Bản mẫu:Thông tin tiểu sử bóng đá

Hendrik Johannes Cruijff (25 tháng 4 năm 1947 – 24 tháng 3 năm 2016), hay Johan Cruyff (tiếng Hà Lan: [ˈjoːɦɑŋ ˈkrœyf] Tập âm thanh "JohanCruiff.ogg" không có sẵn), là một cầu thủ và huấn luyện viên Bóng đá chuyên nghiệp người Hà Lan. Được tôn vinh là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất lịch sử và là danh thủ Hà Lan vĩ đại nhất mọi thời đại, ông đã giành giải thưởng Quả bóng vàng ba lần vào các năm 1971, 19731974. Cruyff là người đại diện và thúc đẩy mạnh mẽ cho triết lý bóng đá mang tên Bóng đá tổng lực do chiến lược gia Rinus Michels phát triển, triết lý mà bản thân Cruyff cũng áp dụng triệt để khi chuyển sang làm huấn luyện viên. Nhờ tầm ảnh hưởng sâu rộng từ phong cách chơi bóng đến các ý tưởng huấn luyện, ông được thừa nhận rộng rãi là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến bóng đá hiện đại, đồng thời được coi là một trong những huấn luyện viên vĩ đại nhất mọi thời đại.

Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, bóng đá Hà Lan đã vươn mình mạnh mẽ từ một nền bóng đá bán chuyên nghiệp, mờ nhạt để trở thành một thế lực đáng gờm của môn thể thao vua. Đội tuyển Hà Lan đã giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 1974, đánh dấu lần xuất hiện đầu tiên của họ tại đấu trường này sau 36 năm. Với ba bàn thắng và ba đường kiến tạo, Cruyff đã dẫn dắt đội tuyển Hà Lan thẳng tiến vào trận chung kết, nơi họ để thua trước Tây Đức; dù vậy, ông vẫn được trao tặng danh hiệu Quả bóng vàng dành cho cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu. Sau khi giành vị trí thứ ba tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1976, Cruyff đã từ chối tham gia Giải vô địch bóng đá thế giới 1978 sau một vụ bắt cóc bất thành nhằm vào ông và gia đình ngay tại nhà riêng ở Barcelona, sự cố này cũng dẫn đến quyết định từ giã sự nghiệp thi đấu quốc tế của ông.

Ở cấp độ câu lạc bộ, Cruyff bắt đầu sự nghiệp tại Ajax vào năm 1964, nơi ông cùng đội bóng chinh phục sáu danh hiệu Eredivisie, ba chức vô địch Cúp C1 châu Âu liên tiếp và một Cúp Liên lục địa. Ông chuyển sang đầu quân cho FC Barcelona vào năm 1973, giúp câu lạc bộ lên ngôi vô địch La Liga mùa giải 1973–74 – danh hiệu vô địch quốc gia đầu tiên của đội bóng sau 14 năm chờ đợi, đi kèm một danh hiệu Copa del Rey. Sau quãng thời gian thi đấu tại Mỹ trong màu áo các câu lạc bộ Los Angeles AztecsWashington Diplomats, cùng một giai đoạn ngắn chơi cho Levante tại Tây Ban Nha, Cruyff trở lại Ajax vào năm 1981 và bổ sung thêm hai chức vô địch Eredivisie vào bảng thành tích. Do câu lạc bộ từ chối gia hạn hợp đồng, Cruyff đã có quyết định táo bạo khi chuyển sang đại kình địch Feyenoord vào năm 1983, nơi ông giành được cú đúp danh hiệu ngay trong mùa giải đầu tiên và cũng là duy nhất của mình tại đây. Sau khi giải nghệ vào năm 1984, Cruyff trở thành một huấn luyện viên cực kỳ thành công tại cả Ajax và Barcelona. Ông cùng Ajax nâng cao chiếc Cúp C2 châu Âu năm 1987, và giúp Barcelona sở hữu bốn danh hiệu La Liga liên tiếp cùng một chức vô địch Cúp C1 châu Âu. Sau khi rời ghế huấn luyện vào năm 1996, ông tiếp tục đảm nhiệm vai trò cố vấn cho cả Ajax và Barcelona. Con trai ông, Jordi, cũng là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng thi đấu cho Barcelona.

Cruyff thành lập Quỹ Johan Cruyff vào năm 1997 nhằm hỗ trợ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt. Ngoài ra, ông còn là tác giả của nhiều câu khẩu hiệu và câu châm ngôn độc đáo đã đi vào ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là tại Hà Lan và một phần tại Tây Ban Nha. Năm 1999, Cruyff được bầu chọn là Cầu thủ châu Âu của thế kỷ trong một cuộc bỏ phiếu do Liên đoàn thống kê và lịch sử bóng đá quốc tế (IFFHS) tổ chức, và đứng thứ hai sau Pelé trong cuộc bình chọn Cầu thủ thế kỷ của thế giới.

Những năm thiếu thời

Hendrik Johannes "Johan" Cruyff sinh ngày 25 tháng 4 năm 1947 tại Bệnh viện Burgerziekenhuis ở Amsterdam.[1] Ông lớn lên trên một con phố cách sân vận động của câu lạc bộ bóng đá đầu tiên của mình là Ajax năm phút đi bộ. Johan là con trai thứ hai của ông Hermanus Cornelis Cruijff (1913-1959) và bà Petronella Bernarda Draaijer (1917-2007), xuất thân từ một gia đình thuộc tầng lớp lao động bình dân ở phía đông Amsterdam. Cruyff trải qua tuổi thơ tại số nhà 32 phố Akkerstraat thuộc khu phố Betondorp (tiếng Hà Lan nghĩa là "làng bê tông"),[2] một khu vực có phong cách kiến trúc được mô tả là "thô mộc".[3] Con phố Akkerstraat chỉ cách sân vận động De Meer - nơi câu lạc bộ Ajax Amsterdam chơi các trận sân nhà - khoảng năm phút di bộ. Cha ông, ông Manus, là một người hâm mộ cuồng nhiệt của Ajax. Môi trường lớn lên của anh em nhà Cruyff được nhà tiểu sử Auke Kok mô tả là mang tính định hướng kinh doanh và thị trường, tách biệt hẳn với các tư tưởng tả khuynh.[4] Cậu thiếu niên Cruyff chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thần học Calvin; dù được xem là một người sùng đạo và thường xuyên nhắc đến Chúa, sau này ông cũng từng thử nghiệm các nghi thức tâm linh để cố gắng kết nối với người cha quá cố của mình.[5]

Tại trường học, Cruyff có kết quả học tập khá bấp bênh và từng có hai năm phải ở lại lớp. Nhìn lại thời đi học, Cruyff sau này bày tỏ sự hoài nghi rằng kết quả học tập trồi sụt cùng sự bồn chồn không yên liên tục của mình thời trẻ là do chứng tăng động giảm chú ý (ADHD).[6] Thuở nhỏ, ông có mối quan hệ vô cùng thân thiết với người anh trai Henny, người lớn hơn ông hai tuổi rưỡi.[4] Những người quan sát ban đầu thậm chí còn đánh giá Henny tài năng hơn Johan, nhưng Henny đã không thể vươn tầm lên đội bóng chuyên nghiệp. Cruyff luôn đầy tiếc nuối khi nhìn nhận nguyên nhân thất bại của anh trai nằm ở việc Henny thiếu sự tập trung tối đa cho bóng đá; khác với ông, Henny chưa bao giờ coi quả bóng tròn là ưu tiên tối thượng trong cuộc đời. Henny sau này mở một cửa hàng đồ thể thao và tìm cách khai thác mối quan hệ gia đình, bao gồm cả việc tổ chức các chuyến du lịch đến Barcelona với lời quảng cáo hấp dẫn là sẽ có một chuyến tham quan dinh thự của Cruyff. Những nỗ lực làm người đại diện cho Cruyff của Henny đều bị bố vợ của Johan là ông Cor Coster ngăn chặn. Hai anh em sau đó đã từ mặt nhau vĩnh viễn vào thập niên 1980, khi Henny xuất bản một cuốn sách cáo buộc ông Coster từng là thành viên của lực lượng Waffen-SS trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng Hà Lan ở Thế chiến II. Tuy nhiên, các nghiên cứu lịch sử sau này không tìm thấy bằng chứng nào ủng hộ cáo buộc đó.[7]

Ngay từ những năm đầu tiên thi đấu chuyên nghiệp, Cruyff đã "Anh hóa" họ của mình; trong khi ở quê nhà Hà Lan ông vẫn được biết đến với họ gốc là Cruijff, phiên bản Anh hóa Cruyff đã trở nên định hình và phổ biến ở phần còn lại của thế giới.[8] Vào ngày 8 tháng 7 năm 1959, cha của Cruyff qua đời sau một cơn đau tim đột ngột.[9] Mẹ ông, bà Nel, không thể một mình tiếp tục cáng đáng cửa hàng rau quả nên đành phải đóng cửa công việc kinh doanh. Thay vào đó, bà buộc phải nhận công việc dọn dẹp vệ sinh tại câu lạc bộ Ajax Amsterdam, lau chùi các phòng thay đồ tại đây.[10] Tại đây, bà đã gặp ông Henk Angel (quản lý cơ sở vật chất của Ajax) và hai người tiến tới cuộc hôn nhân thứ hai. Đối với Cruyff, cái chết của người cha vừa là một bi kịch lớn, vừa là một biến cố định hình nên tư duy của ông; suốt đời mình, ông luôn bị ám ảnh bởi nỗi sợ sẽ phải chết trẻ như cha. Thêm vào đó, sự ra đi đột ngột của cha cùng những hệ lụy kinh tế nặng nề đối với gia đình đã trở thành động lực thôi thúc ông phải tích lũy càng nhiều tiền càng tốt trong thời gian ngắn nhất, nhằm bảo đảm cuộc sống và sự an toàn tài chính cho cả gia đình ruột thịt lẫn gia đình mới của mẹ.[10]

Suốt cuộc đời, dưới góc nhìn của các nhà tiểu sử, Cruyff vẫn luôn là một "người Amsterdam" điển hình với đầy đủ những nét tính cách đặc trưng (đôi khi mang tính rập khuôn) của người dân thành phố này. Theo đó, ông bộc lộ sự kiêu ngạo điển hình của một cư dân thành thị lớn, điều mà phần còn lại của Hà Lan thường gán cho người Amsterdam.[11] Ông cũng được mô tả là một người có tính cách "biết tuốt" kinh điển; có vô số giai thoại kể về việc Cruyff luôn tìm cách chỉ bảo, hướng dẫn người khác trong mọi cơ hội có thể.[12] Thêm vào đó, một Cruyff nói nhanh, hoạt ngôn luôn có khát khao giao tiếp mãnh liệt và cực kỳ đam mê tranh luận; ngay cả khi đã là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới, ông vẫn sẵn sàng dành những buổi phỏng vấn dài cho các tờ tạp chí trường học. Hơn nữa, ông vẫn giữ lòng trung thành với chất giọng phương ngữ của tầng lớp lao động tại khu phố quê hương Amsterdam của mình;[13] khi một thế hệ trẻ mới với trình độ học vấn cao hơn bước vào đời sống công chúng Hà Lan từ thập niên 1980 trở đi, ban đầu đã có rất nhiều diễn viên hài tại Hà Lan (và sau này là cả ở Tây Ban Nha) bắt chước lại lối ngôn ngữ độc nhất vô nhị vô cùng đặc trưng của Cruyff.

