Ha (tiếng Ai Cập: ḥꜣ) là vị thần cai quản vùng đất phía tây trong tôn giáo Ai Cập cổ đại. Cũng như Seth, Ha canh giữ sa mạc và các ốc đảo ở phía tây của Ai Cập.[1]

Ha
Tập tin:Ha god.svg
Tên bằng chữ tượng hình<hiero>H-A-N25:R12-A40</hiero>
Thờ phụng chủ yếuOxyrhynchus
Biểu tượngsa mạcốc đảo phía tây

Mô tả

Ha đã được biết đến ngay từ thời kỳ Sơ triều đại, nhưng hầu như không xuất hiện nhiều. Tuy vậy, từ Vương triều thứ 3 trở đi, một số tước hiệu của tư tế đã chứng thực cho sự tồn tại của tín ngưỡng thờ ông. Chẳng hạn, tước hiệu "Người theo hầu Ha" được ghi nhận đến 10 lần tại Giza: trên tường mộ của Ph-r-nfr và của Sim-nfr, trên phiến đá vôi trong mộ của Wp-m-nfrt.[2]

Ha cũng xuất hiện ba lần trong Văn khắc Kim tự tháp. Ở dòng 119, ông được xem là đấng ban lương thực, dòng 1013 mô tả ông là một khía cạnh của mặt trời bên cạnh Horus, và cuối cùng, ở dòng 1712, ông cùng với thần Min trở thành cặp đôi định hướng, trong đó Min tượng trưng cho phương Đông còn Ha cho phương Tây.[2]

Đến tận triều đại của nữ vương Hatshepsut (Vương triều thứ 18) thì hiện thân dưới dạng hình người của ông mới được biết đến.[3] Ha có thể được phần biệt với các thần hình người khác nhờ vào biểu tượng 3 ngọn đồi trên đầu biểu thị cho "sa mạc" hoặc "ngoại bang", đôi khi ông cầm trên tay con dao hoặc cung tên để nhấn mạnh vai trò bảo hộ.[4]

Vai trò

Ha là thần bảo hộ của Oxyrhynchus, nome thứ 19 của Thượng Ai Cập, và ốc đảo Bahariya gần đó.[3] Là vị thần của phương tây, Ha được dâng tôn hiệu "Lãnh chúa phương Tây", cùng với thần chiến binh Sopdu trấn giữ hai bờ biên giới Ai Cập. Ở phía đông, Sopdu đối đầu trước những thế lực từ các vương quốc Tây Á, còn ở phía tây, Ha ngăn bước xâm lăng của người Libya.[5] Danh hiệu "Lãnh chúa phương Tây" của Ha chỉ bắt đầu từ thời kỳ Chuyển tiếp thứ Nhất, và từ Trung Vương quốc, ông còn mang danh hiệu "Lãnh chúa xứ Libya". Văn khắc Quan tài (đoạn 313 và 636) cho thấy Ha và Sopdu cùng xuất hiện với Dedun, vị thần ngoại quốc có gốc gác từ xứ Nubia phương nam.[2]

Edfu, với vai trò là thần của sa mạc, Ha có trách nhiệm cung cấp cát trong việc đặt nền móng, là nghi lễ cực kỳ quan trọng khi xây cất các đền đài.[6] Ha được khắc họa tại các ốc đảo phía tây sông Nin, như tại Kharga (tập trung ở đền Hibis), Bahariya (nơi thờ chính) và Dakhla (nguyện đường của thần Tutu vùng Kellis).[7]

Dù có nguồn gốc cổ xưa, nhưng rất ít tư liệu ghi lại về thần thoại của Ha. Ngoài ra, bạn đồng hành bên cạnh Ha là một vị thần còn ít được biết đến hơn là Igai (hoặc Ga), có tôn hiệu "Lãnh chúa Ốc đảo phương Nam", trông coi các ốc đảo Kharga và Dakhla. Cả hai đều được đề cập trong một bản Văn khắc Quan tài có thể tạm dịch như sau: "Đừng mục nát như Ha và đừng co rúm như Ga", hàm ý cầu mong cho thể xác không bị phân hủy nơi cõi âm, cũng là một cách liên hệ các đặc tính địa hình sa mạc với trạng thái thể xác sau khi chết.[6]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Remler, Pat (2010). Egyptian Mythology, A to Z (ấn bản thứ 3). Infobase Publishing. tr. 73. ISBN 978-1-4381-3180-1.
  2. ^ a b c Kelly Accetta; Renate Fellinger; Pedro Lourenço Gonçalves; Sarah Musselwhite; W. Paul van Pelt, biên tập (2014). Current Research in Egyptology 14 (2013). Oxbow Books. tr. 170–171. ISBN 978-1-78297-687-5.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách biên tập viên (liên kết)
  3. ^ a b Ismail (2019), tr. 93.
  4. ^ Wilkinson, Richard H. (2003). The complete gods and goddesses of ancient Egypt. Thames & Hudson. tr. 106. ISBN 978-0-500-05120-7.
  5. ^ Turriziani, Valeria (2023). "Beyond Politics: Religion and Symbolism at the Borders of Egypt". Trong Mohr, Sara; Thompson, Shane M. (biên tập). Power and Identity at the Margins of the Ancient Near East. Đại học Colorado. tr. 119 và 123. ISBN 978-1-64642-358-3.
  6. ^ a b Ismail (2019), tr. 94.
  7. ^ Kaper, Olaf E. (2003). The Egyptian God Tutu: A Study of the Sphinx-god and Master of Demons with a Corpus of Monuments. Peeters Publishers. tr. 126. ISBN 978-90-429-1217-5.
Tài liệu