Gyeongbokgung hay Cung Cảnh Phúc (Hangul: 경복궁, Hanja: 景福宮, Hán Việt: Cảnh Phúc Cung) là một cung điện nằm ở phía bắc của thủ đô Seoul, Hàn Quốc. Được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1395 và tái thiết lại vào năm 1867, đây là cung điện chính và lớn nhất trong số năm cung điện của triều đại Triều Tiên.

Gyeongbokgung
Tập tin:광화문 월대.jpg
Cảnh Phúc cung Lỗi Lua trong Mô_đun:Mapframe tại dòng 701: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Hanja
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Romaja quốc ngữGyeongbokgung
McCune–ReischauerKyŏngbokkung
Hán-ViệtCảnh Phúc cung
Tập tin:경복궁도 (서울역사박물관).jpg
Cảnh Phúc cung Họa đồ.

Cảnh Phúc cung bị thiệt hại nặng nề bởi các cuộc chiến tranh xâm lược trong suốt thế kỷ 20 khi Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên.

Lịch sử

Tập tin:An Jung-sik Baek-agchunhyo (Summer).jpg
Bức họa Cảnh Phúc cung

"Gyeongbok" (Cảnh Phúc, 景福) xuất hiện trong Kinh Thi và có nghĩa là ước muốn của nhà vua cho con cháu và toàn dân được hưởng phước lành trong hòa bình và thịnh vượng. Về phong thủy, vị trí của cung được xem một địa điểm tốt lành, ứng với vị thế phía sau tựa núi, phía trước có sông, bao gồm phía bắc là các núi Bắc Nhạc Sơn (북악산, 北岳山, Bugaksan), núi Lạc Sơn (낙산, 駱山, Naksan), núi Nhân Vương Sơn (인왕산, 仁王山, Inwangsan) cùng núi Nam Sơn (남산, 南山, Namsan) bao bọc xung quanh, phía trước lại có suối Thanh Khê (Thanh Khê xuyên, 청계천, 淸溪川, Cheonggyecheon) và sông Hán (Hán giang, 한강, 漢江, Hangang) chảy qua.

Cảnh Phúc cung được khởi công năm 1394 dưới thời Triều Tiên Thái Tổ. Khai quốc công thần Trịnh Đạo Truyền được vinh dự đặt tên và chọn "Cảnh Phúc". Dưới hai triều vua kế tiếp Thái TôngThế Tông, Cảnh Phúc cung càng được tô điểm và mở rộng thêm. Tuy nhiên, vào năm 1553 thì cung điện bị hỏa hoạn, cháy mất một phần nhưng được vua Minh Tông cho tu bổ, sửa chữa lại sau đó. Được xây dựng vào năm 1395 trùng với thời điểm Triều Tiên Thái Tổ dời kinh đô đến Hán Dương, Cảnh Phúc cung được xây dựng lại vào năm 1865 (năm thứ hai triều đại vua Cao Tông) theo lệnh của Hưng Tuyên Đại viện quân sau khi bị thiêu rụi trong các cuộc xâm lược của Nhật Bản vào năm 1592, Xương Đức cung thay thế Cảnh Phúc cung trở thành cung điện chính của nhà vua cho đến khi Cảnh Phúc cung được xây dựng lại. Cảnh Phúc cung được xây dựng lại vào năm 1865 (năm thứ hai triều đại vua Cao Tông) theo lệnh của Hưng Tuyên Đại viện quân. Sau khi Nhật Bản sáp nhập Triều Tiên vào năm 1910, nhiều công trình kiến ​​trúc đã bị phá hủy hoặc hư hại trong thời kỳ Nhật Bản đô hộ để làm nơi xây dựng Phủ Toàn quyền Nhật Bản tại Triều Tiên vào năm 1926. Thay vào đó, các bảo tàng, bãi cỏ và vườn được xây dựng. Xu hướng này tiếp tục ngay cả sau khi giải phóng vào năm 1945, và một số công trình, bao gồm cả cổng Quang Hóa môn, đã bị phá hủy trong Chiến tranh Triều Tiên.