Sự nghiệp cấp câu lạc bộ

Thời kỳ Gloria Ajax và kỷ nguyên vàng của Bóng đá tổng lực

Tập tin:Johan Cruijff (1965).jpg
Cruyff vào tháng 10 năm 1965

Cruyff gia nhập hệ thống đào tạo trẻ của Ajax đúng vào sinh nhật lần thứ mười của mình. Cruyff cùng nhóm bạn thường xuyên lui tới một "sân chơi" quanh khu phố, và tình cờ Jany van der Veen - một huấn luyện viên đội trẻ Ajax sống gần đó - đã chú ý đến tài năng thiên bẩm của cậu nhóc và quyết định trao cho Cruyff một suất vào Ajax mà không cần qua bất kỳ bài kiểm tra chính thức nào.[14] Khi mới bước chân vào học viện Ajax, Cruyff có thể trạng khá yếu ớt, kém phát triển so với tuổi, khiến huấn luyện viên trưởng Vic Buckingham phải thúc giục cậu tập thể hình kết hợp với một chế độ dinh dưỡng tốt hơn.[15] Thời điểm mới gia nhập Ajax, Cruyff vẫn dành tình yêu lớn cho môn bóng chày và tiếp tục chơi môn thể thao này cho đến năm mười lăm tuổi trước khi phải từ bỏ theo yêu cầu của các huấn luyện viên.[16] Cũng ở độ tuổi này, Cruyff đã quyết định bỏ dở bậc giáo dục trung học mà không lấy bằng tốt nghiệp sau khi bị đúp lớp hai lần.[15]

Cruyff ra mắt đội một vào ngày 15 tháng 11 năm 1964 trong trận Ajax Amsterdam thất thủ 1-3 trước GVAV Groningen (từ năm 1971 đổi tên thành FC Groningen).[17] Ngay trong trận đấu thứ hai - màn ra mắt trên sân nhà trước PSV Eindhoven, ông đã kịp ghi tên mình lên bảng tỷ số.[17] Trận đấu tiếp theo gặp Feyenoord Rotterdam kết thúc với thất bại nặng nề 4-9, và sau một trận hòa ở tuần kế tiếp, Ajax rơi vào vòng xoáy trụ hạng. Ban lãnh đạo mất niềm tin vào Vic Buckingham và buộc phải sa thải ông vào ngày 21 tháng 1 năm 1965.[18]

Tập tin:Johan Cruijff opent een drankenwinkel op Beukenplein Amsterdam. Cruijff geeft ha, Bestanddeelnr 922-9725.jpg
Cruyff ký tặng người hâm mộ tại Amsterdam (1969)

Rinus Michels, chiến lược gia 36 tuổi, được bổ nhiệm làm tân huấn luyện viên trưởng. Michels, nguyên là một giáo viên thể dục cho trẻ khiếm thính, từng có thời gian khoác áo Ajax với tư cách cầu thủ. Bản mô tả công việc của ông ở cương vị huấn luyện viên bao gồm việc huấn luyện đội ba buổi tối mỗi tuần. Tuy nhiên, Michels đầy tham vọng đã sớm thực hiện các bước đi quyết liệt nhằm chuyên nghiệp hóa câu lạc bộ.[19] Michels cực kỳ chú trọng vào kỷ luật thép và nhanh chóng được các học trò đặt cho biệt danh "De Generaal" (Vị Tướng quân).[20] Ông ban hành các đợt tập huấn trung tâm và yêu cầu các cầu thủ hoàn thành ba buổi tập mỗi ngày, đi kèm một trận đấu tập vào buổi tối. Đặc biệt, Cruyff - người đã trở thành một tay nghiện thuốc lá hạng nặng ngay từ thời thanh niên - vô cùng căm ghét chế độ huấn luyện khắc nghiệt này và thi thoảng còn lẩn trốn trong những buổi chạy bộ xuyên rừng. Michels nhanh chóng tiến hành các bước tiếp theo trên con đường chuyên nghiệp hóa. Khi đó, nhiều cầu thủ chỉ thi đấu bán thời gian hoặc nghiệp dư và đều có một công việc (chính) khác.[21] Bản thân Cruyff từng là một người 'thợ bách nghệ' tại một công ty in ấn.[22]

Michels ban bố lệnh cấm mọi hoạt động làm thêm và biến các cầu thủ thành những "công nhân đá bóng" chuyên nghiệp. Nguồn tài chính để thực hiện sự chuyển đổi này được rót từ một số nhà tài trợ, bao gồm cả những doanh nhân từng làm ăn với quân xâm lược Đức trong thời kỳ chiến tranh nay muốn tẩy trắng tên tuổi, cũng như các thương nhân gốc Do Thái sống sót sau Thế chiến coi Ajax như một gia đình thứ hai.[23][24] Hình ảnh một Ajax mang đậm chất Do Thái đã được định hình từ lâu và trong những năm tiếp theo lại liên tục được nhấn mạnh (chủ yếu theo hướng biểu tượng và hài hước) bởi thế hệ cầu thủ xung quanh Cruyff.[25] Quá trình định hình phong cách có phần phi lịch sử này bắt đầu phát triển thành một động lực riêng, đặc biệt từ thập niên 1980 trở đi, khi cả những cổ động viên của Ajax cũng coi đội bóng là 'câu lạc bộ Do Thái' và, để đáp trả, người hâm mộ của đại kình địch Feyenoord Rotterdam bắt đầu hát những bài thánh ca bài Do Thái và sử dụng các hình ảnh ám chỉ đến thảm họa Holocaust trên khán đài. Ban đầu vốn chỉ được xem là biểu tượng của tính bộ lạc trong bóng đá,[26] sự việc này sau đó đã làm dấy lên một cuộc tranh luận xã hội gay gắt tại Hà Lan vào đầu những năm 2000.[27]

Tập tin:Benfica tegen Ajax 1-3 elftal Benfica, Bestanddeelnr 922-1225.jpg
Rinus Michels và Cruyff

Về mặt chiến thuật, Michels luôn biết cách thích ứng với đối thủ và chuyển đổi linh hoạt giữa các sơ đồ 5-3-2 và 4-2-4. Bước sang mùa giải 1969-1970, ông chuyển hẳn sang sơ đồ 4-3-3.[28] Michels đặc biệt đề cao những pha tắc bóng mạnh mẽ và sự áp đảo về mặt thể lực nhằm bóp nghẹt đối thủ.[29] Đội bóng của ông cũng áp dụng lối đá Pressing - nội bộ thường gọi là "đi săn" - với mục đích gây áp lực liên tục lên cầu thủ đối phương đang giữ bóng.[30] Một điểm mới mẻ khác là khái niệm về không gian trên sân cỏ, điều mà Ajax đã hình thành nên một cách trừu tượng và độc đáo. Tác giả người Anh David Winner nhấn mạnh rằng đây là một điểm nhấn có một không hai và kết luận rằng khái niệm này chỉ có thể nảy mầm tại Hà Lan, nơi con người có sự hiểu biết hoàn toàn khác biệt về môi trường và tự nhiên.[31] Cruyff cùng các đồng đội luôn tối đa hóa diện tích mặt sân khi kiểm soát bóng bằng cách dạt biên. Ngược lại, khi mất quyền kiểm soát bóng, họ chủ động thu hẹp không gian bằng cách đẩy hàng phòng ngự lên sát vạch giữa sân, áp sát đối phương ngay trên phần sân của họ, hoặc giăng bẫy việt vị để hạn chế không gian chơi bóng của đối thủ.[31] Ajax cũng nổi danh với những pha hoán đổi vị trí liên tục. Michels đã nhận vinh quang về mình trong việc sáng tạo ra hệ thống hoán đổi này; khi Ajax thường xuyên dồn ép các đối thủ tại Eredivisie vào cuối thập niên 1960, họ ngày càng phải đối mặt với những hàng phòng ngự lùi sâu dày đặc. Để giải bài toán này, ông muốn kéo cả các tiền vệ và hậu vệ tham gia vào mặt trận tấn công, từ đó dẫn đến những pha hoán đổi vị trí linh hoạt.[32]

Tuy nhiên, mức độ đóng góp của cá nhân Cruyff vào những đổi mới này vẫn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi.[33] Nếu vai trò của Michels trên băng ghế chỉ đạo là không thể phủ nhận, thì sự đóng góp của tập thể cầu thủ nói chung, và Cruyff nói riêng, cũng được đề cao không kém. Lứa cầu thủ của Ajax khi đó được coi là hiện thân tiêu biểu của thế hệ Baby Boomer (bùng nổ dân số) thời hậu chiến với tính cá nhân cao, những người không dễ dàng khuất phục trước uy quyền và luôn khao khát tự khẳng định bản thân.[34] Những cuộc tranh luận nảy lửa giữa các cầu thủ về hệ thống cấp bậc nội bộ và chiến thuật gần như diễn ra như cơm bữa. Việc đẩy cao hàng phòng ngự, ở hình thái hoàn thiện sau này, cũng một phần do chính các cầu thủ khởi xướng, bởi họ muốn tiết kiệm sức lực bằng cách thi đấu trên một khoảng sân nhỏ hơn. Trong khi đó, Cruyff đóng vai trò là một ngôi sao nổi bật, người kiểm soát lối chơi và thể hiện tầm ảnh hưởng vượt trội so với lứa cầu thủ tài năng đó. Là một trung phong, Cruyff đã sớm thực hành nghệ thuật mà sau này người ta gọi là "số 9 ảo" (false nine), khi ông lùi sâu ra hai cánh hoặc xuống hàng tiền vệ để hoặc tạo ra lợi thế quân số (nếu hậu vệ theo kèm vẫn giữ nguyên vị trí) hoặc mở ra không gian cho các đồng đội khai thác (nếu hậu vệ bị kéo theo ông).[35] Là hạt nhân của chiến thuật này, Cruyff chỉ mang danh nghĩa trung phong trên giấy tờ, trong khi thực tế trên sân, ông đồng thời sắm cả ba vai: nhạc trưởng kiến thiết, cây săn bàn và người tạt bóng. Sự đam mê đối với những pha dịch chuyển vị trí không ngừng nghỉ này của Cruyff cũng được tác giả người Anh Simon Kuper nhận định là gốc rễ tạo nên thương hiệu hoán đổi vị trí của Ajax (Cruyff gọi đây là sự "hỗn loạn trong tầm kiểm soát"),[36] bởi các đồng đội luôn biết cách điều chỉnh và thích ứng theo trực giác mỗi khi ông di chuyển.[37] Không thể phủ nhận rằng, theo thời gian, khi Cruyff trưởng thành hơn và thường xuyên tham gia thảo luận chiến thuật cùng đồng đội, tầm ảnh hưởng của ông trong phòng thay đồ ngày càng lớn mạnh. Dưới tư cách là ngòi nổ chính trên sân cỏ, Cruyff đã đảm nhiệm vai trò của một cầu thủ kiêm huấn luyện viên trong suốt những năm tháng đó; ông có mặt ở gần như mọi điểm nóng trên sân, liên tục truyền đạt chỉ thị, hướng dẫn chiến thuật và ra lệnh điều chỉnh sơ đồ cũng như vị trí mỗi khi cảm thấy cần thiết. Thậm chí có lúc ông còn yêu cầu huấn luyện viên thực hiện việc thay người ngay từ ngoài đường biên. Nhìn lại lịch sử, Arsène Wenger từng nhấn mạnh rằng việc sao chép mô hình của Ajax là bất khả thi bởi một hình mẫu cầu thủ kiêm huấn luyện viên như Cruyff là độc nhất vô nhị.[38]

Tập tin:Ajax tegen ADO 2-1. Cruijff omspeelt drie ADO-verdedigers, Bestanddeelnr 921-3886.jpg
Cruyff rê dắt bóng qua ba hậu vệ của ADO Den Haag, ngày 26 tháng 5 năm 1968.

