Hakeem Olajuwon
Hakeem Abdul Olajuwon Tập âm thanh "Hakeem_Abdul_Olajuwon.wav" không có sẵn[a] (sinh ngày 21 tháng 1 năm 1963), với biệt danh "The Dream" (Mơ mộng), là một cựu cầu thủ bóng rổ chuyên nghiệp mang hai quốc tịch Nigeria và Mỹ, người đã có 18 mùa giải thi đấu tại Giải bóng rổ Nhà nghề Mỹ (NBA).[2] Thi đấu ở vị trí trung phong, anh dành phần lớn sự nghiệp của mình để cống hiến cho đội Houston Rockets và dẫn dắt đội bóng giành hai chức vô địch NBA liên tiếp vào các năm 1994 và 1995, trước khi trải qua một khoảng thời gian ngắn thi đấu cho Toronto Raptors vào cuối sự nghiệp. Anh được công nhận rộng rãi là một trong những trung phong vĩ đại nhất mọi thời đại.[3][4][5]
| Tập tin:Nigerian President Buhari Stands With Secretary Kerry, U.S. Delegation After They Attended His Inauguration Ceremony (cropped).jpg Olajuwon vào năm 2015 | |||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Sinh | 21 tháng 1, 1963 Lagos, Nigeria | ||||||||||||||
| Quốc tịch | Nigeria / Mỹ | ||||||||||||||
| Thống kê chiều cao | 7 ft 0 in (213 cm) | ||||||||||||||
| Thống kê cân nặng | 255 lb (116 kg) | ||||||||||||||
| Thông tin sự nghiệp | |||||||||||||||
| Trung học | Trường Cao đẳng Sư phạm Hồi giáo (Lagos, Nigeria) | ||||||||||||||
| Đại học | Houston (1981–1984) | ||||||||||||||
| NBA Draft | 1984 / Vòng: 1 / Chọn: thứ nhất | ||||||||||||||
| Được lựa chọn bởi Houston Rockets | |||||||||||||||
| Sự nghiệp thi đấu | 1984–2002 | ||||||||||||||
| Vị trí | Trung phong | ||||||||||||||
| Số | 34 | ||||||||||||||
| Quá trình thi đấu | |||||||||||||||
| 1984–2001 | Houston Rockets | ||||||||||||||
| 2001–2002 | Toronto Raptors | ||||||||||||||
| Danh hiệu nổi bật và giải thưởng | |||||||||||||||
| |||||||||||||||
| Thống kê sự nghiệp NBA | |||||||||||||||
| Điểm số | 26.946 (21,8 điểm/trận) | ||||||||||||||
| Bật bảng | 13.747 (11,1 lần/trận) | ||||||||||||||
| Chắn bóng | 3.830 (3,1 lần/trận) | ||||||||||||||
| Số liệuLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). tại Basketball-Reference.com | |||||||||||||||
| Vào sảnh danh vọng bóng rổ với tư cách cầu thủ | |||||||||||||||
| FIBA Hall of Fame as player | |||||||||||||||
Danh hiệu
| |||||||||||||||
Sinh ra tại Lagos, Nigeria, Olajuwon rời quê hương để sang đầu quân cho trường Đại học Houston dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên trưởng Guy Lewis. Sự nghiệp bóng rổ đại học của anh trong màu áo đội Houston Cougars ghi dấu ấn với ba lần tiến vào vòng Final Four. Tại kỳ NBA draft năm 1984 – một kỳ tuyển quân nổi tiếng với việc sản sinh ra những tài năng kiệt xuất như Michael Jordan, Charles Barkley và John Stockton – Olajuwon đã được Houston Rockets lựa chọn ở lượt đầu tiên. Anh kết hợp cùng cầu thủ cao 7 foot 4 inch (224 cm) là Ralph Sampson để tạo thành bộ đôi mang biệt danh "Twin Towers" (Tháp đôi). Cả hai đã đưa Rockets lọt vào Chung kết NBA 1986, nơi họ để thua Boston Celtics sau sáu lượt trận. Sau khi Sampson bị trao đổi sang Golden State Warriors vào năm 1988, Olajuwon trở thành thủ lĩnh hàng đầu của Rockets. Anh từng có hai lần dẫn đầu toàn giải đấu về chỉ số bắt bóng bật bảng (1989, 1990) và ba lần dẫn đầu về chỉ số chắn bóng (1990, 1991, 1993).