Bắt đầu từ việc trùng tu cổng Quang Hóa môn năm 1968, sự quan tâm và nỗ lực khôi phục Cảnh Phúc cung về hình dáng ban đầu ngày càng tăng, và các kế hoạch trùng tu quy mô lớn bắt đầu vào cuối những năm 1980. Tòa nhà Phủ Toàn quyền Nhật Bản bị phá dỡ năm 1995, khu vực Heungnyemun được trùng tu năm 2001, cấu trúc gỗ của Quang Hóa môn được trùng tu năm 2010, và nguyệt đình (월대, 月臺) của Quang Hóa môn được trùng tu năm 2023. Chính phủ Hàn Quốc có kế hoạch trùng tu các công trình chính ở mỗi khu vực vào năm 2045.

Cảnh Phúc cung chiếm vị thế trên một khoảnh đất rộng và bằng phẳng, theo quy hoạch sẽ làm nơi thiết triều chính của vua chúa Triều Tiên. Quy mô ở đây là biểu tượng cho quyền lực phong kiến của vương triều. Nếu đối chiếu với nhà NguyễnViệt Nam thì Cảnh Phúc cung tương đương với Hoàng thành Huế, còn Cần Chính Điện ở Cảnh Phúc cung tương đương Thái Hòa Điện.

Trong Nhâm Thìn Oa loạn, khi Nhật Bản xâm lăng Triều Tiên vào cuối thế kỷ 16, Cảnh Phúc cung bị phá hủy hoàn toàn. Triều đình Triều Tiên phải dùng Xương Đức Cung trong suốt 270 năm cho đến khi Cảnh Phúc Cung được xây lại vào năm 1868.

Ngày 8 tháng 10 năm 1895, Minh Thành Hoàng hậu bị ám sát tại Cảnh Phúc Cung, Triều Tiên Cao Tông cùng vương thất phải bỏ Cảnh Phúc cung và không bao giờ trở lại đó nữa vì sau đó Triều Tiên bị Nhật Bản thôn tính và Cảnh Phúc cung không còn làm nơi thiết triều chính nữa.

Cung điện ngày nay phần lớn được phục dựng bắt đầu từ năm 1995. Năm 2005, chính phủ Hàn Quốc cho chuyển Bảo tàng quốc gia Hàn Quốc vào Cảnh Phúc cung, giúp cho việc bảo tồn cho cung điện này.

Các công trình bên trong Cảnh Phúc cung

Gwanghwamun

Tập tin:Gwanghwamun Woldae(20240413) 1, cropped.jpg
Quang Hóa môn - cổng chính phía Nam dẫn vào Cảnh Phúc cung

Gwanghwamun (Tiếng Hàn: 광화문; Hanja: 光化門, Hán Việt: Quang Hóa môn) là cổng chính của Cảnh Phúc cung.

Heungnyemun

Tập tin:KBK-HeungRyeMoon.jpg
Hưng Lễ môn

Heungnyemun (Tiếng Hàn: 흥례문; 興禮門; Hán Việt: Hưng Lễ môn) là lớp cửa thứ hai, nằm phía sau Quang Hóa môn, phía trước Cần Chính môn.

Geunjeongmun

Tập tin:Geunjeongmun.jpg
Cần Chính môn

Geunjeongmun (Tiếng Hàn: 근정문; Hanja: 勤政門; Hán Việt: Cần Chính môn) là lớp cửa thứ ba, nằm ngay phía sau Hưng Lễ môn và phía trước Cần Chính điện. Cần Chính môn là cổng chính dẫn vào sân trong và vào Cần Chính điện. Cổng được chia thành ba lối đi riêng biệt và chỉ có nhà vua mới được phép đi qua lối ở giữa.