Mối quan hệ giữa Cruyff và Michels mang nhiều nét tương đồng với tình cha con. Simon Kuper ví sự kết nối giữa họ như mối quan hệ cộng tác huyền thoại Lennon-McCartney.[39] Trên khía cạnh hợp tác sáng tạo, họ đóng vai trò là nguồn cảm hứng cho nhau và cùng hưởng lợi từ mối quan hệ đó; hơn nữa, không thể phủ nhận cả hai đều là những đầu tàu thúc đẩy sự phát triển của câu lạc bộ. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, họ lại thường xuyên xảy ra xích mích, và mối quan hệ này cũng tiềm ẩn những yếu tố cạnh tranh gay gắt. Cả Michels và Cruyff đều khao khát vị thế độc tôn trong đội. Cruyff liên tục tự ý thay đổi các chỉ đạo của Michels ngay trên sân cỏ và thường xuyên cố tình phớt lờ chỉ thị của huấn luyện viên, dẫn đến những cơn thịnh nộ từ phía Michels và những cuộc cãi vã nảy lửa giữa hai người.[40] Michels cũng đôi khi nghi ngờ một Cruyff có phần mắc chứng lo âu sức khỏe là đang giả vờ chấn thương.[41] Mặc dù Cruyff đã áp dụng triệt để mô hình quản lý xung đột mà Michels thiết lập nhằm khơi nguồn sáng tạo - một mô hình sau này đã trở thành kim chỉ nam của chính ông[42] - nhưng, như Kuper lập luận, đây thực chất chỉ là một cái cớ để che đậy tính cách hiếu thắng và ưa tranh biện của Cruyff. Với triết lý "Bóng đá tổng lực" (như cách báo chí gán cho lối chơi của Ajax vào năm 1965), Ajax đã vươn lên thống trị bóng đá Hà Lan, thâu tóm các chức vô địch quốc gia vào các năm 1966, 1967, 1968 và 1970.[43]

Đến đầu những năm 1970, Ajax đã thiết lập một trật tự thế giới mới trong làng túc cầu giáo. Xuyên suốt thập niên 1960, bóng đá thế giới luôn nằm dưới sự cai trị của triết lý Catenaccio của người Ý, một hệ thống chiến thuật đặt phòng ngự lên hàng đầu. Các đại diện ưu tú nhất của hệ thống này, AC MilanInter Milan, đều đã bỏ túi cho mình mỗi đội hai chức vô địch Cúp C1 châu Âu (tiền thân của Champions League) và hai Cúp Liên lục địa.[44] Chiến thắng nghẹt thở của Ajax trước Inter Milan trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1972, một cuộc đụng độ kinh điển giữa hai hệ tư tưởng bóng đá, đã được giới truyền thông ca ngợi là hồi chuông báo tử cho kỷ nguyên Catenaccio. Nhà văn, nhà báo thể thao Brian Glanville nhận định rằng Bóng đá tổng lực đã hoàn toàn làm lu mờ Catenaccio.[45] Hình mẫu của Ajax ban đầu nhanh chóng lan tỏa mạnh mẽ khắp Eredivisie trong thập niên 1970, nơi các câu lạc bộ khác như Feyenoord cũng học hỏi áp dụng các yếu tố của Bóng đá tổng lực và tích hợp những pha hoán đổi vị trí linh hoạt hơn vào chiến thuật của họ. Về sau, nhiều câu lạc bộ ở các quốc gia khác, chẳng hạn như ở Anh, cũng cố gắng vay mượn những tinh hoa từ triết lý của Ajax, tuy nhiên thành công đạt được lại khiêm tốn hơn rất nhiều.[46]

Tập tin:Europacup I. Ajax tegen Liverpool 5-1, Johan Cruijff in duel, Bestanddeelnr 919-8589.jpg
Cruyff trong màu áo Ajax đối đầu với hậu vệ Tommy Smith của Liverpool trong một trận đấu tại Cúp C1 châu Âu vào tháng 12 năm 1966

Trong những năm tháng đầu sự nghiệp, phong độ của Cruyff khá thất thường; có lúc tài năng thiên bẩm của ông rực sáng, có khi ông lại "tàng hình" trong các trận cầu lớn và hoàn toàn bất lực trong việc tạo ra bất kỳ điểm nhấn nào trên sân.[39] Thêm vào đó, ông thường xuyên dính chấn thương hoặc than vãn về những cơn đau vặt.[47] Michels không ít lần ngờ vực Cruyff đang giả vờ dính chấn thương.[48] Chính thói quen lười chuyền bóng và hay sa đà vào những pha rê dắt cá nhân vô thưởng vô phạt trong giai đoạn đầu này đã khiến ông bị mất điểm nghiêm trọng trong mắt các đồng đội. Vị trí thi đấu của ông cũng xê dịch liên tục trong những năm đầu; khi chưa có suất đá chính, ông không chỉ được giao nhiệm vụ trung phong mà còn thi đấu dạt biên hoặc lùi về khu trung tuyến khi vào sân thay người.

Cruyff thực sự tạo ra dấu ấn đậm nét trong mùa giải 1965-66 và chính thức khóa chặt một vị trí đá chính ở đội một sau khi ghi một cú đúp vào lưới DWS trên sân vận động Olympic vào ngày 24 tháng 10 năm 1965, góp công vào chiến thắng 2-0. Trong bảy trận đấu mùa đông năm đó, ông nổ súng tới tám lần và đến tháng 3 năm 1966, ông lập hat-trick mang về ba bàn thắng đầu tiên trong chiến thắng vang dội 6-2 trước Telstar tại giải quốc nội. Chỉ bốn ngày sau, trong khuôn khổ cúp quốc gia gặp Veendam với chiến thắng hủy diệt 7-0, ông đã "bỏ túi" tới bốn bàn thắng. Tổng kết mùa giải đó, Cruyff ghi được 25 bàn thắng sau 23 lần ra sân, góp công lớn giúp Ajax lên ngôi vô địch quốc gia.[49]

Tập tin:Feyenoord tegen Ajax 1-0. Nummer 26 Israel in duel met Cruyff.jpg
Cruyff là nhân tố cốt lõi trong việc xác lập vị thế thống trị của Ajax đối với Bóng đá châu Âu vào đầu những năm 1970. Ông cống hiến cho Ajax trong các giai đoạn từ năm 1957 đến năm 1973 và từ năm 1981 đến năm 1983 (ảnh chụp năm 1967 trong trận gặp Feyenoord).

Mùa giải 1966-67 đánh dấu một bước tiến lớn khác của Cruyff; ngay từ đầu mùa giải, ông đã xây chắc một suất đá chính trong đội hình xuất phát. Ông chiếm lĩnh vị trí trên hàng công của người đàn anh kỳ cựu Henk Groot - cầu thủ sau đó phải lùi về đá tiền vệ để cùng Cruyff và Piet Keizer tạo nên bộ ba nguyên tử thống trị sơ đồ chiến thuật của toàn đội.[50] Ajax lên ngôi vô địch quốc gia và liên tục hủy diệt các đối thủ bằng những cơn mưa bàn thắng - kết thúc mùa giải, họ thiết lập kỷ lục vô tiền khoáng hậu với 122 pha lập công.[51] Cá nhân Cruyff ẵm danh hiệu Vua phá lưới Eredivisie với 33 bàn thắng. Ajax cũng thâu tóm luôn Cúp quốc gia KNVB, mang về cú "đúp" danh hiệu đầu tiên trong sự nghiệp của Cruyff.[49] Trên đấu trường quốc tế, Ajax bước vào trận cầu bản lề gặp Liverpool ngày 7 tháng 12 năm 1966 tại Amsterdam - trận đấu được David Winner nhận định là cú bứt phá ngoạn mục, đánh dấu thành công vang dội đầu tiên của Ajax trên sân chơi châu lục. Ajax áp đảo hoàn toàn và giành chiến thắng cách biệt 5-1.[52] Trong trận lượt về tại Liverpool, chính Cruyff ghi cả hai bàn thắng để ấn định trận hòa quả cảm 2-2.[53] Dẫu vậy, vòng đấu tiếp theo gặp Dukla Prague lại mang đến nỗi thất vọng lớn khi Ajax bị loại khỏi giải đấu.

Ajax bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia năm thứ ba liên tiếp ở mùa giải 1967-68. Cruyff cũng có năm thứ hai liên tiếp nhận danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hà Lan, một kỳ tích được ông lặp lại vào năm 1969.[49] Tại Cúp C1 châu Âu, Ajax bị Real Madrid loại sau hiệp phụ; trong trận đấu ở Madrid, Ajax bỏ lỡ vô số cơ hội ngon ăn, bản thân Cruyff đối mặt với thủ môn đối phương ngay trước khi tiếng còi mãn cuộc vang lên nhưng một chút do dự đã khiến ông dứt điểm hỏng ăn.[54] Sang mùa giải tiếp theo, trọng tâm của toàn đội được dồn dịch mạnh mẽ hơn vào mặt trận Cúp C1;[55] hệ quả là sau nhiều năm thống trị, Ajax chỉ cán đích ở vị trí á quân tại Eredivisie. Tại vòng hai, Ajax đánh bại Istanbul trong một trận cầu kinh điển diễn ra trên một mặt sân bùn lầy, nơi Cruyff ghi bàn thắng quyết định; trận đấu này về sau được người hâm mộ Hà Lan gọi bằng cái tên "Địa ngục Fenerbahce".[56] Đến vòng tứ kết gặp Benfica Lisbon, Ajax lội ngược dòng ngoạn mục sau khi để thua 1-3 ở lượt đi, buộc hai đội phải phân định bằng một trận đá lại; tại đây Ajax vùi dập đối thủ 3-0 trên sân trung lập Paris. Ở vòng bán kết, họ tiếp tục vượt qua Sparta Trnava.[43] Tuy nhiên, trận chung kết chỉ mang lại sự cay đắng; hàng phòng ngự lùi sâu dày đặc của Milan cùng chiến thuật một kèm một đầy thực dụng mà Giovanni Trapattoni áp dụng để khóa chặt Cruyff đã mang về chiến thắng áp đảo 4-1 cho đại diện nước Ý. Thất bại này khiến Cruyff hứng chịu làn sóng chỉ chỉ trích dữ dội từ huấn luyện viên Michels và giới truyền thông.[57]

Tập tin:Ajax tegen FC Utrecht 7-1; Johan Cruyff maakt derde doelpunt.jpg
Cruyff ghi bàn thắng thứ ba trong chiến thắng hủy diệt 7-1 trước FC Utrecht (ngày 13 tháng 12 năm 1970)

