Tổng tham mưu bị cắt đứt, Perimeter sẽ kết luận rằng ngày tận thế đã đến. Nó sẽ ngay lập tức chuyển quyền phóng cho bất kỳ ai đang trực vận hành hệ thống vào thời điểm đó trong một boong-ke được bảo vệ kiên cố, bỏ qua nhiều tầng chỉ huy thông thường.[10]

Người ta cho rằng sở chỉ huy của hệ thống nằm trong một boong-ke dưới núi Kosvinsky Kamen ở phía bắc dãy Ural.[11][12]

Hoạt động

Năm 1967, Liên Xô lần đầu tiên cố gắng tạo ra một hệ thống mang tên "Signal", cho phép tạo ra 30 mệnh lệnh được chuẩn bị sẵn từ sở chỉ huy để gửi tới các đơn vị tên lửa. Mặc dù hệ thống này vẫn chưa hoàn toàn tự động, nhưng mục đích của nó không khác biệt.

Đầu những năm 1990, một số cựu quan chức cấp cao của quân đội Liên Xô và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, trong một loạt cuộc phỏng vấn với nhà thầu quốc phòng Mỹ BDM, đã thừa nhận sự tồn tại của Dead Hand, đồng thời đưa ra những tuyên bố có phần mâu thuẫn về việc triển khai hệ thống.[13]

Năm 1992, Thượng tướng Varfolomey Korobushin, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Lực lượng Tên lửa Chiến lược, cho biết Nga có một hệ thống chỉ được kích hoạt trong thời kỳ khủng hoảng, hệ thống này sẽ tự động phóng toàn bộ tên lửa nếu được kích hoạt bởi sự kết hợp của ánh sáng, phóng xạ và sóng áp suất, ngay cả khi mọi trung tâm chỉ huy hạt nhân đều đã bị phá hủy.[14]

Cũng trong năm 1992, Thượng tướng Andrian Danilevich, Trợ lý về Học thuyết và Chiến lược cho Tổng tham mưu trưởng giai đoạn 1984–1990, tuyên bố rằng Dead Hand từng được xem xét, nhưng Liên Xô cho rằng các hệ thống kích hoạt nếu hoàn toàn tự động sẽ quá nguy hiểm. Hơn nữa, với sự xuất hiện của các hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả và mức độ sẵn sàng chiến đấu cao hơn của lực lượng tên lửa, những hệ thống như vậy trở nên không cần thiết, do đó ý tưởng này đã bị bác bỏ.[15]

Năm 1993, Vitaly Katayev, cố vấn cao cấp cho Chủ nhiệm Ban Công nghiệp Quốc phòng thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô giai đoạn 1967–1985, người phụ trách vũ khí chiến lược, chính sách quốc phòng, đàm phán kiểm soát vũ khí và học thuyết quân sự, xác nhận rằng Dead Hand "chắc chắn đã đi vào hoạt động" từ đầu những năm 1980.

Theo Katayev, hệ thống không hoàn toàn tự động mà được thiết kế để kích hoạt thủ công trong một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Nó sẽ được kích hoạt bởi nhiều cảm biến nhạy với ánh sáng, chấn động địa chấn, phóng xạ và mật độ khí quyển.[16]

Mặc dù cả Katayev lẫn Korobushin đều khẳng định cơ chế này đã được triển khai, Viktor Surikov, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Khoa học Trung ương về Chế tạo Máy Tổng hợp (TsNIIMash) giai đoạn 1976–1992, năm 1993 xác nhận rằng Liên Xô đã thiết kế một hệ thống phóng tự động với các cảm biến địa chấn, ánh sáng và phóng xạ, nhưng cho biết thiết kế này cuối cùng đã bị Thống chế Sergey Akhromeyev bác bỏ theo khuyến nghị của Korobushin và chưa bao giờ được triển khai thực tế.[17]

Các nguồn tư liệu khác nhau về mức độ tự động hóa của Dead Hand. Một bài viết trên The New York Times năm 1993 dẫn lời Bruce G. Blair, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Brookings:[18]

Hệ thống Dead Hand mà ông mô tả ngày nay đã đưa xu hướng phòng thủ này tới kết luận hợp lý của nó, dù đáng sợ. Về lý thuyết, hệ thống tự động này sẽ cho phép Moskva đáp trả một cuộc tấn công của phương Tây ngay cả khi các chỉ huy quân sự cấp cao đã thiệt mạng và thủ đô bị thiêu rụi.

Trung tâm của hệ thống được cho là nằm trong các boong-ke ngầm sâu phía nam Moskva và tại các địa điểm dự phòng khác. Trong thời kỳ khủng hoảng, các quan chức quân sự sẽ gửi một thông điệp được mã hóa tới các boong-ke, kích hoạt Dead Hand.

Nếu các cảm biến trên mặt đất gần đó phát hiện một cuộc tấn công hạt nhân vào Moskva, đồng thời phát hiện sự gián đoạn trong các đường liên lạc với các chỉ huy quân sự cấp cao, hệ thống sẽ gửi tín hiệu tần số thấp thông qua các ăng-ten ngầm tới các tên lửa đặc biệt.