Geunjeongjeon

Tập tin:Seoul Geunjeongjeon 01.jpg
Cần Chính điện
Tập tin:Seoul Throne in Geunjeongjeon 03.jpg
Ngai vàng trong Cần Chính điện

Geunjeongjeon (Tiếng Hàn: 근정전; Hanja: 勤政殿; Hán Việt: Cần Chính điện) là nơi nhà vua chính thức tiếp kiến các triều thần của mình, đưa ra những tuyên bố về tầm quan trọng quốc gia và chào đón các sứ thần và đại sứ nước ngoài trong triều đại Triều Tiên.[1] Công trình này được chỉ định là Bảo vật Quốc gia của Hàn Quốc số 223 vào ngày 8 tháng 1 năm 1985.

Cần Chính điện ban đầu được xây dựng vào năm 1395 dưới thời trị vì của vua Thái Tổ, nhưng đã bị thiêu rụi vào năm 1592 khi quân Nhật xâm lược Hàn Quốc. Công trình hiện tại được xây dựng vào năm 1867 khi Cảnh Phúc cung đang được phục dựng. Cái tên Cần Chính điện - Cần Chính môn, do đại thần Trịnh Đạo Truyền đặt ra."[1]

Cần Chính điện ược xây dựng chủ yếu bằng gỗ, nằm ở trung tâm của một sân lớn hình chữ nhật, trên đỉnh một bệ đá hai tầng. Nền điện được bao quanh bằng các lan can chi tiết và được trang trí với nhiều tác phẩm điêu khắc mô tả rồng và phượng. Sân thiết triều có hai hàng đá phẩm sơn, gọi là Pumgyeseok (Hán Việt: Phẩm giai thạch; tiếng Hàn: 품계석; Hanja: 品階石), cho biết vị trí của các quan trong triều đình theo cấp bậc của họ. Toàn bộ sân trong được bao bọc hoàn toàn bởi những tấm ván gỗ.

Sajeongjeon

Tập tin:Korea-Gyeongbokgung-Sajeongjeon-03.jpg
Tư Chính điện

Sajeongjeon (Hán Việt: Tư Chính điện; tiếng Hàn: 사정전; Hanja: 思政殿) là một ngôi điện được vua sử dụng làm nơi điều hành chính sự trong triều đại Triều Tiên. Tư Chính điện nằm phía sau Cần Chính điện, nhà vua thường xư lý chính vụ và họp với các quan ở đây.

Hai tòa nhà hai bên riêng biệt, Cheonchujeon (Tiếng Hàn: 천추전; Hanja: 千秋殿, Hán Việt: Thiên Thu điện) và Manchunjeon (Tiếng Hàn: 만춘전; Hanja: 萬春殿, Hán Việt: Vạn Xuân điện), nằm ở phía tây và phía đông của Tư Chính điện, và trong khi Tư Chính điện không được trang bị hệ thống sưởi, những tòa nhà này được trang bị Ondol để sử dụng trong những tháng lạnh hơn.

Gyeonghoeru

Tập tin:Gyeonghoeru (Royal Banquet Hall) at Gyeongbokgung Palace, Seoul.jpg
Khánh Hội lâu nằm trên một gò đất giữa hồ, bên phải Cần Chính điện

Gyeonghoeru (Tiếng Hàn: 경회루; Hanja: 慶會樓, Hán Việt: Khánh Hội lâu) là một công trình được sử dụng để tổ chức các bữa tiệc quan trọng và đặc biệt của triều đình trong triều đại Triều Tiên. Nó được đăng ký là Bảo vật Quốc gia của Hàn Quốc số 224 vào ngày 8 tháng 1 năm 1985.

Khánh Hội lâu đầu tiên được xây dựng vào năm 1412, năm thứ 12 của triều đại vua Thái Tông, nhưng đã bị thiêu rụi trong cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Hàn Quốc năm 1592. Công trình hiện tại được xây dựng vào năm 1867 (năm thứ 4 của triều đại vua Cao Tông) trên một hòn đảo của một hồ nước nhân tạo hình chữ nhật, rộng 128 m và ngang 113 m.