Mùa giải tiếp theo, một tập thể Ajax được trẻ hóa đã đòi lại chức vô địch quốc gia một cách đầy thuyết phục. Thời điểm khởi tranh mùa giải 1970-71, ông dính một chấn thương háng nghiêm trọng. Ông đánh dấu sự trở lại vào ngày 30 tháng 10 năm 1970 trong trận gặp PSV, và thay vì khoác chiếc áo số 9 quen thuộc đang do Gerrie Mühren tiếp quản, ông quyết định chọn số áo 14.[49] Kể từ cột mốc đó, ông chỉ trung thành với số áo 14 tại Ajax. Mặc dù ở thời kỳ đó, việc các cầu thủ đá chính không khoác các số áo từ 1 đến 11 là điều vô cùng dị biệt, nhưng từ khoảnh khắc ấy trở đi, Cruyff luôn ra sân với số 14, ngay cả trong màu áo đội tuyển quốc gia Hà Lan. Sự kiện này là nguồn cảm hứng cho bộ phim tài liệu mang tên Nummer 14 Johan Cruyff[58] và tại Hà Lan, tạp chí danh tiếng Voetbal International cũng phát hành một ấn phẩm mang tên Nummer 14.[59] Ông nhanh chóng tìm được đất diễn và hưởng lợi lớn từ sơ đồ chiến thuật 4-3-3 vốn đang dần trở thành chuẩn mực của bóng đá thế giới khi đó.[60] Vào tháng 11, Cruyff ghi sáu bàn thắng trong một trận đấu gặp AZ Alkmaar, san bằng một kỷ lục lịch sử. Sau khi đánh bại Sparta Rotterdam với tỷ số 2-1 trong trận đá lại chung kết Cúp quốc gia KNVB, Ajax có lần đầu tiên bước lên đỉnh vinh quang châu Âu sau chiến thắng thuyết phục trước Panathinaikos Athens trong trận chung kết.[61] Ông đặt bút ký bản hợp đồng có thời hạn bảy năm với Ajax. Cuối mùa giải đó, ông thâu tóm cả hai danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hà Lan và Quả bóng vàng châu Âu năm 1971.[49]

Tập tin:Finale Europacup I in Feijenoord stadion Ajax tegen Inter Milaan 2-0 Johan Cru, Bestanddeelnr 254-9438.jpg
Cruyff trong trận chung kết đối đầu Inter Milan (ngày 31 tháng 5 năm 1972)

Sau vinh quang chói lọi này, Rinus Michels chia tay Amsterdam để chuyển sang Tây Ban Nha tiếp quản chiếc ghế nóng tại FC Barcelona. Người được chọn để kế vị ông là một cái tên tương đối xa lạ - chiến lược gia Ștefan Kovács.[62] Kovács trước đó từng dẫn dắt câu lạc bộ Steaua Bucharest tại Romania. Trái ngược hoàn toàn với phong cách độc đoán của Michels, Ștefan Kovács không phải là một mẫu huấn luyện viên quân phiệt; ông sở hữu cách tiếp cận cởi mở, trao cho các học trò nhiều không gian tự do cả trên sân cỏ lẫn trong cuộc sống sinh hoạt và không mấy bận tâm đến kỷ luật thép như người tiền nhiệm. Ông giao toàn quyền tổ chức các buổi tập cho trợ lý Bobby Harms và để các cầu thủ tự quyết định các trận đấu giao hữu.[63] Ông chỉ thực hiện những thay đổi mang tính tiệm tiến; ví dụ như ít khi thay đổi nhân sự trên sân và hạn chế tối đa việc xáo trộn hệ thống chiến thuật hay sơ đồ thi đấu theo từng đối thủ tại đấu trường châu Âu.[64] Ở thời điểm đó, một tập thể đang vào độ chín và có sự gắn kết hoàn hảo đã được hưởng lợi lớn từ tư duy này để một lần nữa thăng hoa rực rỡ.[65] Dưới sự lèo lái của vị thuyền trưởng mới, Cruyff thậm chí còn nắm giữ vai trò thống trị lớn hơn cả những năm cuối triều đại Michels, ông trở thành một "cầu thủ kiêm huấn luyện viên" thực thụ trên sân cỏ. Khi không còn sự kiểm soát của một Michels nghiêm khắc, chính Cruyff là người lớn tiếng thúc giục kỷ luật bằng lời nói và những cử chỉ đầy biểu cảm, liên tục tranh cãi với trọng tài và khơi mào các cuộc thảo luận chiến thuật ngay trong trận đấu.[66] Dưới thời Ștefan Kovács, đội bóng đã hoàn tất cú ăn ba lịch sử gồm chức vô địch quốc gia, Cúp KNVB và đỉnh cao chói lọi là danh hiệu Cúp C1 châu Âu năm thứ hai liên tiếp: trong trận chung kết châu Âu, họ nghiền nát Inter Milan với tỷ số 2-0 trong một thế trận áp đảo một chiều, và cả hai bàn thắng đều do công của Cruyff. Chiến thắng vang dội này khiến báo giới Hà Lan đồng loạt tuyên bố sự sụp đổ hoàn toàn của hệ tư tưởng phòng ngự catenaccio kiểu Ý trước sức mạnh hủy diệt của Bóng đá tổng lực. Cuốn bách khoa toàn thư *Soccer: The Ultimate Encyclopaedia* nhận định: "Bằng màn trình diễn cá nhân xuất thần, Cruyff không chỉ xé toạc hàng phòng ngự kiên cố của Internazionale trong trận Chung kết Cúp C1 năm 1972, mà còn tự mình ghi cả hai bàn thắng mang về thắng lợi 2-0 cho Ajax."[67] Sau khi từ chối tham gia vào năm ngoái, Ajax cũng thâu tóm luôn danh hiệu Cúp Liên lục địa năm 1972 sau khi đánh bại đại diện Argentina Independiente vào tháng 9 năm 1972, trước khi khép lại mùa đông hoàn hảo bằng chức vô địch Siêu cúp châu Âu năm 1972 sau khi vượt qua Rangers.

Bước sang mùa giải tiếp theo - cũng là năm cuối cùng của Kovács tại vị - những rạn nứt và căng thẳng nội bộ bắt đầu nảy sinh, vị thế ngôi sao độc tôn của Cruyff đã khơi dậy những lòng ghen tị từ các đồng đội. Theo Simon Kuper, tầm vóc của siêu sao Cruyff đơn giản là đã trở nên quá chật chội so với nền bóng đá Hà Lan.[68] Dưới sự quản lý lỏng lẻo của Kovács, nền tảng thể lực của các cầu thủ bắt đầu có dấu hiệu sa sút. Thay vì cống hiến những bữa tiệc bóng đá mãn nhãn, Ajax chọn cách thi đấu thực dụng và tiết kiệm sức lực; hệ quả là một chuỗi những chiến thắng tối thiểu 1-0 xuất hiện thường xuyên hơn. Tuy nhiên, họ vẫn kịp bỏ túi thêm một chức vô địch Eredivisie. Trên đấu trường quốc tế, Ajax vẫn thể hiện một bản lĩnh đáng gờm. Ngày 7 tháng 3, tập thể Bayern Munich hùng mạnh được xây dựng xung quanh những huyền thoại như Franz Beckenbauer và Gerd Müller đã bị Ajax vùi dập không thương tiếc với tỷ số 4-0 trong một thế trận áp đảo hoàn toàn.[69] Việc Cruyff dính chấn thương và từ chối hành quân cùng đội trong trận lượt về tại Munich (trận đấu Bayern thắng 2-1) đã làm dấy lên những làn sóng bất bình âm ỉ trong lòng các đồng đội.[70] Tại vòng bán kết gặp Real Madrid, những "đứa con của thần quốc Amsterdam" đã bỏ túi hai chiến thắng nhẹ nhàng để một lần nữa hiên ngang tiến vào trận chung kết.[71] Một Ajax bản lĩnh và già rơ đã bảo vệ thành công vương miện châu Âu vào năm 1973 sau chiến thắng tối thiểu 1-0 trước Juventus. Sau khi sớm vươn lên dẫn trước ngay từ phút thứ 4 nhờ pha lập công của Johnny Rep, Ajax chủ động bóp nghẹt trận đấu, triệt tiêu mọi rủi ro bằng những chuỗi đường chuyền bóng ngắn kéo dài khiến đối thủ hoàn toàn bất lực trong việc chạm bóng.[72] Cruyff xứng đáng nhận danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu năm 1973, đánh dấu lần thứ hai ông đứng trên đỉnh cao này sau vinh quang năm 1971.

Barcelona và chức vô địch La Liga đầu tiên sau 14 năm chờ đợi

Khi những cầu thủ như [Gareth] Bale hay [Cristiano] Ronaldo có mức giá khoảng 100 triệu euro, thì giá trị chuyển nhượng của Johan [Cruyff] thời đó phải tính bằng hàng tỷ euro!

Franz Beckenbauer, phát biểu trong một buổi phỏng vấn với tờ Bild.de (tháng 9 năm 2014) khi bàn về giá trị chuyển nhượng của Cruyff vào đầu thập niên 1970[73][74]

Kovács chia tay Amsterdam vào mùa hè năm 1973 và chiếc ghế nóng được nhường lại cho chiến lược gia George Knobel từ câu lạc bộ MVV Maastricht. Một biến cố lớn đã nổ ra ngay trong đợt tập huấn trung tâm tại De Lutte. Piet Keizer, người từng giữ băng thủ quân ở mùa giải 1971-72, đã thẳng thắn bày tỏ mong muốn đòi lại tấm băng đội trưởng mà anh đã nhượng lại cho Cruyff một năm trước đó. Keizer lập luận rằng Cruyff quá ích kỷ và thực dụng trong các hoạt động thương mại cá nhân mà bỏ bê lợi ích chung của tập thể đội bóng.[75]

Tập tin:Johan-cruyff-flying-dutchman-impossible-goal.jpg
Cruyff cống hiến trong màu áo FC Barcelona từ năm 1973 đến năm 1978.

Cruyff kiên quyết từ chối và yêu cầu tổ chức một cuộc bỏ phiếu kín trong nội bộ. Tân binh Pim van Dord chọn giải pháp bỏ phiếu trống, trong khi 15 cầu thủ còn lại tiến hành bỏ phiếu. Kết quả kiểm phiếu là 8-7 nghiêng về phía Keizer. Một Cruyff hiếu thắng cảm thấy bị sỉ nhục nặng nề, ông lập tức gọi điện cho bố vợ kiêm người đại diện của mình là ông Cor Coster để bày tỏ nguyện vọng ra đi với tuyên bố đanh thép: "Bố phải liên hệ với Barcelona ngay lập tức, con muốn rời khỏi nơi này." Vào giữa năm 1973, Cruyff chính thức chuyển giao sang đầu quân cho FC Barcelona với mức giá kỷ lục 6 triệu guilder (tương đương khoảng 2 triệu đô la Mỹ thời bấy giờ), thiết lập kỷ lục chuyển nhượng thế giới mới. Thực tế, ông lớn xứ Catalonia đã thèm khát chữ ký của Cruyff từ nhiều năm trước; tuy nhiên các thương vụ đều bất khả thi do liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha ban bố lệnh cấm sử dụng ngoại binh kéo dài từ năm 1962 đến năm 1973.[76] Thêm vào đó, vì chiến lược gia Rinus Michels của Barcelona đánh giá Cruyff là một mẫu cá tính phức tạp, dễ gây rạn nứt nội bộ, nên ban lãnh đạo đội bóng ban đầu đã cố gắng chuyển hướng sang chiêu mộ Gerd Müller từ Bayern Munich. Chỉ sau khi cuộc đàm phán với Müller đổ vỡ, Michels mới đồng ý thúc đẩy thương vụ mang tên Cruyff. Giám đốc điều hành của Barcelona khi đó là ông Armand Carabén, người kết hôn với một phụ nữ Hà Lan, đã trực tiếp đứng ra mở đường cho các cuộc thương thảo. Bản thân Cruyff, dù vẫn còn thời hạn hợp đồng với Ajax, đã gây áp lực lên ban lãnh đạo bằng lời đe dọa ngầm rằng ông sẽ lập tức treo giày, từ chối ra sân cho cả Ajax lẫn đội tuyển quốc gia nếu thương vụ này bị ngăn cản. Trước tình thế đó, cả liên đoàn và Ajax buộc phải xuống nước nhượng bộ. Một lời đề nghị vào phút chót từ đại kình địch Real Madrid cũng bị đổ bể; Cruyff thẳng thừng ép buộc liên đoàn quốc gia và Ajax bằng tuyên bố sẽ giải nghệ nếu Ajax tự ý bán ông sang Madrid ngược lại với nguyện vọng cá nhân.[77] Mức phí chuyển nhượng khổng lồ 6 triệu guilder đã biến ông thành cầu thủ đắt giá nhất hành tinh tại thời điểm đó.[78]

