Les Kurbas
Oleksandr-Zenon Stepanovych Kurbas (tiếng Ukraina: Олександр-Зенон Степанович Курбас; 25 tháng 2 năm 1887 – 3 tháng 11 năm 1937)[1][2] là một đạo diễn điện ảnh và sân khấu người Ukraina. Cùng với Vsevolod Meyerhold, Yevgeny Vakhtangov và một vài đạo diễn khác, ông góp phần thành lập nên kịch nghệ tiên phong Xô Viết những năm 1920 và 1930. Ông là một trong những đại diện nổi bật của phong trào nghệ thuật tiên phong Ukraina và được nhiều người coi là đạo diễn sân khấu người Ukraina quan trọng nhất thế kỉ 20. Ngoài ra, ông cũng được xem là một trong những nhân vật hàng đầu của thế hệ Văn hoá Phục hưng bị hành hình; ông bị hành quyết bởi chế độ Xô Viết trong cuộc Đại thanh trừng dưới thời kì cai trị của Stalin.[3]
Les Kurbas | |
|---|---|
| Kurbas vào k. 1908 Kurbas vào k. 1908 | |
| Tên bản ngữ | Лесь Курбас |
| Sinh | Oleksandr-Zenon Kurbas 25 tháng 2 năm 1887 Sambir, Galicia, Đế quốc Áo-Hung (hiện tại Ukraina) |
| Mất | 3 tháng 11 năm 1937 (50 tuổi) Sandarmokh, CHXHCNXV tự trị Karelia, Nga Xô viết, Liên Xô (hiện tại Cộng hòa Kareliya, Nga) |
| Nghề nghiệp | Đạo diễn sân khấu |
| Quốc tịch | Ukraina |
| Alma mater | Đại học Viên Đại học Lviv |
| Giai đoạn sáng tác | 1915–1933 |
| Giải thưởng nổi bật | Nghệ sĩ Nhân dân Ukraina (1925) |
Giai đoạn đầu
Kurbas sinh ra ở Sambir (lúc ấy là một phần của Đế quốc Áo-Hung) vào ngày 25 tháng 2 năm 1887, và được đặt tên kép Oleksandr-Zenon, viết tắt là Les hoặc Oles. Cha của ông, Stepan Pylypovych Kurbas (Yanovych) (1862–1908), là một diễn viên người Ruthenia xuất thân từ dòng dõi người Litva. Mẹ của ông, Vanda Adolfivna (khai sinh Kulczycka), ra đời tại Staryi Skalat, cũng là một nữ diễn viên, đồng thời là con gái của một người đàn ông Áo tên Adolf Teichman. Hai người được biết đến nhiều hơn qua nghệ danh chung (lấy họ Yanovych), đặc biệt trong quá trình làm việc tại rạp “Ruska besida”. Ngoài bản thân Les là con cả thì trong gia đình còn có thêm ba người con: Kornylo (mất 2 tháng 7 năm 1895), Nestor, và Nadia; tuy nhiên, không ai trong số họ sống sót qua giai đoạn tuổi thanh thiếu niên.
Ban đầu, Kurbas đã học tập tại nhà thi đấu Ternopil. Vào năm 1907, ông ghi danh vào Khoa Triết học của Đại học Viên, rời trường vào năm 1908 sau khi cha ông qua đời, rồi tiếp tục theo học tại Đại học Lviv từ năm 1908 đến 1910.[4] Quyết định này xuất phát từ nhu cầu dẫn dắt nền văn hoá Ukraina thoát khỏi tình trạng lạc hậu, bảo thủ mà nó đã rơi vào do hậu quả của một thế kỉ bị Ba Lan và Nga chiếm đóng.[cần dẫn nguồn]
Trong thời kỳ giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất, Kurbas đã thành lập nên nhà hát "Các buổi tối kịch Ternopil" (1915–1916)[4] và Molody Teatr (Nhà hát Trẻ) ở Kyiv vào năm 1916, là đoàn kịch đầu tiên thử nghiệm cả kỹ thuật diễn xuất mới lẫn cổ xưa. Kurbas đã chỉ đạo và đồng thời diễn trong các vở kịch như Revizor của Gogol và Oedipus Rex của Sophocles (được đánh giá cao và xem là quan trọng nhất). Do thiếu hụt nguồn lực và tình trạng hỗn loạn chính trị chung vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất, đoàn kịch đã bị giải tán. Cùng khoảng thời gian ấy, ông là giáo sư tại Viện Kịch nghệ Âm nhạc Kyiv từ năm 1916–1919, và sau đó là Viện Kịch nghệ Âm nhạc Kharkiv từ năm 1926–1933.[4] Vào năm 1920–21, Les Kurbas đã thành lập nên Nhà hát Kịch Kyiv "Kiydramte".[4]
Dự án lớn tiếp theo của Kurbas là Haydamaks (được dàn dựng nhiều lần từ năm 1920 trở đi), được dựa theo bài thơ về cuộc nổi dậy của người Ukraina chống lại sự chiếm đóng của Ba Lan vào thế kỷ XVIII của đại thi hào dân tộc Taras Shevchenko. Vở diễn này là tác phẩm sân khấu quan trọng nhất của Ukraina trong thế kỷ XX và vẫn được dàn dựng ngay cả sau khi Kurbas qua đời (cho dù tên ông không được nhắc tới). Ông đã tích hợp tất cả các kỹ thuật của thời kỳ ông còn theo đoàn kịch Nhà hát trẻ, đáng chú ý nhất là trong cách ông xử lý dàn hợp xướng.
