Hòa Bình Ông chúa (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; 5 tháng 6 năm 1727 – 8 tháng 7 năm 1748) là trưởng nữ của Triều Tiên Anh TổChiêu Dụ Ánh tần Lý thị, đồng thời là người con gái thứ ba của Anh Tổ.

Hòa Bình Ông chúa
화평옹주
Ông chúa Triều Tiên
Thông tin chung
Sinh5 tháng 6 năm 1727
Mất8 tháng 7, 1748(1748-07-08) (21 tuổi)
Phối ngẫuPhác Minh Nguyên
Hậu duệPhác Tương Triết
(con nuôi)
Hoàng tộcTriều Tiên Lý thị
Thân phụTriều Tiên Anh Tổ
Thân mẫuChiêu Dụ Ánh tần

Cuộc đời

Hòa Bình Ông chúa sinh ngày 27 tháng 4 năm thứ 3 triều Triều Tiên Anh Tổ (1727), là con gái của Chiêu Dụ Ánh tần Lý thị.[1]

Trong số các hoàng tử và công chúa của Anh Tổ, Hòa Bình Ông chúa được xem là người con được nhà vua hết mực yêu thương. Anh Tổ dành cho bà tình cảm đặc biệt và từng gọi bà là "tri kỷ" của mình.[2] Ngay cả sau khi bà qua đời, ông vẫn không nguôi thương tiếc và dồn tình yêu ấy cho người em gái cùng mẹ là Hòa Hoãn Ông chúa. Trước khi Hòa Bình Ông chúa xuất giá, Anh Tổ còn cho xây dựng Ly Hiện Biệt cung để làm của hồi môn, nhưng bà đã khéo léo từ chối. Của hồi môn dành cho bà vô cùng hậu hĩnh, được mô tả là thập lý hồng trang, vượt xa lễ vật khi chị gái là Hòa Thuận Ông chúa xuất giá.[3] Sau khi thành hôn, Anh Tổ cũng dành nhiều ưu ái cho phò mã Phác Minh Nguyên, thường xuyên triệu ông vào cung trò chuyện.

Tính tình của Hòa Bình Ông chúa hiền hòa, nhân hậu, trái ngược với người em gái cùng mẹ là Hòa Hoãn Ông chúa. Bà cũng có mối quan hệ rất gắn bó với em trai Trang Hiến Thế tử. Khi còn sống, bà luôn hết lòng yêu thương em trai và nhiều lần đứng ra hòa giải những mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa Anh Tổ và Trang Hiến Thế tử. Trong tác phẩm Hận trung lục, Huệ Khánh cung Hồng thị từng than rằng, nếu Hòa Bình Ông chúa không mất sớm, bi kịch của Trang Hiến Thế tử có lẽ đã không xảy ra.

Ngày 24 tháng 6 năm thứ 24 triều Anh Tổ (1748), Hòa Bình Ông chúa qua đời vì khó sinh, hưởng dương 22 tuổi.[4] Cái chết của ái nữ khiến Anh Tổ đau buồn tột độ, ăn ngủ không yên. Ông tạm ngừng việc triều chính và dời từ Khánh Đức cung về Xương Đức cung, do nơi đây ở gần phủ của Hòa Bình Ông chúa để tiện đích thân lo liệu tang lễ. Nhà vua thậm chí còn bất chấp lễ chế, tự mình đến dự lễ nhập liệm.[5] Trước ngày an táng, ông năm lần đến phủ của Hòa Bình Ông chúa để khóc tiễn biệt người con gái yêu quý lần cuối.[6]

Tang lễ của Hòa Bình Ông chúa được cử hành theo nghi thức hạng nhất,[7] quy mô chỉ đứng sau quốc tang.[8] Để chọn được vùng đất phong thủy tốt nhất làm nơi yên nghỉ cho con gái, Anh Tổ ra lệnh triều đình mua lại khu đất mà gia tộc họ Doãn ở Pha Châu đã gìn giữ qua nhiều đời, đồng thời di dời hơn một trăm hộ dân quanh khu vực để xây dựng lăng mộ của bà tại Mã Sơn, Pha Châu.[9]

Sau khi Hòa Bình Ông chúa qua đời, Anh Tổ chìm trong đau thương suốt một thời gian dài, rất ít khi tiếp kiến các đại thần,[10] đồng thời nhiều lần đến phủ của bà để hoài niệm những ngày tháng cũ. Mãi đến đầu năm sau (1749), ông vẫn chưa thể nguôi ngoai nỗi đau mất con. Do đứa con trong bụng của Hòa Bình Ông chúa cũng mất theo mẹ trong lần khó sinh, bà không còn người nối dõi, vì vậy Anh Tổ quyết định nhận cháu của phò mã Phác Minh Nguyên là Phác Tương Triết làm người thừa tự cho vợ chồng bà.[11]