Là một người có xu hướng đứng ngoài các vòng xoáy chính trị, Cruyff hoàn toàn mù tịt về tình hình chính trị phức tạp tại Tây Ban Nha thời điểm bấy giờ. Ông đơn thuần yêu thích kiểu khí hậu ôn hòa của Barcelona cùng những đặc quyền tài chính khổng lồ, vốn vượt xa những gì ông có thể kiếm được tại quê nhà Hà Lan.[79] Ông thản nhiên nhún vai tự bảo vệ quyết định chuyển nhượng sang quốc gia đang nằm dưới sự cai trị của chế độ độc tài Franco, bất chấp những làn sóng chỉ trích từ một bộ phận dư luận.[80] Ông cũng hoàn toàn không hay biết về bối cảnh lịch sử và chính trị sâu xa tạo nên sự thù địch gay gắt giữa một bên là vùng tự trị Catalunya và một bên là vùng Castile - hay nói đúng hơn là Real Madrid, biểu tượng của chính quyền trung ương, và càng không biết gì về những năm tháng áp bức, phân biệt đối xử về mặt chính trị và văn hóa mà chế độ Franco nhắm vào các vùng tự trị (đặc biệt là Catalunya).[81] Khi cậu con trai chào đời và gia đình Cruyff quyết định lựa chọn cái tên Jordi để đặt cho cậu bé, họ hoàn toàn không biết rằng Jordi chính là vị thánh bảo hộ của vùng Catalunya và cái tên này đã bị chính quyền độc tài Franco ban hành lệnh cấm lưu hành. Tuy nhiên, nằm trong một tiến trình nới lỏng và tự do hóa chính trị dần dần của chế độ vào thập niên 1970, gia đình Cruyff đã được đặc cách cấp phép đặt tên con là Jordi. Sự kiện này vô tình bị giới truyền thông và công chúng diễn dịch thành một tuyên ngôn chính trị đanh thép, từ đó đẩy niềm yêu thích và tầm phổ biến của người dân xứ Catalonia dành cho Cruyff lên một đỉnh cao mới.[82] Phải đến năm thứ hai ở ẩn tại đây, ông mới bắt đầu bộc lộ một vài quan điểm mang màu sắc chính trị, thường là những lời chỉ trích nhắm vào sự phân biệt đối xử (được cho là) của ban tổ chức trung ương hoặc Madrid dành cho Barça. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của các nhà tiểu sử, một Cruyff hoàn toàn phi chính trị luôn chỉ tập trung vào khía cạnh thể thao thuần túy; những lời phàn nàn của ông luôn chỉ đích danh liên đoàn bóng đá hoặc các vị trọng tài, chứ chưa từng nhắm thẳng vào bản thân chế độ độc tài phát xít của Franco.[83]

Trong mùa giải 1973-1974, Cruyff đã khẳng định vững chắc vị thế cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của mình. Cho đến khi thủ tục đăng ký tư cách thi đấu được hoàn tất, Cruyff tạm thời chưa thể ra sân tại giải vô địch quốc gia, do đó ông cùng toàn đội đã tham gia một số trận giao hữu kín với các câu lạc bộ khác nhau (chủ yếu thuộc các hạng đấu thấp hơn) để tích lũy thêm kinh nghiệm thi đấu. Cruyff chính thức có màn ra mắt trong một trận đấu chính thức trước sự chứng kiến của 90.000 khán giả tại thánh địa Camp Nou vào ngày 28 tháng 10 năm 1973, đối đầu với Granada. Cruyff lập tức nắm quyền kiểm soát trận đấu trong vai trò nhạc trưởng kiến thiết, đồng thời tự mình bỏ túi một cú đúp để mang về chiến thắng nhẹ nhàng 4-0. Ở thời điểm đó, Barça đang ngụp lặn ở vị trí thứ 14 trên bảng xếp hạng, ngấp nghé ngay sát nhóm cầm đèn đỏ.[84] Thắng lợi này mở màn cho chuỗi bốn trận thắng liên tiếp, giúp FC Barcelona chính thức đánh chiếm ngôi đầu bảng La Liga. Trong trận đấu tiếp theo, đại kình địch khó chịu nhất của họ là Atlético Madrid đã bị hạ gục với tỷ số 2-1, trong đó Cruyff là người ghi bàn mở tỷ số bằng một pha bay người dứt điểm mang tính ngẫu hứng vô cùng ngoạn mục.[85] Pha làm bàn kinh điển này sau đó đã xuất hiện trong bộ phim tài liệu mang tên En un momento dado, nơi những người hâm mộ cuồng nhiệt của Cruyff cố gắng tái hiện lại khoảnh khắc ấy. Bàn thắng này về sau được tôn vinh bằng danh xưng Le but impossible de Cruyff (Bàn thắng không tưởng của Cruyff).[86]

Đến giữa tháng 2 năm 1974, một màn phô diễn sức mạnh hủy diệt khác được thực hiện ngay trong chuyến làm khách trước đối thủ truyền kiếp Real Madrid tại thánh địa Santiago Bernabéu của họ. Trong một thế trận áp đảo một chiều, Cruyff đã tỏa sáng rực rỡ khi hoàn thành xuất sắc cả ba vai trò: cây săn bàn, người kiến tạo và nhạc trưởng điều tiết lối chơi. Một Cruyff hoàn toàn làm lu mờ nhạc trưởng Günter Netzer bên phía Real đã tự mình thực hiện pha rê dắt bóng qua ba hậu vệ đối phương trước khi dứt điểm tung lưới nâng tỷ số lên 2-0. Sau khoảnh khắc đó, ông đôi khi chủ động lùi sâu và xuất hiện ở mọi điểm nóng trên sân để hỗ trợ cho mặt trận phòng ngự. Trận đấu khép lại với tỷ số chung cuộc 5-0 đầy bàng hoàng.[87] Hàng ngàn cổ động viên Barcelona theo dõi trận đấu qua màn ảnh nhỏ đã vỡ òa hạnh phúc, đổ ra đường để mở hội ăn mừng nhảy múa.[88] Một nhà báo của tờ The New York Times đã bình luận rằng Cruyff đã làm được cho tinh thần của người dân xứ Catalunya trong 90 phút nhiều hơn những gì mà nhiều chính trị gia thực hiện được trong suốt hàng năm trời đấu tranh gian khổ.[88] Nhà sử học bóng đá Jimmy Burns cũng khẳng định: "Có Cruyff trong đội hình, toàn đội luôn có cảm giác rằng họ không thể bị đánh bại".[88]

Chức vô địch quốc gia Tây Ban Nha đã được khóa chặt vào đầu tháng 4 sau chiến thắng cách biệt 4-2 trước Sporting Gijon. Ngay trong mùa giải ra mắt của Cruyff, số lượng thành viên chính thức của câu lạc bộ (các socis) đã tăng vọt từ 58,000 người của năm ngoái lên con số 64,130.[84] Trước thời điểm đó, trận derby thành Madrid giữa Real và Atlético luôn được coi là trận cầu đinh quan trọng nhất của bóng đá xứ sở đấu bò.[89] Kể từ cột mốc lịch sử ấy, các cuộc đối đầu giữa Real Madrid và FC Barcelona đã vươn mình trở thành trận chiến quan trọng nhất trong lịch sử giải đấu; với tên gọi danh giá El Clásico, cặp đấu này vẫn duy trì vị thế là một sự kiện thể thao tầm cỡ vượt thời gian cho tới tận thế kỷ 21.

Tập tin:FC Barcelona op Schiphol, van links naar rechts Neesken Michels en Cruijff op S, Bestanddeelnr 928-7164.jpg
Neeskens, Michels và Cruyff (1976)

Mùa giải thứ hai của Cruyff trên đất Tây Ban Nha tiếp tục khởi đầu bằng những tín hiệu vô cùng hứa hẹn khi câu lạc bộ đưa về bản hợp đồng bom tấn Johan Neeskens nhằm gia tăng sức mạnh.[90] Tuy nhiên, Neeskens - người thường được biết đến tại Barcelona bằng biệt danh thân thương "Johan Đệ nhị" (Johan Segundo) - lại không mang đến sự bổ sung chất lượng như kỳ vọng ban đầu. Do quy chế giải đấu thời điểm đó chỉ cho phép mỗi đội tung vào sân tối đa hai ngoại binh trong một trận đấu, cầu thủ chạy cánh trái tốc độ và đầy sáng tạo là Hugo Sotil đã phải ngậm ngùi nhường lại vị trí, điều này đã vô tình làm suy giảm đáng kể sức mạnh hỏa lực của mặt trận tấn công. Thêm vào đó, bản thân Neeskens cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với lối chơi chung của toàn đội trong năm đầu tiên cập bến.[91]

Hệ quả là mùa giải đã khép lại với những nỗi thất vọng tràn trề. Trên sân nhà Camp Nou, Barcelona vẫn duy trì vị thế thống trị và cống hiến những bữa tiệc bóng đá mãn nhãn.[91] Tuy nhiên, trong các chuyến làm khách, Cruyff luôn trở thành mục tiêu triệt hạ và bị các hậu vệ đối phương tổ chức đeo bám, đá rát một cách quyết liệt hòng phong tỏa tầm ảnh hưởng của ông. Bước sang năm thứ hai, Cruyff không còn nhận được sự bảo vệ hay những đặc quyền ưu ái từ các vị vua áo đen như thời kỳ đầu mới đến. Để đáp trả, ông chọn giải pháp chủ động lùi sâu hơn về khu vực trung tuyến nhằm thoát khỏi sự kèm cặp khó chịu này. Hành động này cũng kéo theo những cuộc tranh cãi nảy lửa liên tục giữa ông với các trọng tài cũng như khán giả trên khán đài, khiến ông phải nhận hàng loạt thẻ phạt. Vào tháng 2 năm 1975, ông đã phải nhận một chiếc thẻ đỏ trực tiếp tại Malaga sau những phản ứng dữ dội trước một bàn thắng được ghi trong thế việt vị rõ ràng của đội chủ nhà. Dù vậy, ông kiên quyết từ chối rời sân và cuối cùng lực lượng cảnh sát đã phải vào cuộc để hộ tống ông ra ngoài đường biên.[92] Mặc dù là một người có xu hướng đứng ngoài lề chính trị, Cruyff đã nhanh chóng đồng điệu với làn sóng bất bình của công chúng xứ Catalonia về việc liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha luôn có những quyết định thiên vị trắng trợn dành cho Real Madrid.[93] Vào năm 1978, Barcelona đánh bại Las Palmas với tỷ số cách biệt 3-1 để lên ngôi vô địch tại Copa del Rey.[49] Ngoài ra, cá nhân Cruyff cũng từng có hai trận đấu khoác áo câu lạc bộ Paris Saint-Germain vào năm 1975 trong khuôn khổ giải đấu giao hữu Paris. Ông gật đầu đồng ý tham gia thương vụ này đơn thuần vì sự ngưỡng mộ đặc biệt dành cho nhà thiết kế thời trang tài hoa Daniel Hechter, người đang đảm nhiệm cương vị chủ tịch của PSG lúc bấy giờ.[94][95]

Giải nghệ ngắn ngủi và quãng thời gian tại Hoa Kỳ

Tập tin:Johan Cruijff en voetbalmakelaar Cor Coster (r) op de tribune, Bestanddeelnr 930-4443.jpg
Cruyff cùng ông Cor Coster (bên phải), vừa là bố vợ vừa là người đại diện của ông.

