Bản mẫu:Taxobox/speciesLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Autotaxobox”.Bản mẫu:Taxonomy

Bản mẫu:Speciesbox/parameterCheckLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Bản mẫu:Speciesbox/name
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Cá thể trưởng thành tại Serengeti, Tanzania
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Tiếng hót song ca được ghi lại gần Kitale, Kenya
Phân loại khoa học edit
Danh pháp hai phần
Bản mẫu:Taxon infoBản mẫu:Taxon italics
(Hartlaub, 1863)
Hồ Bogoria - Kenya

Laniarius funebris là danh pháp của một loài chim thuộc họ Malaconotidae. Loài này được tìm thấy ở Ethiopia, Kenya, Rwanda, Somalia, Nam Sudan, Tanzania, và Uganda. Môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu vực trảng cỏ khô, cây bụi khô cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới và cây bụi ẩm cận nhiệt đới hay nhiệt đới.[1]

Phân loại

Nhà tự nhiên học Gustav Hartlaub đã mô tả loài chim này vào năm 1863. Loài này có hai phân loài được công nhận gồm funebrisdegener. Trong chi Laniarius, vị trí phân loại của chúng hiện vẫn chưa rõ ràng, nhưng loài này dường như không có quan hệ họ hàng gần với các thành viên có bộ lông màu đen khác cùng chi như loài Laniarius fuelleborni, loài mà trước đây một số chuyên gia từng cho rằng chúng cùng loài.[2]

Mô tả

Cá thể trưởng thành có chiều dài khoảng 20 cm (8 in) và có màu xám than đậm toàn thân. Cả chim đực và cái đều có ngoại hình tương tự nhau. Con non có bộ lông nhiều vằn hơn với màu vàng nâu và đen.[3]

Tiếng kêu

Tập tính âm thanh của chim đực bao gồm những âm thanh shhhhh ồn ào, hoặc tiếng tạch tạch mạnh và tiếng coco-weet với âm cuối vút cao.[3] Tiếng kêu có sự khác biệt tùy theo vùng phân bố trong phạm vi của loài.[4] Tiếng hót thường được thể hiện dưới hình thức hót song ca giữa chim đực và chim cái trong một cặp đã kết đôi. Đã có bốn loại bài ca được ghi nhận hót song ca bởi chim đực trong một nghiên cứu năm 1983. Các nhà nghiên cứu đã kết luận là có một loại tiếng hót dành cho giao phối, hai loại dùng để đánh dấu lãnh thổ và loại cuối có thể nhằm dùng để ngăn chim cái hót đơn lẻ, vì việc này có thể thu hút những con đực khác.[5] Tần suất chim đực hót các bài ca lãnh thổ thay đổi tùy theo mức độ đe dọa từ những con cùng loài khác và mức độ hợp tác giữa các cặp chim.[5] Một nghiên cứu năm 1992 về tiếng kêu của chúng phát hiện rằng khả năng chim đực hót bài ca giao phối liên quan với nồng độ estradiol của chim cái, chứ không phải nồng độ testosterone của chính nó, cho thấy rằng các tín hiệu hành vi giữa các cặp, chứ không phải nồng độ hormone mới là yếu tố quan trọng nhất để kích hoạt các bài ca giao phối.[6]

L. funebris đẻ một lứa trứng gồm 2 tới 3 quả trong tổ ở một bụi cây hay cây cao cách khoảng 1.5 m (5 ft) từ mặt đất.[7]

Chú thích

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên IUCN
  2. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  3. ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  5. ^ a ă
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  6. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  7. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật

Tham khảo

Bản mẫu:Taxonbar