La Lutte
La Lutte (Tranh đấu) là một tờ báo cánh tả xuất bản bằng tiếng Pháp (do báo chí tiếng Việt bị hạn chế) ở Sài Gòn, Nam Kỳ vào những năm 1930.[1] Tờ báo ra mắt trước cuộc tranh cử hội đồng thành phố Sài Gòn từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1933 với tư cách là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương và một nhóm Đệ Tứ Quốc tế (theo đường lối Trotsky, sau này được gọi là Nhóm Tranh đấu theo tên của tờ báo) cùng những người khác mà đã chọn nhóm "Sổ lao động" làm ứng cử viên cho cuộc tranh cử.[2][3][4] Kiểu hợp tác này giữa những người cộng sản Đệ Tứ Quốc tế và Đệ Tam Quốc tế với nhau tạo nên một liên minh đáng ngạc nhiên chỉ có ở Việt Nam.[5] Cương lĩnh chính trị của La Lutte tránh chỉ trích Liên Xô trong khi ủng hộ các yêu sách chính trị của công nhân và nông dân mà bất kể đảng phái.[6] Những người ủng hộ La Lutte được gọi là lutteur.[7]
La Lutte ngày 23 tháng 2 năm 1935. Giới thiệu liên danh "Sổ lao động" cho cuộc tranh cử Hội đồng thành phố Sài Gòn. | |
| Hình thức | Xuất bản phẩm định kỳ |
|---|---|
| Chủ sở hữu | Đảng Cộng sản Đông Dương (1933–1937) Đệ Tứ Quốc tế (1933–1939) |
| Tổng biên tập | Edgar Ganofsky |
| Thành lập | 24 tháng 4 năm 1933 |
| Khuynh hướng chính trị | Chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa Trotsky Chủ nghĩa vô trị Chủ nghĩa dân tộc |
| Ngôn ngữ | Tiếng Pháp |
| Đình bản | 26 tháng 9 năm 1939 |
| Trụ sở | 25 bis Lagrandière, Quận 1, Sài Gòn (1933-1937) 95E Lagrandière, Quận 1, Sài Gòn (từ năm 1937) |
| Quốc gia | |
Tranh cử năm 1933
La Lutte chống lại cả chế độ thực dân và Đảng Lập hiến.[8] Số đầu tiên của La Lutte được xuất bản vào ngày 24 tháng 4 năm 1933. Trong cuộc vận động bầu cử Hội đồng Thành phố Sài Gòn, nhóm Tranh đấu đã gọi nhóm ứng cử viên của họ là Sổ lao động. Hai trong số các ứng cử viên của liên danh Sổ lao động, Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch đã được bầu (tổng số sáu ghế bầu), nhưng kết quả cuộc tranh cử của họ đã bị vô hiệu vào tháng 8 năm 1933. Việc xuất bản của La Lutte bị đình chỉ sau cuộc tranh cử.[3][4]
Hồi sinh
Với sự hòa giải của Nguyễn An Ninh, một nhân vật cách mạng độc lập có sức ảnh hưởng lớn, sự hợp tác giữa hai khuynh hướng được khôi phục vào tháng 10 năm 1934. Cương lĩnh chính trị được thống nhất giữa Đệ Tam Quốc tế và Đệ Tứ Quốc tế là "Kiên quyết đấu tranh chống chính quyền thuộc địa và các đồng minh lập hiến của nó, ủng hộ quyền lợi công nông mà không phân biệt họ thuộc phái nào, phổ biến tư tưởng Marx cổ điển, và từ bỏ mọi công kích Liên Xô cũng như bất kỳ phe phái nào chống lại cả hai nhóm quốc tế vô sản hiện nay."[9] Ban biên tập gồm có Nguyễn An Ninh, Lê Văn Thụ, Trần Văn Thạch (cánh tả dân tộc chủ nghĩa), Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Thị Lựu (Đảng Cộng sản), Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh và Huỳnh Văn Phương (Đệ tứ quốc tế). Nhà báo người Pháp Edgar Ganofsky, xuất thân từ đảo Réunion, một người xu hướng chủ nghĩa tự do tuyệt đối, sống thanh đạm theo lối người An Nam trong một căn phố nghèo ở Đakao. Toàn tâm toàn ý chống thực dân chủ nghĩa, ông nhận làm quản lý công không, sử dụng tư cách công dân Pháp cùng kinh nghiệm làm báo La voix libre (Tiếng nói tự do) để đứng tên chịu trách nhiệm xuất bản chính thức cho báo La Lutte.[3]