Trong mùa giải 1976-77 tại Barcelona, gia đình Cruyff đã quen biết doanh nhân người Pháp Michel Basilevitch, một thành viên chính thức của câu lạc bộ (socis) và là người đã tạo được ấn tượng tốt với họ. Cruyff đã tin tưởng giao cho ông - thay vì bố vợ Cor Coster - trọng trách gia hạn hợp đồng sắp hết hạn của mình với FC Barcelona thêm một năm. Basilevitch đã thương lượng thành công một mức lương tăng thêm, điều này càng làm cho gia đình Cruyff quý mến ông hơn. Chẳng bao lâu, Basilevitch trở thành người tri kỷ, và ông cùng Cruyff bắt đầu thành lập một công ty mang tên Grupeco Holding để đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả một trang trại nuôi heo. Các báo cáo chỉ trích từ báo giới sau đó đã công bố rằng Cruyff đang gánh khoản nợ thuế đáng kể và các khoản đầu tư của ông đều là những thất bại ê chề.[96]

Vào năm 1978, một ngân hàng đã công khai thông tin Grupeco Holding không còn khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình. Các khoản đầu tư hầu như không có ngoại lệ đều chứng minh là những thất bại và đẩy Cruyff vào cảnh khánh kiệt. Bố vợ của ông đã vào cuộc và tuyên bố trong các cuộc phỏng vấn với báo chí rằng Basilevitch có quan hệ bất chính với vợ của Cruyff, đồng thời đã trục lợi một cách gian lận từ tài sản của Cruyff. Basilevitch ngay lập tức đáp trả các cáo buộc của Coster. Ông khẳng định bản thân cũng phải chịu tổn thất lớn trong vụ phá sản của Grupeco Holding, đồng thời đe dọa sẽ vạch trần các hành vi kinh doanh mờ ám của Cruyff và Coster mà ông đã nắm được với tư cách là người thân cận của gia đình Cruyff. Coster (và do đó cả Cruyff) đã có nhiều năm chuyển những khoản tiền khổng lồ qua mặt cơ quan thuế; ví dụ, ông khẳng định tiền lót tay của Cruyff không được kê khai trong tờ khai thuế, và Coster cũng đã chuyển một phần tiền sang Thụy Sĩ nhằm mục đích trốn thuế. Trước tình thế đó, Coster buộc phải nhượng bộ. Lo sợ những tiết lộ sâu hơn về các hoạt động kinh doanh của chính mình, ông đã từ bỏ việc đưa ra các cáo buộc tiếp theo.[97] Do vụ phá sản này, Cruyff bị buộc phải tiếp tục xỏ giày ra sân với tư cách là một cầu thủ. Ông rời Tây Ban Nha với những khoản nợ khổng lồ, vốn không thể được hoàn trả ngay cả khi ông trở lại đây nhiều năm sau đó.[98]

Cruyff và gia đình chuyển đến Hoa Kỳ sinh sống.[99][100] Thao tác chuyển giao này được chính Cruyff khẳng định là bước ngoặt tối quan trọng trong sự nghiệp: "Đó là một quyết định sai lầm, một sai lầm lớn khi treo giày ở tuổi 31 với tài năng thiên bẩm độc nhất vô nhị mà tôi sở hữu," đồng thời nói thêm, "Bắt đầu lại từ con số 0 ở Mỹ, cách xa quá khứ hàng ngặm dặm, là một trong những quyết định sáng suốt nhất của tôi. Ở đó, tôi học được cách kiểm soát những tham vọng không giới hạn của mình, học cách tư duy như một huấn luyện viên và hiểu sâu hơn về công tác tài trợ thương mại."[101]

Vào tháng 5 năm 1979, Cruyff ký một bản hợp đồng béo bở với câu lạc bộ Los Angeles Aztecs thuộc Giải bóng đá Bắc Mỹ (NASL).[49][102] Trước đó từng có tin đồn ông sẽ gia nhập New York Cosmos, nhưng thương vụ đã không thành hiện thực; ông chỉ đá vài trận giao hữu biểu diễn cho Cosmos. Ông chỉ gắn bó với Aztecs trong một mùa giải duy nhất, nhưng đã kịp sở hữu danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu NASL. Sau khi cân nhắc một lời đề nghị gia nhập Dumbarton tại Scotland, vào tháng 2 năm 1980, ông chuyển sang thi đấu cho Washington Diplomats.[103] Gia đình Cruyff định cư tại Tracy Place, một khu vực tập trung nhiều đại sứ quán và dinh thự của các chính trị gia, nơi họ thiết lập mối quan hệ bạn bè với các nhà ngoại giao, chính trị gia và giám đốc điều hành. Ông đã cống hiến trọn vẹn chiến dịch năm 1980 cho Diplomats, ngay cả khi đội bóng đang đối mặt với những cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng. Tại Diplomats, Cruyff đã phải nỗ lực chiến đấu để khẳng định vị trí của mình; ban đầu ông xảy ra xích mích với các đồng đội và huấn luyện viên vì thường xuyên bỏ qua các buổi sinh hoạt tối của đội (vì lý do gia đình) và thói quen hút thuốc trong phòng tắm. Toàn đội lúc đó cũng đã quen với một phong cách chơi bóng hoàn toàn khác biệt so với những gì Cruyff muốn truyền tải - Diplomats có lối chơi thiên về thể lực thực dụng và thường áp dụng chiến thuật chạy và sút (kick and rush) với những đường chuyền dài và rộng, giống như phong cách phổ biến ở Quần đảo Anh.[104]

Một Cruyff đầy thất vọng đã sớm bày tỏ những lời phàn nàn về huấn luyện viên và đồng đội với các phóng viên. Tuy nhiên, khi bước lên thảm cỏ, ông lập tức chứng minh được một đẳng cấp hoàn toàn khác biệt.[105] Tại Washington Diplomats, ông cũng có cơ hội làm quen và đánh giá cao mô hình tiếp thị thể thao đặc trưng của Mỹ. Ông bắt đầu tham gia quảng cáo bóng đá trên một đài truyền hình địa phương. Hoạt động này đã giúp ông kết nối với bà Eunice Kennedy Shriver, một thành viên của gia tộc Kennedy, người đã dành nhiều năm hoạt động xã hội hỗ trợ người khuyết tật và là người sáng lập ra Thế vận hội Đặc biệt (Special Olympics) vào năm 1968; theo lời mời của bà, Cruyff đã trở thành đại sứ cho Thế vận hội Đặc biệt; sau trải nghiệm quý báu này, Cruyff bắt đầu tích cực đứng ra bảo vệ và hỗ trợ các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.[106] Do câu lạc bộ Diplomats tuyên bố phá sản ngay sau đó, hành trình của Cruyff tại Mỹ đã phải khép lại một cách đột ngột. Nhìn lại những năm tháng cống hiến tại xứ sở cờ hoa, ông chia sẻ rằng giai đoạn này đã khơi dậy trong ông niềm đam mê với trái bóng tròn vốn đã tạm thời bị đánh mất trước đó.

Trở lại Tây Ban Nha trong màu áo Levante và giai đoạn thứ hai tại Washington Diplomats

Tập tin:Document Cruyff.jpg
Văn bản do câu lạc bộ Levante UD phát hành nhằm xác nhận việc đăng ký Cruyff vào đội hình của họ

Cruyff trở lại châu Âu vào tháng 11 năm 1980. Ông đảm nhiệm vai trò "cố vấn kỹ thuật" tại Ajax, nơi ông tham gia tập luyện cùng toàn đội nhưng không ra sân thi đấu, và sớm xảy ra bất đồng cũng như xích mích với huấn luyện viên trưởng Leo Beenhakker.[107] Vào tháng 1 năm 1981, Cruyff đá ba trận giao hữu cho câu lạc bộ FC Dordrecht. Cũng trong tháng 1 năm 1981, chiến lược gia Jock Wallace của câu lạc bộ Anh Leicester City đã nỗ lực chiêu mộ Cruyff, cạnh tranh trực tiếp với Arsenal và một câu lạc bộ Đức giấu tên để giành lấy chữ ký của ông.[108] Bất chấp các cuộc đàm phán kéo dài suốt ba tuần, trong đó bản thân Cruyff đã bày tỏ nguyện vọng được cống hiến cho đội bóng, một thỏa thuận cuối cùng vẫn không thể được thông qua.

Sau khi thương vụ chuyển nhượng sang câu lạc bộ Anh Leicester City đổ bể, Cruyff thay vào đó đã lựa chọn ký hợp đồng với câu lạc bộ hạng Nhì Tây Ban Nha (Segunda División) là Levante vào tháng 2 năm 1981. Quãng thời gian cống hiến sau đó cho đội bóng hạng nhì Levante tiếp tục mang lại những lợi ích lớn về mặt tài chính cho Cruyff, nhưng hoàn toàn không thỏa mãn dưới góc độ thể thao thuần túy. Nhà tiểu sử của ông, Auke Kok, đánh giá giai đoạn khoác áo Levante là một nốt trầm tuyệt đối, xét trên cả phương diện sự nghiệp chuyên nghiệp lẫn đời sống cá nhân.[109] Một Cruyff đã không ra sân thi đấu suốt nhiều tháng trời không có được trạng thái sức khỏe tốt nhất và phải chịu đựng hàng loạt chấn thương vặt vãnh. Thêm vào đó, tâm trí ông bị bủa vây nhiều hơn bởi tình hình sức khỏe của người vợ Danny, người ban đầu phải nằm liệt giường sau một tai nạn ngã ngựa và, sau khi tình trạng chuyển biến xấu, đã phải nhập viện điều trị cưỡng chế.[110]

Trên thảm cỏ, Cruyff đã nỗ lực nhưng bất thành trong việc thiết lập phong cách tấn công theo trường phái Bóng đá tổng lực sở trường của mình. Sự thay đổi về mặt chiến thuật giữa chừng này đã chứng minh là một thất bại hoàn toàn, và Cruyff, liên tục bị hành hạ bởi những chấn thương nhỏ, đã chạm tới các giới hạn chịu đựng của bản thân tại giải hạng nhì Tây Ban Nha – nơi vốn mang đặc trưng bởi lối chơi tranh chấp vô cùng rát và thiên về thể lực va chạm. Levante cuối cùng khép lại mùa giải ở vị trí thứ chín trên bảng xếp hạng. Bản thân ông cũng chỉ nhận được một phần trong tổng số tiền thù lao đã cam kết trước đó.[111] Vào tháng 5 năm 1981, ông có màn xuất hiện với tư cách khách mời mang lại lợi nhuận thương mại rất cao cho AC Milan trong một giải đấu giao hữu nhỏ. Do dính chấn thương, ông chỉ có thể thi đấu nửa hiệp đấu; trước khi rời đi, ông đã hứa sẽ cống hiến bù lại vào dịp khác, tuy nhiên điều này đã không bao giờ xảy ra.[112] Đến tháng 6 năm 1981, Cruyff quyết định trở lại Mỹ. Ông khoác áo thi đấu cho Washington Diplomats trong mùa giải NASL 1981.