Bay ở độ cao lớn phía trên các trận địa tên lửa và các cơ sở quân sự khác, những tên lửa này sau đó sẽ phát lệnh tấn công tới các tên lửa đạn đạo, máy bay ném bom và, thông qua các trạm tiếp sóng vô tuyến, tới các tàu ngầm đang hoạt động trên biển.

Trái với một số nhận thức ở phương Tây, theo Blair, nhiều tên lửa hạt nhân của Nga bố trí trong các hầm phóng ngầm và trên các bệ phóng cơ động có thể được phóng tự động.[18]

Tuy nhiên, các nguồn gần đây hơn cho thấy hệ thống này mang tính bán tự động. Trong một bài viết năm 2007, Ron Rosenbaum dẫn lời Bruce Blair cho rằng Dead Hand được "thiết kế để bảo đảm khả năng trả đũa bán tự động trước một cuộc tấn công nhằm vào đầu não đối phương".[11] Rosenbaum viết: "Dĩ nhiên, có một sự khác biệt rất lớn giữa một thiết bị ngày tận thế "bán tự động" và một thiết bị cho ngày tận thế hoàn toàn tự động – nằm ngoài sự kiểm soát của con người."

Nhà nghiên cứu hạt nhân Pavel Podvig cũng cho rằng hệ thống này đòi hỏi (và luôn đòi hỏi) sự can thiệp bổ sung của con người như một biện pháp an toàn cuối cùng trước khi phóng tên lửa.[19]

David E. Hoffman đã mô tả cách hoạt động bán tự động của Dead Hand như sau:

Và họ (người Liên Xô) nghĩ rằng họ có thể hỗ trợ các nhà lãnh đạo bằng cách tạo ra một hệ thống thay thế, để nhà lãnh đạo chỉ cần nhấn một nút và nói rằng: Tôi giao việc này cho người khác. Tôi không biết có tên lửa đang bay tới hay không. Hãy để người khác quyết định.

Nếu điều đó xảy ra, ông ta (nhà lãnh đạo Liên Xô) sẽ kích hoạt một hệ thống gửi tín hiệu tới một boong-ke sâu dưới lòng đất, nơi có ba sĩ quan trực ban.

Nếu thực sự có tên lửa đang bay tới, Điện Kremlin bị đánh trúng và ban lãnh đạo Liên Xô bị tiêu diệt — điều mà họ luôn lo sợ — thì ba người trong boong-ke ngầm đó sẽ phải quyết định có phóng những tên lửa chỉ huy cỡ nhỏ hay không. Các tên lửa này sẽ cất cánh, bay qua lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô và ra lệnh phóng toàn bộ số tên lửa còn lại.

Trước đây, Liên Xô từng nghĩ đến việc tạo ra một hệ thống hoàn toàn tự động. Một kiểu cỗ máy tận thế có thể tự phóng tên lửa hạt nhân mà không cần bất kỳ can thiệp nào của con người.

Nhưng khi họ hoàn thành bản thiết kế và xem xét nó, họ nhận ra rằng: điều này hoàn toàn điên rồ.[20]

Hiện tại

Năm 2011, Tư lệnh Lực lượng Tên lửa Chiến lược Nga, Thượng tướng Sergey Karakayev, trong một cuộc phỏng vấn với báo Komsomolskaya Pravda, đã xác nhận rằng hệ thống đánh giá và liên lạc Perimeter vẫn đang hoạt động.[21][22]

Năm 2018, Thượng tướng Viktor Yesin, nguyên Tổng tham mưu trưởng Lực lượng Tên lửa Chiến lược Nga, cho rằng hệ thống Perimeter có thể trở nên kém hiệu quả sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF Treaty).[23][24]

Ngày 1 tháng 8 nănm 2025,[25] Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump viết trên Truth Social rằng ông đã ra lệnh điều động lại vị trí của hai tàu ngầm hạt nhân nhằm đáp trả một bài đăng của cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, trong đó có nhắc đến hệ thống "Dead Hand".[26][27][28]