Mặt trận thống nhất do La Lutte làm hạt nhân tổ chức nhiều chiến dịch và tham dự các kỳ bầu cử. Trong cuộc bầu cử Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ 1935, dù chịu hạn chế về phổ thông đầu phiếu và sự can thiệp của chính quyền, mặt trận đạt 17% số phiếu. Trong cuộc bầu cử Hội đồng Thành phố Sài Gòn tháng 5 năm 1935, Sổ Lao động có bốn người đắc cử là Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu và Dương Bạch Mai. Tuy nhiên, kết quả cuộc tranh cử của ba người Tạo, Thâu, và Mai đã bị vô hiệu.[3] Cuộc bầu cử này cũng chứng kiến tranh luận gay gắt nội bộ về tư cách ứng cử của Dương Bạch Mai, người bị phe Trotskyist gán cho là “cải lương” nhưng được Tạ Thu Thâu bênh vực.[10] Vào cuối năm 1936 và 1937, nhóm đã tổ chức nhiều cuộc đình công.[3]
La Lutte dành nhiều quan tâm đến các tù nhân chính trị bị chế độ thực dân Pháp giam giữ và liên tục lên tiếng vận động ân xá cho các tù nhân chính trị này.[3] Các cuộc biểu tình của tù nhân thường xuyên được đưa tin trên các trang của La Lutte.[11]
Đầu năm 1936, do không muốn tiếp tục bị hạn chế phê phán “Stalinist” và Đảng Cộng sản Đông Dương, Hồ Hữu Tường và Ngô Văn rời khỏi mặt trận. Họ cùng Liên minh Cộng sản Quốc tế Xây dựng Đệ tứ Quốc tế xuất bản tờ Le Militant được giới thiệu như "cơ quan bảo vệ vô sản và đấu tranh Marxist".[12]
Chia rẽ trên Mặt trận Bình dân
Đảng viên cộng sản và nhóm Trotskyists theo Tạ Thu Thâu chia rẽ sâu sắc trước chính phủ Mặt trận Bình dân ở Pháp, vốn được Đảng Cộng sản Pháp và chính phủ Moskva ủng hộ, hậu thuẫn.[13] Tạ Thu Thâu cho rằng sự chuyển hướng tả khuynh trong Quốc hội Pháp đã không mang lại kết quả mong muốn. Ông và các nhà hoạt động cần lao khác tiếp tục bị bắt, hy vọng về việc chuẩn bị cho một đại hội bình dân để đáp lại lời hứa của chính phủ cho việc tham vấn thuộc địa đã bị dập tắt.[14]
Đến năm 1937, những người ủng hộ đường lối Tạ Thu Thâu đã trở thành lực lượng thống trị La Lutte.[15] Vào tháng 5 năm 1937, Đảng Cộng sản cho ra đời một tờ báo mới của riêng mình, L'Avant Garde ('Tiền phong'), qua đó công kích Đệ Tứ Quốc tế vô sản. Sự chia rẽ đạt đỉnh điểm vào ngày 14 tháng 6 năm 1937,Đảng Cộng sản từ chối ủng hộ kiến nghị chống Mặt trận Bình dân của Tạ Thu Thâu, mặt trận La Lutte chính thức tan rã.[16] Những người theo Đệ Tứ Quốc tế đã công khai đổ lỗi cho Đảng Cộng sản Pháp về sự chia rẽ này.[17]
Số phận của các lutteur
Sau chia rẽ, La Lutte trở thành một tờ báo Trotskyist thuần túy, đồng thời xuất bản thêm ấn bản tiếng Việt (Tranh Đấu).[18] Tạ Thu Thâu đã lãnh đạo "Liên danh Công nhân và Nông dân" giành chiến thắng trước cả phe Lập hiến và Mặt trận Dân chủ của Đảng Cộng sản vào tháng 4 năm 1939 trong cuộc tranh cử Hội đồng Nam Kỳ. Chiến thắng này dù mang tính cách mạng nhưng đồng thời phản ánh làn sóng phản đối thuế quốc phòng mới, chính sách mà Đảng Cộng sản buộc phải ủng hộ theo tinh thần Hiệp ước Pháp-Xô.[19]
Trong thư gửi Leon Trotsky, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Tạ Thu Thâu và nhóm La Lutte tuyên bố chiến thắng "chói lọi" của họ trước "liên minh nhục nhã của đám tư sản và Stalinist" và gửi đến ông "lời chào Bolshevik-Leninist thân ái".[20]
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào tháng 9 năm 1939, tất cả tổ chức cộng sản đều bị đàn áp. Đạo luật ngày 26 tháng 9 năm 1939 của Pháp giải tán Đảng Cộng sản Pháp, đạo luật này cũng được áp dụng ở Đông Dương đối với cả hai phái Stalinist và Trotskyist. Đảng Cộng sản Đông Dương và các nhóm Đệ Tứ quốc tế chuyển sang hoàn toàn hoạt động bí mật. Edgar Ganofsky bị quản thúc ở Cần Thơ, ông qua đời trong tình trạng khốn cùng năm 1943.[21]