Nhà hát kịch Berezil
Mãi đến năm 1922 thì tình hình ở Ukraina (lúc đó do Liên Xô cai trị) mới đủ ổn định để cho phép Kurbas thành lập đoàn kịch "Berezil" (tạm dịch: "mùa xuân" hay "khởi đầu mới") ở Kyiv. Cùng năm đó, Les Kurbas mời Vadym Meller cộng tác với tư cách là họa sĩ chính của Nhà hát "Berezil". Vadym Meller gia nhập đoàn với kinh nghiệm của cả một họa sĩ vẽ tranh lẫn nhà thiết kế sân khấu; những bức vẽ phóng khoáng, biểu cảm, đặc trưng trong các tác phẩm đầu tiên của ông sau này đã trở thành nền tảng và nguồn gốc của các vở kịch sân khấu cùng thực hiện với Les Kurbas. Từ năm 1922, Les Kurbas cũng làm việc cho Xưởng phim Odesa nơi ông đạo diễn các bộ phim như "Shvedskaya spichka" (1922), "Arsenaltsy" (1925) và những phim khác.[4] Năm 1925, Vadim Meller được trao huy chương vàng cho thiết kế sân khấu của nhà hát "Berezil" (Triển lãm Quốc tế Nghệ thuật Hiện đại, Paris). "Berezil" không chỉ đơn thuần là một nhà hát, mà còn là một học viện nghiên cứu mà cho đến nay vẫn gần như không có đối thủ về tổ chức. Mỗi khoa của nhà hát đều có các ủy ban và hội thảo riêng, và một số chi nhánh đã được thành lập ở các thành phố khác của Ukraina. "Berezil" không những thu hút những diễn viên xuất sắc nhất thời bấy giờ mà hàng chục diễn viên và đạo diễn tương lai của Ukraina còn được đào tạo, trải qua một chương trình giảng dạy bao gồm toàn bộ các kỹ thuật diễn xuất, bài tập nhịp điệu, luyện giọng và diễn tập nhóm tại đây. Kurbas hướng đến việc đặt nền tảng khoa học cho mọi sự phát triển tại "Berezil", và điều này đôi khi dẫn đến những cuộc tranh luận dai dẳng trong một trong các ủy ban. Ông viết (tạm dịch): "Hôm nay, hài kịch đã kết thúc. Diễn viên đã bước lên sân khấu, người duy nhất mà nhờ đó nhà hát tồn tại. Nhà hát - diễn đàn và màn trình diễn, cung đình và trường học, tư tưởng và sự điên rồ của con người mới".[cần dẫn nguồn]
Trong những năm đầu hoạt động, nhà hát đã phải chịu cảnh thiếu các vở kịch phù hợp để dàn dựng. Kurbas chỉ là một trong số nhiều đạo diễn thuộc nơi đây, và các tác phẩm mà ông dàn dựng vào thời điểm đó bao gồm "Khí độc" của tác giả người Đức Georg Kaiser và "Jimmy Higgins" của Upton Sinclair. Ông chủ yếu sử dụng các kỹ thuật biểu hiện đã phát triển trong thời kỳ thuộc Nhà hát Trẻ, nhưng lần này với sự cải thiện lên tổ chức nhịp điệu của toàn bộ vở diễn.
Năm 1927, Kurbas gặp gỡ nhà viết kịch trẻ triển vọng Mykola Kulish tại thủ đô Kharkiv của Ukraina lúc bấy giờ, nơi đoàn kịch "Berezil" chuyển đến vào năm 1926. Những vở kịch đầu tiên của Kulish đã được các nhà hát khác dàn dựng theo phong cách hiện thực Xô Viết, vốn trở thành tiêu chuẩn trên khắp Liên Xô trong những năm 1930. Trong quá trình cộng tác giữa hai người, tuy các vở diễn như "Những người Malakhii của Nhân dân" (1928), "Myna Mazailo" (1929) và "Maklena Grassa" (1933) đã thiết lập những tiêu chuẩn mới về diễn xuất tập thể và sự chặt chẽ về mặt kịch nghệ, chúng cũng vấp phải chính sách tuyên truyền chính thức của Liên Xô.