Được xây dựng chủ yếu bằng gỗ và đá, Khánh Hội lâu có hình thức mà cấu trúc bằng gỗ của tòa nhà nằm trên 48 cột đá lớn, với cầu thang gỗ nối từ tầng hai đến tầng một. Các chu vi bên ngoài của Khánh Hội lâu được hỗ trợ bởi các cột vuông trong khi các cột bên trong là hình trụ; chúng được đặt như vậy để đại diện cho ý tưởng về Âm - Dương. Khi Khánh Hội lâu ban đầu được xây dựng vào năm 1412, những cột đá này được trang trí với các tác phẩm điêu khắc mô tả những con rồng bay lên trời, nhưng những chi tiết này không được tái tạo khi tòa nhà được xây dựng lại vào thế kỷ 19. Ba cây cầu đá nối tòa nhà với khuôn viên cung điện và các góc của lan can quanh đảo được trang trí bằng các tác phẩm điêu khắc mô tả mười hai con vật Hoàng đạo.

Gyeonghoeru từng được đại diện trên tờ tiền 10.000 won của Hàn Quốc (Sê-ri 1983-2002).

Sujeongjeon

Tập tin:Sujeongjeon.JPG
Tu Chính điện

Sujeongjeon (Tiếng Hàn: 수정전; Hanja: 修政殿, Hán Việt: Tu Chính điện), một ngôi điện nằm ở phía nam của Khánh Hội lâu, được xây dựng vào năm 1867 và được sử dụng bởi nội các của triều đại Triều Tiên

Gangnyeongjeon

Tập tin:Seoul Gangnyeongjeon 01.jpg
Khang Ninh điện

Gangnyeongjeon (Tiếng Hàn: 강녕전; Hanja: 康寧殿, Hán Việt: Khang Ninh điện) là một ngôi điện được sử dụng làm nơi ở chính của nhà vua.[2] Được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1395, năm thứ tư dưới thời của vua Thái Tổ, tòa nhà chứa phòng ngủ của nhà vua.[2] Bị phá hủy trong cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Hàn Quốc năm 1592, ngôi điện này được xây dựng lại khi Cảnh Phúc cung được xây dựng lại vào năm 1867, nhưng nó lại bị thiêu rụi bởi một trận hỏa hoạn lớn vào tháng 11 năm 1876 và phải được khôi phục lại vào năm 1888 theo lệnh của Vua Cao Tông.[3]

Năm 1917, Khang Ninh điện bị triệt giải để lấy gỗ xây dựng Xương Đức cung. Khang Ninh điện hiện tại được xây dựng vào năm 1994, tỉ mỉ khôi phục lại nguyên bản của tòa nhà theo đúng thông số kỹ thuật và thiết kế.

Khang Ninh điện bao gồm các hành lang và mười bốn phòng hình chữ nhật, mỗi phòng bảy phòng nằm ở bên trái và bên phải của tòa nhà theo một bố cục giống như một bàn cờ. Nhà vua sử dụng phòng trung tâm trong khi các quan đại thần chiếm các phòng bên còn lại để bảo vệ, trợ giúp và nhận lệnh. Tòa nhà nằm trên một nền đá cao và hiên hoặc hiên bằng đá nằm ở phía trước của tòa nhà.

Đặc điểm nổi bật của tòa nhà là không có mái nhà màu trắng trên cùng được gọi là Yongmaru (tiếng Hàn: 용마루) trong tiếng Hàn. Nhiều giả thuyết tồn tại để giải thích sự vắng mặt, trong đó một giả thuyết nổi bật nói rằng, vì nhà vua được biểu tượng là rồng trong triều đại Trều Tiên, Yongmaru, có chứa chữ cái Long (yong, 龍, nghĩa là Rồng), không thể nằm trên đầu nhà vua khi đang ngủ.