Dù suýt bị đem đi trao đổi sau một cuộc tranh chấp hợp đồng gay gắt trước thềm mùa giải 1992–93, anh vẫn tiếp tục ở lại Houston. Anh trở thành cầu thủ không phải người Mỹ đầu tiên được bầu chọn vào đội hình NBA All-Star và thi đấu chính trong một trận đấu All-Star, cầu thủ ngoại quốc đầu tiên giành danh hiệu MVP của NBA, cầu thủ ngoại quốc đầu tiên giành giải Cầu thủ phòng ngự xuất sắc nhất năm. Đặc biệt ở mùa giải 1993–94, anh đã lập kỷ lục và cho đến nay vẫn là cầu thủ duy nhất trong lịch sử NBA thâu tóm cả ba danh hiệu gồm MVP mùa giải, Cầu thủ phòng ngự xuất sắc nhất năm và MVP Chung kết trong cùng một mùa giải. Đội bóng Rockets của anh đã lên ngôi vô địch hai năm liên tiếp. Chức vô địch năm 1994 của Rockets trước New York Knicks là danh hiệu đầu tiên trong lịch sử đội bóng, đây cũng là trận đấu mà Olajuwon đòi lại món nợ thất bại ở giải đại học trước Patrick Ewing. Vào năm sau, sau một mùa giải chính thi đấu mờ nhạt, đội bóng của Olajuwon đã lội ngược dòng ngoạn mục và quét sạch đội Orlando Magic của Shaquille O'Neal với tỷ số 4–0 tại loạt trận Chung kết NBA.
Olajuwon cũng là thành viên của đội tuyển bóng rổ quốc gia Hoa Kỳ giành huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 1996, đồng thời anh cũng được chọn vào danh sách 50 cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử NBA. Anh được vinh danh tại Sảnh danh vọng Bóng rổ Naismith Memorial vào năm 2008 và Sảnh danh vọng FIBA vào năm 2016. Đến tháng 10 năm 2021, Olajuwon tiếp tục được tôn vinh là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại khi có tên trong Đội hình kỷ niệm 75 năm NBA.[6] Anh kết thúc sự nghiệp thi đấu với tư cách là cầu thủ có nhiều pha chắn bóng nhất lịch sử giải đấu (3.830 lần), là một trong bốn cầu thủ NBA từng đạt thành tích Quadruple-double (4 chỉ số đạt từ 2 chữ số), và là cầu thủ đầu tiên trong lịch sử giải đấu có 6 lần đạt thành tích 5x5 (khi một cầu thủ có ít nhất 5 điểm, 5 bật bảng, 5 kiến tạo, 5 cướp bóng và 5 chắn bóng trong một trận đấu).[7][8]
Chú thích
- ^ /həˈkiːm
əˈlaɪʒu.ɒn/ hə-KEEM ə-LY-zhoo-on;[1] tiếng Yoruba: [olaɟuwɔ̃]
Tham khảo
- ^ "Olajuwon, Hakeem – definition of Olajuwon, Hakeem in English from the Oxford dictionary". OxfordDictionaries.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2016.
- ^ Jones, Jonathan (ngày 1 tháng 2 năm 2017). "Hakeem refuses to be shaken by Trump's Muslim ban". Sports Illustrated. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
- ^ Reimold, John (ngày 13 tháng 4 năm 2011). "Hakeem Olajuwon Remembered: The Best Center of All Time". Bleacher Report. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2021.
- ^ Reardon, Logan (ngày 8 tháng 6 năm 2021). "Where does Bill Russell rank among best centers in NBA history?". NBC Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
- ^ "The game's greatest giants ever". ESPN.com. ngày 6 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
- ^ "NBA 75th Anniversary Team announced". NBA.com. ngày 21 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2022.
- ^ "What is a 5x5 game in basketball? Full list of NBA players to accomplish rare statistical feat | Sporting News". www.sportingnews.com (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ^ "5x5club.com". 5x5club.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.