Giai đoạn thứ hai tại Ajax

Tập tin:Johan Cruijff met Japanse fans.jpg
Cruyff cùng các cổ động viên Nhật Bản vào năm 1982

Sau quãng thời gian thi đấu tại Mỹ và giai đoạn ngắn ngủi ở Tây Ban Nha, Cruyff chính thức tái ngộ và ra sân cho Ajax vào tháng 12 năm 1981. Thực tế, ông đã trở lại đội bóng từ ngày 30 tháng 11 năm 1980 (trước thời điểm khoác áo Levante) dưới tư cách "cố vấn kỹ thuật" cho huấn luyện viên Leo Beenhakker, trong bối cảnh Ajax đang ngụp lặn ở vị trí thứ tám trên bảng xếp hạng sau 13 vòng đấu. Kết thúc 34 vòng của mùa giải 1980–81, Ajax đã bứt phá để cán đích ở vị trí á quân. Đến tháng 12 năm 1981, Cruyff đặt bút ký bản hợp đồng chính thức với vai trò "cầu thủ" cho Ajax kéo dài đến mùa hè năm 1983.[113] Thời điểm đó, song song với cuộc khủng hoảng kinh tế quốc gia, nền bóng đá Hà Lan cũng rơi vào vòng xoáy sa sút suốt nhiều năm trời.[114] Trên đấu trường quốc tế, cơn lốc màu da cam *Oranje* đã nếm trái đắng khi không thể vượt qua vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1982. Sự suy thoái này kéo theo lượng khán giả đến sân sụt giảm nghiêm trọng. Theo đề xuất cá nhân, Cruyff đã ký một bản hợp đồng dựa trên hiệu suất với Ajax Amsterdam, điều giúp ông đảm bảo mức thu nhập cao hơn nếu lượng cổ động viên đến sân gia tăng. Tác giả David Winner đánh giá ba mùa giải cuối cùng này ở chặng hoàng hôn sự nghiệp của Cruyff là vô cùng phi thường.[115]

Trong vai trò nhạc trưởng điều tiết, Cruyff đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho một lứa cầu thủ trẻ tài năng – những người sau này trở thành bộ khung xương sống đưa đội tuyển quốc gia Hà Lan lên ngôi vô địch tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1988. Ở tuổi 34 và không còn ở đỉnh cao phong độ, ông đã khỏa lấp những hạn chế về mặt thể lực bằng nhãn quan chiến thuật cùng tư duy chơi bóng vượt trội, điều cho phép ông đọc trước tình huống và đón đầu các pha bóng sớm hơn đối thủ; một hệ thống tư duy mà Cruyff đã làm chủ đến mức hoàn hảo trong những năm tháng này, theo nhận định từ các nhà tiểu sử.[116][117] Ông cũng được hưởng lợi từ một thỏa ước ngầm không xâm phạm lẫn nhau giữa các huấn luyện viên đối phương; họ chỉ đạo các hậu vệ của mình phải đá "sạch", không được dùng tiểu xảo hay phạm lỗi thô bạo với biểu tượng quốc dân Cruyff. Thêm vào đó, Cruyff như thường lệ vẫn biết cách gây áp lực lên các vị vua áo đen, giúp ông có thể thoải mái chơi bóng trên sân. Nhìn lại quá khứ, trọng tài Charles Corver sau này thừa nhận ông đôi khi đã để bản thân bị Cruyff thao túng và các quyết định trên sân phần nào bị ảnh hưởng bởi danh thủ này.[118]

Tại Ajax, Cruyff là người dẫn dắt một thế hệ vàng gồm các tài năng trẻ kiệt xuất như Frank Rijkaard, Ronald Koeman, Gerald VanenburgMarco van Basten; ông nhanh chóng thiết lập vai trò thủ lĩnh tối cao trong phòng thay đồ, tạo ra tầm ảnh hưởng lớn lên cả sơ đồ chiến thuật lẫn đội hình ra sân. Trong màn tái xuất sân nhà chật kín khán giả đối đầu với HFC Haarlem, Cruyff thực hiện pha rê dắt qua hai hậu vệ đối phương ở phút thứ 22 trước khi dứt điểm tung lưới ghi bàn thắng ngoạn mục.[119] Có Cruyff trong đội hình, Ajax thi đấu ổn định và bản lĩnh hơn hẳn so với những năm trước, qua đó sớm khóa chặt chức vô địch quốc gia trước năm vòng đấu tại mùa giải 1981–82.[120] Vào năm 1982, ông ghi một bàn thắng lẫy lừng vào lưới Helmond Sport. Trong trận đấu đó, Cruyff đã thực hiện một pha đá phạt đền theo đúng cách mà danh thủ Rik Coppens từng làm trước đó 25 năm.[121][122] Ông đặt bóng vào chấm phạt đền như thường lệ, nhưng thay vì dứt điểm thẳng, Cruyff nhẹ nhàng đẩy bóng sang ngang cho người đồng đội Jesper Olsen băng lên, Olsen sau đó trả bóng ngược lại để Cruyff dễ dàng đệm bóng vào lưới trống trước sự ngơ ngác hoàn toàn của Otto Versfeld – thủ thành bên phía Helmond.[123] Khép lại mùa giải 1982–83, Ajax cùng với Cruyff một lần nữa bảo vệ thành công vương miện vô địch quốc gia. Ngoài ra, họ cũng thâu tóm luôn danh hiệu Cúp quốc gia Hà Lan (KNVB Cup).

Mùa giải cuối cùng tại Feyenoord và quyết định giải nghệ

Tập tin:Feyenoord tegen AZ'67 5-2; Johan Cruyff springt over doelman Treytel.jpg
Trận đấu giữa Feyenoord gặp AZ'67 với tỷ số 5–2; Johan Cruyff bật nhảy qua người thủ môn Treytel.

Sau những vinh quang đó, Cruyff có nguyện vọng gia hạn hợp đồng để cống hiến thêm một năm cuối cùng trước khi giải nghệ.[124] Tuy nhiên, thành viên ban lãnh đạo Ajax khi đó là ông Tom Harmsen đã thẳng thừng từ chối lời đề nghị này.[3] Quyết định này khiến Cruyff vô cùng giận dữ, ông đáp trả bằng một hành động gây rúng động khi đặt bút ký hợp đồng với đại kình địch không đội trời chung của Ajax là Feyenoord.[125] Đội hình của Feyenoord thời điểm đó chỉ ở mức trung bình suốt nhiều năm và ngoại trừ tài năng trẻ Ruud Gullit cùng tiền đạo Peter Houtman, họ không sở hữu bất kỳ ngôi sao kiệt xuất nào trong đội hình nếu đặt lên bàn cân với Ajax.[126] Ở vòng đấu thứ bảy, Feyenoord có chuyến hành quân đối đầu với Ajax trong trận derby rực lửa "De Klassieker" tại Amsterdam; trận đấu kết thúc với thất bại tan nát 2–8. Dẫu vậy, một Cruyff đầy ngạo nghễ vẫn đanh thép tuyên bố trước truyền thông sau trận đấu: "Chúng tôi sẽ giành chức vô địch."[127] Feyenoord sau đó cũng phải hứng chịu những trận thua muối mặt tại đấu trường châu Âu; tiêu biểu là trong cuộc đụng độ với Tottenham Hotspur, Cruyff đã bị tiền vệ đối phương là Glenn Hoddle phong tỏa và vô hiệu hóa hoàn toàn.[128]

Không hề bị khuất phục trước những thất bại đầu mùa này, Cruyff bắt đầu can thiệp và tạo tầm ảnh hưởng sâu sắc lên hệ thống chiến thuật, chế độ huấn luyện cũng như đội hình ra sân, truyền thụ kho tàng kiến thức bóng đá đồ sộ của mình cho toàn đội. Trong khi đại kình địch Ajax thi đấu trồi sụt bấp bênh, thì một Feyenoord dưới sự tổ chức chặt chẽ của Cruyff lại lầm lũi tiến bước bằng những chiến thắng tối thiểu nhưng đầy thực dụng và ổn định, chính thức đánh chiếm ngôi đầu bảng ngay trước khi mùa đông khởi tranh. Đến tháng 2 năm 1984, họ phục hận thành công khi loại Ajax khỏi đấu trường Cúp quốc gia KNVB, trước khi đè bẹp đối thủ với tỷ số 4–1 trong trận lượt về của giải vô địch quốc gia, trận đấu mà cá nhân Cruyff cũng đóng góp một pha lập công.[129] Khép lại mùa giải năm đó, tập thể đội bóng đã hoàn tất cú đúp danh hiệu lịch sử gồm chức vô địch quốc gia Eredivisie và danh hiệu Cúp quốc gia KNVB. Nhờ những màn trình diễn siêu hạng trên thảm cỏ, ông có lần thứ năm trong sự nghiệp ẵm danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hà Lan. Ngày 13 tháng 5 năm 1984, ông chơi trận đấu chính thức cuối cùng trong sự nghiệp đối đầu với Zwolle. Ông từ chối mọi lời đề nghị gia hạn hợp đồng từ phía ban lãnh đạo câu lạc bộ, bởi bản thân nhận thấy thể trạng không còn cho phép đáp ứng những yêu cầu khắc nghiệt của bóng đá đỉnh cao.[130] Trận đấu tri ân cuối cùng của Cruyff diễn ra tại Ả Rập Xê Út đối đầu với câu lạc bộ Al-Ahli, nơi ông khép lại sự nghiệp lẫy lừng bằng việc giúp Feyenoord lội ngược dòng với một bàn thắng và một đường kiến tạo đẳng cấp.[131]

Danh hiệu

Cầu thủ

Ajax Amsterdam (1964-1973, 1981-1983)

Barcelona (1974-1978)

Feyenoord (1983-1984)

  • Á quân World Cup: 1974

Huấn luyện viên

Ajax Amsterdam: (1985-1988)

Barcelona (1988-1996)