Gyotaejeon

Tập tin:Gyeongbokgung-KyoTaeJeon.JPG
Giao Thái điện - nơi ở của Vương phi.

Gyotaejeon (Hán Việt: Giao Thái điện; tiếng Hàn: 교태전; Hanja: 交泰殿) là một ngôi điện được sử dụng làm nơi ở chính của Vương phi của triều đại Triều Tiên.[4] Điện này nằm phía sau Khang Ninh điện, nơi ở của nhà vua, và chứa buồng ngủ của Vương phi. Nó được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng năm 1440, năm thứ 22 dưới triều Thế Tông Đại vương.[4]

Thế Tông, người được ghi nhận là có sức khỏe yếu sau thời kỳ trị vì của mình, đã quyết định xử lý triều chính ở Khang Ninh điện, nơi đặt giường ngủ của ông, thay vì Tư Chính điện. Vì quyết định này có nghĩa là nhiều quan lại triều thần thường xuyên cần đến thăm và xâm phạm đến cấm vực của Khang Ninh điện, nên Thế Tông đã cho xây dựng Giao Thái điện làm nơi cấm vực cho Vương phi.

Tòa điện này bị thiêu rụi vào năm 1592 khi quân Nhật xâm lược, nhưng đã được xây dựng lại vào năm 1867. Năm 1917, Giao Thái điện bị triệt giải để lấy gỗ xây Xương Đức cung.[5] Tòa điện hiện tại được xây dựng lại vào năm 1994 theo đúng thiết kế và thông số kỹ thuật ban đầu của. Tòa nhà, giống như Khang Ninh điện, không có mái trên cùng gọi là Yongmaru.

Tập tin:Korea-Gyeongbokgung-Amisan-01.jpg
Trụ ống khói đá trong hoa viên Nga Mi Sơn

Amisan (Hán Việt: Nga Mi Sơn; tiếng Hàn: 아미산; Hanja: 峨嵋山), một khu vườn nổi tiếng được tạo ra từ một gò đất nhân tạo, nằm phía sau Giao Thái điện. Bốn ống khói hình lục giác, được xây dựng vào khoảng năm 1869 bằng gạch màu cam và mái ngói trang trí, tô điểm cho Amisan mà không cho thấy chức năng tiện dụng của chúng và là những ví dụ đáng chú ý về nghệ thuật tạo hình được tạo ra trong triều đại Triều Ti.n Các ống khói đã được đăng ký là Kho báu số 811 của Hàn Quốc vào ngày 8 tháng 1 năm 1985.

Hyangwonjeong

Tập tin:가을옷을 입은 향원정.jpg
Hương Viễn đình

Hyangwonjeong (Tiếng Hàn: 향원정; Hanja: 香遠亭, Hán Việt: Hương Viễn đình) là một gian nhà nhỏ hình lục giác hai tầng được xây dựng vào khoảng năm 1873 theo lệnh của vua Cao Tông.[6]

Ngôi đình được xây dựng trên một hòn đảo nhân tạo trong hồ có tên Hyangwonji (Hán Việt: Hương Viễn trì; tiếng Hàn: 향원지; Hanja: 香遠池), và một cây cầu có tên Chwihyanggyo (Hán Việt: Túy Hương kiều; tiếng Hàn: 취향교; Hanja: 醉香橋) nối nó với khuôn viên cung điện. Tên Hyangwonjeong - Hương Viễn đình hiểu theo nghĩa đen là "ngôi đình của hương thơm bay xa", trong khi Chwihyanggyo - Túy Hương kiều là "Cây cầu say đắm hương thơm".[6]

Cây cầu Túy Hương kiều ban đầu nằm ở phía bắc của hòn đảo và là cây cầu dài nhất được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ trong triều đại Triều Tiên; tuy nhiên, nó đã bị phá hủy trong Chiến tranh Triều Tiên. Cây cầu được xây dựng lại theo hình dáng hiện tại ở phía nam của hòn đảo vào năm 1953, nhưng hiện đang được di dời về vị trí ban đầu ở phía bắc. Việc xây dựng lại dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2019.