Trong cuộc tổng khởi nghĩa chống Pháp ở Sài Gòn vào tháng 9 năm 1945, các lutteur đã thành lập đội dân quân công nhân. Ngô Văn ghi chép lại rằng hai trăm người trong số này bị quân Pháp "thảm sát" vào ngày 3 tháng 10 tại cầu Thị Nghè. Các thành viên Trotskyist luôn bị săn lùng bởi cả Việt Minh và mật thám Pháp. Tạ Thu Thâu đã bị Việt Minh bắt và hành quyết mấy tuần trước đó.[22]
Trong một đợt tổng rút quân của lực lượng kháng chiến Nam Bộ giữa tháng 10 năm 1945, Dương Bạch Mai, người từng tham gia ban biên tập La Lutte đã tổ chức truy lùng, bắt giữ hoặc xử bắn khoảng 20 lãnh đạo quan trọng của phe Trotskyist trong đó có Nguyễn Văn Tiến, cựu chủ nhiệm báo và Phan Văn Hùm.[23][24][25]
Tham khảo
- ^ Steinberg, David Joel. In Search of Southeast Asia; A Modern History. New York: Praeger Publishers, 1971. tr. 322
- ^ Bousquet, Gisèle L. Behind the Bamboo Hedge: The Impact of Homeland Politics in the Parisian Vietnamese Community. Ann Arbor: University of Michigan Press, 1991. tr. 34-35
- ^ a b c d e f Alexander, Robert J. International Trotskyism, 1929-1985: A Documented Analysis of the Movement. Durham: Duke University Press, 1991. tr. 961-962
- ^ a b Trager, Frank N (ed.). Marxism in Southeast Asia; A Study of Four Countries. Stanford, Calif: Stanford University Press, 1959. tr. 134
- ^ McConnell, Scott. Leftward Journey: The Education of Vietnamese Students in France, 1919-1939. New Brunswick, U.S.A.: Transaction Publishers, 1989. tr. 145
- ^ Daniel Hemery Revolutionnaires Vietnamiens et pouvoir colonial en Indochine. François Maspero, Paris. 1975, tr. 63
- ^ McHale, Shawn Frederick. Print and Power: Confuciansim, Communism, and Buddhism in the Making of Modern Vietnam. Honolulu: University of Hawai'i Press, 2004. tr. 126
- ^ Quinn-Judge, Sophie. Ho Chi Minh: The Missing Years; 1919 - 1941. Berkeley [u.a.]: University of California Press, 2002. tr. 200
- ^ Hémery, Révolutionaires vietnamiens, tr. 63
- ^ Trager, Frank N (ed.). Marxism in Southeast Asia; A Study of Four Countries. Stanford, Calif: Stanford University Press, 1959. tr. 139
- ^ Zinoman, Peter. The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862 - 1940. Berkeley [u.a.]: University of California Press, 2001. tr. 231
- ^ Văn (2010), tr. 168-169
- ^ Alexander, Robert J. International Trotskyism, 1929-1985: A Documented Analysis of the Movement. Durham: Duke University Press, 1991. tr. 964
- ^ Hemery Revolutionnaires Vietnamiens, tr. 388
- ^ Dunn, Peter M. The First Vietnam War. London: C. Hurst, 1985. tr. 7
- ^ Trager, Frank N (ed.). Marxism in Southeast Asia; A Study of Four Countries. Stanford, Calif: Stanford University Press, 1959. tr. 142
- ^ Quinn-Judge, Sophie. Ho Chi Minh: The Missing Years; 1919 - 1941. Berkeley [u.a.]: University of California Press, 2002. tr. 227
- ^ Patti, Archimedes L.A. Why Viet Nam?: Prelude to America's Albatross. Berkeley: University of California Press, 1980. tr. 522
- ^ "Sky Without Light: A Vietnamese Tragedy - New Politics". New Politics. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2023.
- ^ "La Lutte: Letter to Trotsky". www.marxists.org. ngày 18 tháng 5 năm 1939. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2023.
- ^ Văn (2010), tr. 177
- ^ Ngô Văn, In the Crossfire: Adventures of a Vietnamese Revolutionary. AK Press, Oakland CA, 2010, tr. 131, tr. 162
- ^ Văn (2010), tr. 131, tr. 162
- ^ Alexander, Robert J. International Trotskyism, 1929-1985: A Documented Analysis of the Movement. Durham: Duke University Press, 1991. tr. 961-962
- ^ David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), trang 408 - 409, California: University of California Press, 2013