Chú thích

  1. ^ "Johan Cruyff". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2023.
  2. ^ Kok 2022, tr. 9.
  3. ^ a ă Bollen 2021, tr. 20.
  4. ^ a ă Kok 2022, tr. 10.
  5. ^ Kok 2022, tr. 385.
  6. ^ Kok 2022, tr. 13.
  7. ^ Kok 2022, tr. 476.
  8. ^ Kuper 2022, tr. 80.
  9. ^ Kok 2022, tr. 19.
  10. ^ a ă Kuper 2022, tr. 62.
  11. ^ Wilson 2018, tr. 42.
  12. ^ van den Boogaard 2021, tr. 106.
  13. ^ Kok 2022, tr. 467.
  14. ^ Ramesh, Priya (ngày 1 tháng 4 năm 2016). "Johan Cruijff: A mortal with the potential of a superman". Benefoot.net. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2016.
  15. ^ a ă "Profiel: De jonge jaren van Johan Cruijff". ngày 24 tháng 3 năm 2016.
  16. ^ Stevens, Samuel (ngày 24 tháng 3 năm 2016). "14 things you didn't know about Dutch legend Cruyff". The Independent (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2022.
  17. ^ a ă Winner 2008, tr. 29.
  18. ^ Winner 2008, tr. 30.
  19. ^ Schulze-Marmeling 2012, tr. 77.
  20. ^ Winner 2008, tr. 34.
  21. ^ Kok 2022, tr. 93.
  22. ^ Winner 2008, tr. 37.
  23. ^ Kuper 2022, tr. 64.
  24. ^ Bollen 2021, tr. 24.
  25. ^ Winner 2008, tr. 299.
  26. ^ Winner 2008, tr. 301.
  27. ^ Winner 2008, tr. 302.
  28. ^ Winner 2008, tr. 58.
  29. ^ Winner 2008, tr. 222.
  30. ^ Winner 2008, tr. 61.
  31. ^ a ă Winner 2008, tr. 71.
  32. ^ Winner 2008, tr. 59.
  33. ^ Winner 2008, tr. 65.
  34. ^ Kuper 2022, tr. 72.
  35. ^ Kuper 2022, tr. 68.
  36. ^ Kuper 2022, tr. 66.
  37. ^ Kuper 2022, tr. 67.
  38. ^ Kuper 2022, tr. 69.
  39. ^ a ă Kuper 2022, tr. 65.
  40. ^ van den Boogaard 2021, tr. 112.
  41. ^ van den Boogaard 2021, tr. 97.
  42. ^ Winner 2008, tr. 62.
  43. ^ a ă Winner 2008, tr. 56.
  44. ^ Kok 2022, tr. 66.
  45. ^ Brian Glanville: Champions of Europe. Guiness, London 1991, tr. 126, trích dẫn trong John Foot: Calcio. A History of Italian Football. Harper Collins, London 2006, tr. 229.
  46. ^ Winner 2008, tr. 73.
  47. ^ Winner 2008, tr. 70.
  48. ^ van den Boogaard 2021, tr. 61.
  49. ^ a ă â b c d đ "The Netherlands' Grand Master". FIFA.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014.
  50. ^ Kok 2022, tr. 68.
  51. ^ Kok 2022, tr. 94.
  52. ^ Winner 2008, tr. 41.
  53. ^ Winner 2008, tr. 42.
  54. ^ Kok 2022, tr. 100.
  55. ^ Kok 2022, tr. 122.
  56. ^ Winner 2008, tr. 192.
  57. ^ Kok 2022, tr. 146.
  58. ^ "Nummer 14 Johan Cruyff". IMDb.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2007.
  59. ^ "Nummer 14". Nummer14.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2007.
  60. ^ Kok 2022, tr. 181.
  61. ^ Winner 2008, tr. 63.
  62. ^ Kok 2022, tr. 201.
  63. ^ Winner 2008, tr. 109.
  64. ^ Kok 2022, tr. 202.
  65. ^ Wilson 2018, tr. 11.
  66. ^ Kok 2022, tr. 203.
  67. ^ "Johan Cruyff - Hall of Fame". International Football Hall of Fame (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2014.
  68. ^ Kuper 2022, tr. 73.
  69. ^ Kok 2022, tr. 222.
  70. ^ Kok 2022, tr. 223.
  71. ^ Winner 2008, tr. 224.
  72. ^ Kok 2022, tr. 224.
  73. ^ Feindt, Henning (ngày 19 tháng 9 năm 2014). "Franz Beckenbauer & Johan Cruyff: Der FC Barcelona wird immer größer als der FC Bayern sein". Bild.de. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2016. Franz Beckenbauer: "Wenn Spieler như Bale hay Ronaldo trị giá khoảng 100 triệu, thì với Johan con số phải là hàng tỷ!" [Bản gốc tiếng Đức]
  74. ^ Tooth, John-Paul (ngày 19 tháng 9 năm 2014). "Beckenbauer: If Bale and Ronaldo are worth €100m, Cruyff would be worth billions". Goal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2016.
  75. ^ Kok 2022, tr. 227.
  76. ^ Lowe 2013, tr. 222.
  77. ^ Lowe 2013, tr. 221.
  78. ^ Bollen 2021, tr. 12.
  79. ^ Kok 2022, tr. 231.
  80. ^ Kok 2022, tr. 247.
  81. ^ Kok 2022, tr. 252.
  82. ^ Kok 2022, tr. 251.
  83. ^ Kok 2022, tr. 290.
  84. ^ a ă Lowe 2013, tr. 224.
  85. ^ Kok 2022, tr. 250.
  86. ^ "Johan Cruyff on film, Cristiano Ronaldo is smashing and cricket's thuglife". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 3 năm 2016.
  87. ^ Kok 2022, tr. 254.
  88. ^ a ă â Jimmy Burns (2011). "Barça: A People's Passion". Bloomsbury Publishing,
  89. ^ Lowe 2013, tr. 178.
  90. ^ Kok 2022, tr. 284.
  91. ^ a ă Kok 2022, tr. 286.
  92. ^ Kok 2022, tr. 288.
  93. ^ Kok 2022, tr. 289.
  94. ^ "Johan Cruyff au PSG, avec Jean Pierre Dogliani et Just Fontaine (1975)". sport-vintage.com (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2017.
  95. ^ "Johan Cruyff photograph". Tumblr (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2015.
  96. ^ Kok 2022, tr. 321.
  97. ^ Kok 2022, tr. 327.
  98. ^ Kok 2022, tr. 330.
  99. ^ Kuper, Simon (ngày 24 tháng 3 năm 2016). "Johan Cruyff: The player, the coach, the legacy. [Originally appeared in the July 2009 issue]". FourFourTwo.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  100. ^ Schaerlaeckens, Leander (ngày 25 tháng 3 năm 2016). "Johan Cruyff's Complicated Legacy". VICE Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2020.
  101. ^ "Cruyff the positive thinker looks ahead to new lease of football life". Herald Scotland (www.heraldscotland.com). ngày 26 tháng 4 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  102. ^ "축구스타 크루이프 미국프로팀에 입단". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2023.
  103. ^ "The time Johan Cruyff almost signed for Dumbarton". The Scotsman. ngày 24 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2021.
  104. ^ Kok 2022, tr. 341.
  105. ^ Kok 2022, tr. 342.
  106. ^ Kok 2022, tr. 343.
  107. ^ Kok 2022, tr. 346.
  108. ^ "How Johan Cruyff nearly signed for Leicester City in 1981". The Guardian. ngày 12 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2021.
  109. ^ Kok 2022, tr. 350.
  110. ^ Kok 2022, tr. 352.
  111. ^ Kok 2022, tr. 356.
  112. ^ Kok 2022, tr. 358.
  113. ^ Scott Murray, Rowan Walker (2008). "Day of the Match: A History of Football in 365 Days". tr. 271. Pan Macmillan, 2008
  114. ^ Kok 2022, tr. 361.
  115. ^ Winner 2008, tr. 206.
  116. ^ Schulze-Marmeling 2012, tr. 106.
  117. ^ Kuper 2022, tr. 93.
  118. ^ Kok 2022, tr. 382.
  119. ^ Kuper 2022, tr. 92.
  120. ^ Kok 2022, tr. 366.
  121. ^ Dart, James (ngày 26 tháng 10 năm 2005). "Who took the first two-man penalty?". The Guardian. London, UK. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2010.
  122. ^ "Brazilians recreate Cruyff penalty to show Pires and Henry how it's done". Excite. ngày 30 tháng 3 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.
  123. ^ Kuper 2022, tr. 94.
  124. ^ Kok 2022, tr. 374.
  125. ^ "Playing for Feyenoord". Cruyff.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.
  126. ^ Mik Schots (2013). "Feyenoord-Ajax: gezworen vijanden". Singel Uitgeverijen
  127. ^ Bollen 2021, tr. 50.
  128. ^ Glenn Hoddle, tr. 378.
  129. ^ Kok 2022, tr. 381.
  130. ^ Kok 2022, tr. 383.
  131. ^ "De echte afscheidswedstrijd van Cruijff" (bằng tiếng Hà Lan). Football United. ngày 20 tháng 7 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013.

Đọc thêm

  • Barend, Frits; Van Dorp, Henk: Ajax, Barcelona, Cruyff: The ABC of an Obstinate Maestro. Translated from the Dutch by David Winner and Lex Van Dam. (Bloomsbury Publishing, London, 1999)
  • Burns, Jimmy: Barça: A People's Passion. (Bloomsbury Publishing, 2011)
  • Burns, Jimmy: La Roja: How Soccer Conquered Spain and How Spanish Soccer Conquered the World. (Nation Books, 2012)
  • Casanovas, Josep María: Cruyff, una vida por el Barça. (Ediciones B, 1973, ISCOND-400-6710-0)
  • Conde Esteve, Justo: La cruyffcifixión del «mini-dios» Núñez. (Edimestre Serveis Editorials, 1996, ISBN 84-87888-20-8)
  • Cruijff, Johan; de Boer, Sytze: Johan Cruijff uitspraken. Een biografie in citaten. (Uitgeverij Schuyt Nederland, 2013, ISBN 9789081797412)
  • Cruyff, Johan: Mis futbolistas y yo. (Ediciones B, 1993, ISBN 84-406-3999-6)
  • Cruyff, Johan: Me gusta el fútbol. (RBA Libros, 2002)
  • Cruyff, Johan: Fútbol. Mi filosofía. (Ediciones B, 2012)
  • Ghemmour, Chérif: Johan Cruyff, génie pop et despote. Préface par Michel Platini. (Editions Hugo Sport, 2015)
  • Hiddema, Bert: El Cruijff. (Amsterdam: Uitgeverij Pandora Pockets, 2002)
  • Hiddema, Bert: Cruijff! Van Jopie tot Johan. (Amsterdam: Uitgeverij L.J. Veen, 2006)
  • Hilvoorde, I. van; Stokvis, R. (2013) ‘Pythagoras in boots’: Johan Cruijff and the Construction of Dutch National Identity, Sport in History, 33(4), 427-444
  • Hunter, Graham: Barça: The Making of the Greatest Team in the World. (BackPage Press, 2012)
  • Jensen, Ric (2014). Looking at the Extraordinary Success of the 'Clockwork Orange': Examining the Brilliance of Total Football Played by the Netherlands. [Special Issue: Heroes, Icons, Legends: Legacies of Great Men in World Soccer] (Soccer & Society, Volume 15, Issue 5, 2014)
  • Kuper, Simon: Football Against the Enemy. (Orion Publishing Group, 1994)
  • Kuper, Simon: Ajax, the Dutch, the War: Football in Europe during the Second World War. (Orion Publishing Group, 2003)
  • Richards, Ted: Soccer and Philosophy: Beautiful Thoughts on the Beautiful Game (Popular Culture and Philosophy). (Open Court Publishing, 2010)
  • Riera, Josep; Roca, Miquel: Van Barça: el Futbol Club Barcelona i Holanda, més que una relació. (Cossetània Edicions, 2007)
  • Schots, Mik; Luitzen, Jan: Wie is Johan Cruijff. Insiders duiden het Orakel. Maar Cruijff heeft zelf het laatste Woord. (Uitgeverij Arbeiderspers, 2007, ISBN 9789029564755)
  • Schulze-Marmeling, Dietrich: Der König und sein Spiel: Johan Cruyff und der Weltfußball. (Verlag Die Werkstatt GmbH, Göttingen, 2012)
  • Wilson, Jonathan: Inverting the Pyramid: The History of Football Tactics. (Orion Books Limited, 2010)
  • Winner, David: Brilliant Orange: The Neurotic Genius of Dutch Football. (Bloomsbury Publishing, London, 2000)
  • Winsemius, Pieter: Je gaat het pas zien als je het doorhebt. Over Cruijff en leiderschap. (Amsterdam: Uitgeverij Balans, 2004)

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Sơ khai bóng đá

Tiền nhiệm:
Gerd Müller
Quả bóng vàng châu Âu
1971
Kế nhiệm:
Franz Beckenbauer
Tiền nhiệm:
Franz Beckenbauer
Quả bóng vàng châu Âu
1973-1974
Kế nhiệm:
Oleg Blokhin

Bản mẫu:Navboxes Bản mẫu:Navboxes Bản mẫu:Navboxes


Bản mẫu:Sơ khai nhân vật thể thao