Jagyeongjeon

 
Từ Khánh điện

Từ Khánh điện (Jagyeongjeon; tiếng Hàn: 자경전; Hanja: 慈慶殿) là một tòa điện được sử dụng làm nơi ở chính của Thần Trinh Vương hậu (Sinjeong Wanghu; tiếng Hàn: 신정 왕후; Hanja: 神貞王后), mẹ của vua Hiến Tông. Được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1865 và bị thiêu rụi hai lần bởi hỏa hoạn nhưng được xây dựng lại vào năm 1888. Từ Khánh điện là cung điện của hoàng gia duy nhất ở Cảnh Phúc cung còn sót lại sau các chiến dịch phá hủy của chính phủ Nhật Bản trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc.

Tập tin:Korea-Gyeongbokgung-Jagyeongjeon-02.jpg
Bức tường bên ngoài Từ Khánh điện

Các ống khói của Từ Khánh điện được trang trí với mười dấu hiệu của sự trường thọ để mong muốn một cuộc sống lâu dài cho nữ hoàng quá cố, trong khi các bức tường phía tây được trang trí bằng các thiết kế hoa.[7] Phần nhô ra phía đông nam của Từ Khánh điện, được đặt tên là Cheongyeollu (Hán Việt: Thanh Yên lầu; tiếng Hàn: 청연루; Hanja: 清讌樓), được thiết kế để mang lại không gian mát mẻ hơn vào mùa hè, trong khi phần phía tây bắc của Từ Khánh điện, được đặt tên là Bokandang (Hán Việt: Phúc An đường; tiếng Hàn: 복안당; Hanja: 福安堂), được thiết kế cho những tháng mùa đông. Phần phía đông của Từ Khánh điện, tên là Hyeopgyeongdang (Hiệp Khánh đường; Tiếng Hàn: 협경당; Hanja: 協慶堂) và được phân biệt bởi chiều cao thấp hơn của tòa nhà, được sử dụng bởi các phụ tá của nữ hoàng quá cố.

Tòa điện và các bức tường trang trí đã được đăng ký là Kho báu số 809 của Hàn Quốc vào ngày 8 tháng 1 năm 1985.

Jibokjae

Tập tin:Jibokjae1.jpg
Tập Ngọc trai

Jibokjae (Tiếng Hàn: 집옥재; Hanja: 集玉齋, Hán Việt: Tập Ngọc trai) nằm cạnh Dinh thự Kiền Thanh cung (Geoncheonggung), là một thư viện tư nhân hai tầng được sử dụng bởi vua Cao Tông. Năm 1876, một trận hỏa hoạn lớn xảy ra ở Cảnh Phúc cung, và vua Cao Tông, trong một thời gian ngắn, đã chuyển đến và cư trú tại Xương Đức cung. Cuối cùng ông chuyển về Cảnh Phúc cung vào năm 1888, nhưng ông đã cho tháo dỡ Tập Ngọc trai đã có từ trước và chuyển từ Xương Đức cung đến vị trí hiện tại vào năm 1891.[8]

Công trình độc đáo thể hiện sự ảnh hưởng nặng nề của kiến trúc Trung Quốc thay vì kiến trúc cung điện truyền thống của Hàn Quốc.[9] Các bức tường bên được xây dựng hoàn toàn bằng gạch, một phương pháp thường được người Trung Quốc đương đại sử dụng, và các hình thức mái, bình phong bên trong và cột của nó cũng thể hiện ảnh hưởng của Trung Quốc. Kiến trúc của này có thể nhằm tạo cho công trình một vẻ ngoài kỳ lạ.

