Hoàng Lão Đạo là tiền thân của Thái Bình Đạo, một giáo phái của Đạo giáo. Hoàng là Hoàng Đế, Lão là Lão Tử. Tư tưởng Hoàng Lão bắt nguồn từ các Đạo gia thuộc học phái Tắc Hạ thời Chiến Quốc, đến đầu đời Tây Hán nó biến thành một trào lưu triết họcchính trị mạnh, chủ trương thanh tĩnh vô vi, cho dân nghỉ ngơi, nới tay trị dân. Đến đời Đông Hán, học phái này trở thành tôn giáo, thờ Hoàng Đế và Lão Tử. Chịu ảnh hưởng của Hoàng Lão Đạo, Trương Giác nổi lên, tự xưng là «Đại Hiền Lương Sư», sáng lập Thái Bình Đạo, phát động khởi nghĩa gọi là Hoàng Cân khởi nghĩa mà sử gọi là giặc Khăn Vàng.

Hoàng Lão được phát triển bởi những "Tắc Hạ tiên sinh" với chủ trương tích hợp những tư tưởng trị quốc của Đạo giaPháp gia cùng với đó là hạn chế tối đa mâu thuẫn. Có lẽ vì nguyên nhân này, một số Pháp gia(Thân Bất Hại, Thận Đáo, Hàn Phi Tử,...) đều ít nhiều có sự hiện diện của "vô vi", "đạo" vốn là những khái niệm của Đạo gia.

Tư tưởng chính trị

Cũng như phần trình bày ở trên, tư tưởng chính trị của phái Hoàng Lão chủ yếu là sự kết hợp của phái Đạo giaPháp gia.

Phái Hoàng Lão yêu cầu vị quân chủ biết dùng cái "vô vi", sử dụng nó để bảo toàn quyền lực(cái thế) của mình. Trong khi đó, bầy tôi sẽ "hữu vi" tức là thực hiện pháp luật hay những phương pháp được thực hiện nhằm mục đích can thiệp để giữ vững quyền lực của triều đình.

Nói cái "vô vi" trong Hoàng Lão thực chất khá khác và có hơi hướng "mâu thuẫn" với tinh thần của Đạo gia như Lão Tử vốn là "không nên can thiệp". Điều đó có nghĩa rằng, cái khác ở đây chính là việc khi vị vua "vô vi" trong Hoàng Lão thực chất là không bộc lộ những sở thích, ham muốn thuần túy của mình, đồng thời giữ được những nền tảng cai trị mà có sự can thiệp ít nhiều như "pháp luật"(trong Pháp gia) đồng thời giữ vững việc bầy tôi "hữu vi" và ông vua phải biết dùng kỹ thuật(cái thuật) để biết được cách giao trách nhiệm cho quan lại và đồng thời là áp chế người dưới. Cái "thuận theo tự nhiên" ở đây tức là dùng "hình danh" để biết được tính đúng sai mà xử sự. "Tự nhiên" ở đây là tính đúng sai để dựa theo.

Những kỹ thuật cai trị của Hoàng Lão là một phần tối quan trọng. Đầu tiên, việc xét xem mối quan hệ giữa nhà vua và kẻ làm tôi trong tư tưởng Hoàng Lão ra sao. Hàn Phi chép:"Hoàng Đế nói:'Người trên kẻ dưới một ngày đánh nhau một trăm trận.'"(Dương Quyền)[1] Có thể thấy, phái Hoàng Lão quan niệm rằng mối quan hệ giữa bầy tôi và người làm vua hoạt động khi có lợi ích. Kẻ dưới tìm cách lừa vua, vua muốn áp chế kẻ dưới. Cho nên, cái kỹ thuật cai trị là điều cần thiết trong phái Hoàng Lão. Có thể liệt kê được đó là "Hình danh", đây chính là nền tảng của chính trị Hoàng Lão. Tức là việc đưa ra cái tên gọi(danh) và thực hiện công việc(hình), vua xét cái hình có hợp với cái danh hay không để xử sự, xét tính đúng sai.

Pháp gia

Mối quan hệ giữa Hoàng LãoPháp gia chính là nằm ở chỗ, cái "thuật"(phái trọng thuật của Thân Bất Hại) và "thế"(phái trọng thế của Thận Đáo) đều lấy cái cốt lõi của Hoàng Lão làm trung tâm; thế nhưng, vì hai cuốn sách này đã thất truyền từ lâu nên nhìn chung sự hiện diện của Hoàng Lão là còn mơ hồ.

Cụ thể, thuật lấy cái "hình danh", xem việc ông vua đối chiếu lời nói và tên gọi làm cái chủ yếu; mặt khác, ông vua sử dụng những thủ thuật bí ẩn để kiềm chế bầy tôi nhưng bề ngoài không thể hiện điều gì. [2][3]Thế lấy cái khoảng cách quyền lực, tạo ra sự áp chế khiến bầy tôi không dám và không thể tạo phản; điều nâng đỡ cái thế ở đây chính là pháp - thuật, ông xét việc nâng đỡ cái thế lên hàng đầu, vô vi để hệ thống luật pháp hoàn thiện kiểm soát sự vận hành của quốc gia trong khi mình dùng sự áp chế từ cái thếcái thuật để đảm bảo không xảy ra cái loạn. [4]

Như vậy, trong "thế" và "thuật" đều có sự xuất hiện của Hoàng Lão cả. Sau này Hàn Phi Tử kết hợp tư tưởng từ "thế" của Thận Đáo cùng "thuật" của Thân Bất Hại và "pháp"(những tư tưởng pháp cốt yếu của Thương Ưởng nhưng lượt bỏ một số điểm không phù hợp), đó chính là hình thể toàn diện nhất của Pháp gia. [5]

Vì cả Thận Tử ThưThân Tử Thư đều đã thất truyền, rất khó để xem sự hiện diện của Hoàng Lão trong hai tư tưởng ấy một cách rõ ràng và hệ thống thay vì chỉ hiện diện mơ hồ. Song, trong Hàn Phi Tử nó xuất hiện nhiều, và có sự giao thoa tạo nên phần then chốt.

Tôn giáo

Tham khảo

  1. ^ Dịch giả Phan Ngọc. Hàn Phi Tử (ấn bản thứ 2). Nhà xuất bản Văn Học, in Khang Việt.
  2. ^ Dịch giả Phan Ngọc. Hàn Phi Tử (ấn bản thứ 2). Nhà xuất bản Văn Học, in Khang Việt. tr. 33–36, Chủ đạo.
  3. ^ Dịch giả Phan Ngọc. Hàn Phi Tử (ấn bản thứ 2). Nhà xuất bản Văn học, in Khang Việt. tr. 313–315, Định pháp.
  4. ^ Dịch giả Phan Ngọc. Hàn Phi Tử (ấn bản thứ 2). Nhà xuất bản Văn học, in Khang Việt. tr. 304–308, Nạn thế.
  5. ^ Dịch giả Phan Ngọc. Hàn Phi Tử (ấn bản thứ 2). Nhà xuất bản Văn học, in Khang Việt. tr. 8–9, Lời giới thiệu.

Bản mẫu:Sơ khai Trung Quốc Bản mẫu:Triết học Trung Quốc