Khả năng bị tấn công mạng và cách tiếp cận của Hoa Kỳ

Trong bối cảnh có những lo ngại về khả năng các hệ thống như Perimeter có thể bị tấn công mạng,[29] Hoa Kỳ đã đưa vào luật liên bang tuyên bố sau: "Chính sách của Hoa Kỳ là các nỗ lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo không được làm tổn hại đến tính toàn vẹn của các biện pháp bảo đảm hạt nhân, dù thông qua chức năng của các hệ thống vũ khí, việc xác thực thông tin liên lạc từ các cấp chỉ huy có thẩm quyền hay nguyên tắc yêu cầu hành động xác nhận trực tiếp của con người trong quá trình thực hiện các quyết định của Tổng thống liên quan đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân." Quy định này được đưa vào Điều 1638 của Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng Quốc gia Hoa Kỳ năm tài khóa 2025.[30]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Yarynich, Valery E. (ngày 20 tháng 9 năm 2004). "C3: Nuclear Command, Control Cooperation". Air & Space Power Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015.
  2. ^ a b c "The Origin of Buzzer Monolyths, The Soviet Nuclear Defense System, and The Myth of the Dead Hand". Numbers stations. The NSRIC. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2015.
  3. ^ "Russia, Military Power: Building a Military to Support Great Power Aspirations" (PDF). Defense Intelligence Agency. 2017. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017.
  4. ^ Bender, Jeremy (ngày 5 tháng 9 năm 2014). "Russia May Still Have An Automated Nuclear Launch System Aimed Across The Northern Hemisphere". Business Insider. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015.
  5. ^ Thompson, Nicholas (ngày 21 tháng 9 năm 2009). "Inside the Apocalyptic Soviet Doomsday Machine". Wired. Quyển 17 số 10. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014.
  6. ^ Hoffman, David E. (2009). The Dead Hand: The Untold Story of the Cold War Arms Race and Its Dangerous Legacy. New York City: Anchor Books. tr. 477. ISBN 978-0-307-38784-4. And it would be wise for Russia to disconnect and decommission Perimeter, the semiautomatic command system for nuclear retaliation.
  7. ^ Torchinsky, Jason (ngày 11 tháng 4 năm 2017). "The Soviets Made A Real Doomsday Device in The '80s and the Russians Still Have It Today". Foxtrot Alpha (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
  8. ^ a b Thompson, Nicholas (ngày 21 tháng 9 năm 2009), "Inside the Apocalyptic Soviet Doomsday Machine", Wired, paragraph starting "The silence can be attributed..." and 3 following paragraphs, lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2014, truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017.
  9. ^ "Perimetr 15E601". GlobalSecurity. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2021.
  10. ^ Thompson, Nicholas (ngày 21 tháng 9 năm 2009). "Inside the Apocalyptic Soviet Doomsday Machine". Wired (bằng tiếng Anh). Quyển 17 số 10. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016.
  11. ^ a b Rosenbaum, Ron (ngày 31 tháng 8 năm 2007). "The Return of the Doomsday Machine?". Slate. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2011.
  12. ^ "1231-й центр боевого управления (в/ч 20003)". Armius. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2020.
  13. ^ Hines, John G (1995), "II. Soviet View of the Strategic Relationship" (PDF), Soviet Intentions 1965–1985, BDM Federal, tr. 9–21, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2010, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010 – qua GWU.
  14. ^ Summary of narrative: Korobushin (PDF), quyển II, GWU, tr. 106–8, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2010, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010.
  15. ^ Summary of narrative: Danilevich (PDF), quyển II, GWU, tr. 19–69, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2010, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010.
  16. ^ Summary of narrative: Kataev (PDF), quyển II, GWU, tr. 96–101, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2010, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010.
  17. ^ Summary of narrative: Surikov (PDF), quyển II, GWU, tr. 134–135, lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2010, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010.
  18. ^ a b Broad, William J (ngày 8 tháng 10 năm 1993). "Russia Has 'Doomsday' Machine, U.S. Expert Says". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017.
  19. ^ Podvig, Pavel (ngày 23 tháng 12 năm 2016). "No gaps in early-warning coverage as three radars to begin combat duty in 2017". Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2024.
  20. ^ Gross, Terry; Hoffman, David (ngày 8 tháng 10 năm 2009). "'Dead Hand' Re-Examines The Cold War Arms Race". Fresh Air. NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2017.
  21. ^ Baranets, Viktor (ngày 16 tháng 12 năm 2011). "Командующий РВСН генерал-лейтенант Сергей Каракаев: "Владимир Владимирович был прав - мы можем уничтожить США быстрее чем за полчаса"". Komsomolskaya Pravda (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2015.
  22. ^ Stilwell, Blake (ngày 9 tháng 3 năm 2022). "Russia's 'Dead Hand' Is a Soviet-Built Nuclear Doomsday Device". Military. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2023.
  23. ^ "Without INF Treaty, USA can destroy Russian nuclear weapons easily". Pravda. ngày 9 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2018.
  24. ^ "Without INF Treaty, USA can destroy Russian nuclear weapons easily – Nuclear war in the making". Pravda Report. ngày 9 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2023.
  25. ^ Roth, Andrew (ngày 2 tháng 8 năm 2025). "Trump moves nuclear submarines after ex-Russia president's menacing tweet" – qua The Guardian.
  26. ^ "Trump moves nuclear submarines after ex-Russian president's comments". www.bbc.com. ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  27. ^ "Medvedev reminds Trump of Russia's nuclear strike capabilities as war of words escalates". Al Arabiya English. ngày 31 tháng 7 năm 2025.
  28. ^ "Russia in Review, July 25-Aug. 1, 2025 | Russia Matters". www.russiamatters.org.
  29. ^ Mahima, Ceana. "What happens if 'The Dead Hand', Russia's Ultimate Deterrent Comes Under Cyber Attack?". The Dialectics. Center for Dialectics and Research. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  30. ^ "FY2025 NDAA, Section 1638 ("Sense of Congress with respect to use of artificial intelligence to support strategic deterrence")". Emerging Tech Observatory. Center for Security and Emerging Technology at Georgetown University. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.