Tập Ngọc trai được bao quanh bởi Parujeong (Tiếng Hàn: 팔우정; Hanja: 八隅亭, Hán Việt: Bát Ngung đình), một gian hàng hai tầng hình bát giác, ở bên trái và Hyeopgildang (Tiếng Hàn: 협길당; Hanja: 協吉堂, Hán Việt: Hiệp Cát đường) ở bên phải. Bát Ngung đình được xây dựng để lưu trữ sách, trong khi Hiệp Cát đường là một phần của Tập Ngọc trai. Cả hai tòa nhà đều được kết nối nội bộ với Tập Ngọc trai.[8]

Bohyeondang (Tiếng Hàn: 보현당; Hanja: 寶賢堂, Hán Việt: Bảo Hiền đường) và Gahoejeong (Tiếng Hàn: 가회정; Hanja: 嘉會亭, Hán Việt: Gia Hội đường), các tòa nhà cũng tạo thành một khu phức hợp thư viện ở phía nam Tập Ngọc trai, đã bị chính phủ Nhật Bản phá bỏ vào đầu thế kỷ 20.

Gonnyeonghap

Gonnyeonghap (Tiếng Hàn: 곤녕합; Hanja: 坤寧閤, Hán Việt: Khôn Ninh các) là một tòa kiến trúc được xây dựng ở phía Tây của Kiền Thanh cung, nằm sâu trong nội viện Cảnh Phúc cung. Đây là nơi nổi tiếng với Ất Mùi sự biến vào năm 1895, khi Minh Thành Hoàng hậu bị ám sát bởi quân Nhật ngay tại nơi này.

Kiến trúc

Cảnh Phúc cung là công trình tiêu biểu cho nền nghệ thuật kiến trúc phương Đông chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán. Đối với người Hàn thì đây là một nét son về mặt lịch sử nơi vua chúa Triều Tiên thiết triều. Về mặt mỹ thuật thì đây cũng là cung điện đồ sộ nhất tại Hàn Quốc.

Cảnh Phúc cung kết hợp hài hòa giữa bàn tay con người và thiên nhiên. Khuôn viên vườn cảnh có đình tạ, có hoa cỏ cắt tỉa công phu điển hình cho nghệ thuật vườn cảnh Hàn Quốc. Ngày nay, các nghi lễ diễu binh của Ngự lâm quân diễn ra hằng ngày ở Cảnh Phúc cung để diễn lại phần nào phong cảnh huy hoàng của các triều đại vua chúa ngày xưa.

Cảnh Phúc cung thu hút du khách không hẳn vì quy mô kiến trúc mà có lẽ chủ yếu vì khu vườn thượng uyển nổi tiếng là đẹp. Người dân thủ đô Seoul cũng thường xuyên lui tới đây thỏa mắt ngắm cảnh và thả trí nghỉ ngơi.

Hình ảnh

Chú thích

  1. ^ a b "Geunjeongjeon". Gyeongbokgung. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  2. ^ a b "강녕전 (Gangnyeongjeon)". 한국의 궁궐 (Korea Palace). 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009.
  3. ^ Kim (김), Changjun (창준). "일제 강점기의 경복궁 (景福宮) 훼손과 복원사업 (Destruction of Gyeongbokgung during the Japanese Occupation of Korea and Reconstruction Enterprise)" (PDF). 문화재관리국 (文化財管理局) (Cultural Heritage Administration of Korea). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009.
  4. ^ a b Lee (이), Dongsu (동수) (ngày 10 tháng 10 năm 2006). "경복궁 (Gyeongbokgung)". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009.
  5. ^ "교태전 (Gyotaejeon)". 한국의 궁궐 (Korea Palace). 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009.
  6. ^ a b "Hyangwonjeong". Gyeongbokgung. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  7. ^ "Jagyeongjeon". Gyeongbokgung. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009.
  8. ^ a b The Description on the sign near the Jibokjae.
  9. ^ "Jibokjae". Gyeongbokgung. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2009.

Liên kết ngoài