Gia quyến

  • Cha: Triều Tiên Anh Tổ (1694–1776).
  • Mẹ: Ánh tần Lý thị (1696–1764).
  • Phu quân: Cẩm Thành úy Phác Minh Nguyên (錦城尉朴明源; 1725–1790), tự Hối Phủ (晦甫), người Ban Nam Phác thị, con trai thứ ba của Phác Sư Chính.
    • Con nuôi: Phác Tương Triết (朴相喆; 1737–1762), tự Bảo Trọng (保仲), con trai thứ ba của Tiến sĩ Phác Hưng Nguyên (朴興源; trưởng nam của Phác Sư Chính), được nhận làm con nối dõi của Phác Minh Nguyên và Hòa Bình Ông chúa.
    • Con dâu nuôi: Trinh phu nhân An Đông Kim thị (1737–1812), con gái thứ hai của Huyện lệnh Kim Giản Hành.[12]
      • Cháu nuôi: Phác Hoằng Thọ (朴紭壽; 1753–1776), tự Sĩ Cương (士綱), con trai thứ hai của Phác Tông Đức (朴宗德; trưởng nam của Phác Hưng Nguyên), được nhận làm con nối dõi của Phác Tương Triết.

Sau khi Hòa Bình Ông chúa qua đời, Phác Minh Nguyên còn có thêm ba con trai và ba con gái do các thiếp thất sinh.

Tham khảo

  1. ^ 《燕巖集·三從兄綏祿大夫錦城尉兼五衛都摠府都摠管贈謚忠僖公墓誌銘》……貴主以英宗三年丁未四月二十七日生。戊辰六月二十四日卽世。享年二十二。……
  2. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 7月 1日:父母之於子女有知己焉, 於子婦則賢嬪爲知己, 於女則以和平翁主爲知己, 而今遽至此". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2017. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  3. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 8月 2日: 初翁主下嫁時, 錦平尉朴弼成語人曰, '吾於貴主之婚, 每爲主婚, 和順之下嫁, 比吾館主時儀物之豐十倍矣。 今貴主資裝, 比和順, 尤萬萬矣。' 翁主出宮之初, 上賜梨峴別宮, 主辭焉。". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  4. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 7月 1日:內局入侍, 上曰: "米飮之屬不順下, 而每多沓沓時矣。 展謁太廟然後, 可得少安矣。"". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  5. ^ "英祖 67卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 6月 25日:戊寅/上在和平主第, 命移次昌德宮。 上在主第時, 甚雨, 百官、軍兵終日沾濕。 午後移次昌德宮, 群臣爭之不得, 將欲復臨殮殯也。【史臣曰: 王者臨喪, 自有典禮, 列朝以來, 王子、公ㆍ翁主之喪, 雖或出臨, 旋卽還宮。 親臨殯殮, 古所未聞。 大臣、諸宰非不爭之, 而終不能感回者, 二十載間承奉成習, 甘心爲苟從之臣。 及至有無前之過擧, 雖欲救之, 其亦晩矣。】". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  6. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 閏7月 29日:辛巳/上幸和平翁主第。 時, 翁主葬日將至, 故欲爲一訣, 遂臨其第, 前後哭臨凡五也。". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  7. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 7月 8日:錦城尉朴明源上疏, 辭翁主喪一等葬禮, 批曰: "祿以一等, 葬以一等例也, 豈曰濫也? 所重王姬, 其敢辭焉?"". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  8. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 8月 2日:甲申/葬和平翁主, 儀物之盛, 亞於國葬。". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  9. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 閏7月 3日:乙卯/命戶曹, 買坡州士人尹得聖家山。 尹氏庄舍在於坡州馬山, 五世相傳。 時, 翁主卒逝, 上使宗臣識堪輿術者南原君等相地, 以尹家庄後爲吉。 上命版曹, 出銀給民家, 百戶皆毁撤。 【史臣曰: 翁主有淑德而卒, 上以止慈之義, 爲之痛惜, 此則天理之(常)〔當〕然。 哀不可過, 過則非禮, 況人君乎? 自翁主卒逝之後, 過二旬始許賓對, 前後過中之敎, 記注不能盡記。 蓋群臣無見憚於上者, 致上有此失, 惜哉! 且死則葬不食之地, 使翁主賢乎, 宜循其志, 以成其美, 奪人家世守之地, 又毁數百民家, 夫以上爲民之德意, 猶有所掩而未之思歟?"】". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  10. ^ "英祖 68卷, 24年(1748 戊辰 / 청 건륭(乾隆) 13年) 7月 17日:己亥/引見大臣、備堂。 上自翁主喪後, 罕接群臣, 至是聞淸使入境, 有是命。". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  11. ^ "반남박씨세보 潘南朴氏世譜, 권1-2". FamilySearch. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2021.(第一卷,第193-195頁)
  12. ^ "안동김씨대동보 安東金氏大同譜, 권3-5". FamilySearch.(第5卷,第11、128頁)