Dẫu vậy, Kurbas vẫn quyết tâm theo đuổi con đường của mình bất chấp những mối đe dọa ngày càng gia tăng. Năm 1930, ngay trước nạn đói nhân tạo ở Ukraina, Kurbas buộc phải dàn dựng vở kịch Dyktatura ("Chế độ độc tài") của nhà viết kịch người Ukraina Ivan Mykytenko. Vở kịch tuyên truyền này là một nỗ lực nhằm biện minh cho chính sách của Liên Xô mà đã dẫn đến nạn đói Holodomor và gây ra cái chết của hàng triệu người. Kurbas đã đảo ngược ý nghĩa của vở kịch, một kỹ thuật mà ông gọi là "tái mã hóa", và biến một cốt truyện hiện thực thành một vở opera châm biếm và bi kịch. Trong khi chính quyền coi vở diễn này là cơ hội cuối cùng để ông tuân phục và từ bỏ thái độ ngoan cố, Kurbas vẫn làm theo bản năng chính trị của mình. Bằng cách vạch trần bộ mặt thật của chế độ, ông cũng đã tự tay giáng đòn chí mạng vào nhà hát và chính bản thân mình. Kurbas viết (tạm dịch): "Tất cả chúng ta đều biết chế độ độc tài là gì, nhưng ít người trong chúng ta chú ý đến nó như một thực tế mang tính trí tuệ. Nhiệm vụ của mỗi diễn viên trong vở kịch là làm cho mỗi khán giả hiểu rằng bánh lái của lịch sử nằm trong tay chính họ."[cần dẫn nguồn]
Nhà hát Kịch Học thuật Ukraina Taras Schevchenko ở Kharkiv kế thừa truyền thống nghệ thuật của "Berezil".[5][6]
Bị giam cầm và hành quyết
Năm 1933, Kurbas bị trục xuất khỏi đoàn "Berezil". Ông được phép đến Moscow, nơi ông có lẽ là người đóng vai trò chính trong việc dàn dựng vở "Vua Lia" (1934) nổi tiếng của Solomon Mikhoels. Sau đó, vào năm 1933, ông bị bắt và đưa vào trại lao động (cũng như nhiều danh nhân văn hóa khác). Ngay cả trong những điều kiện này, Les Kurbas vẫn thể hiện tình yêu bất diệt của mình dành cho sân khấu. Giống như người bạn và đối thủ của ông, Vsevolod Meyerhold, sau này trong thời gian bị giam cầm, Kurbas đã tổ chức một nhà hát trong trại và thậm chí còn liên lạc với tác giả của một trong những vở kịch mà ông dàn dựng để thảo luận về các quyết định kịch nghệ.
Sau đó, Kurbas bị chuyển đến quần đảo Solovetsky xa xôi ở Biển Trắng, và là một trong những tù nhân "mất tích" được đưa trở lại đất liền năm 1937 từ quần đảo này. Hiện nay, người ta biết rằng ông đã bị xử bắn vào ngày 3 tháng 11 năm 1937 cùng với 289 trí thức Ukraina khác tại bãi giết người và nghĩa địa Sandarmokh gần Medvezhyegorsk, ở Karelia (Tây Bắc Nga),[7] một địa điểm được các thành viên của Hội Tưởng niệm phát hiện năm 1997.
Joseph Stalin đã trực tiếp ra lệnh giết hơn một nghìn nghệ sĩ và trí thức bị giam giữ trong trại giam Solovki. Bạn của Kurbas, Mykola Kulish, cũng đã chịu chung số phận này.
Sau khi Stalin qua đời, Kurbas được phục hồi danh dự vào năm 1957.[8]
Hậu thế
Nhà hát "Berezil" tiếp tục hoạt động dưới tên "Nhà hát Shevchenko". Một trong những diễn viên chính của Kurbas, Marjan Kurshelnytsky, đã dẫn dắt nhà hát cho đến những năm 1960 với điều kiện phải có nhiều thỏa hiệp về mặt nghệ thuật. Tác phẩm của Kurbas chỉ được nhắc đến trở lại từ những năm 1960 trở đi, nhưng việc nghiên cứu cần thiết chỉ bắt đầu vào cuối những năm 1980, chủ yếu ở Ukraina. Có một xu hướng trong nghiên cứu của Ukraina là tôn vinh Kurbas. Một số người viết tiểu sử ca ngợi ông cho rằng Kurbas là một thiên tài và là người đã dự đoán nhiều phát triển của sân khấu cuối thế kỷ 20 (một vài tác phẩm trong số những dự đoán ấy đã được thực hiện, ví dụ như trong tác phẩm Odin Teatret của đạo diễn người Ý Eugenio Barba). Theo một bài báo năm 2005 trích dẫn lời khai lưu trữ, Kurbas từng bày tỏ sự quan tâm đến một số khía cạnh của Cách mạng Bolshevik và cho rằng nó có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của văn hóa Ukraina.[9] Mục tiêu quan trọng nhất của ông với tư cách là một nghệ sĩ là “làm cho khán giả cảm thấy sống động hơn”.
Giải thưởng sân khấu
Giải Les Kurbas là giải thưởng sân khấu của Ukraina được đặt theo tên của ông đạo diễn nổi tiếng này.[10]
Tham khảo
- ^ "Kurbas, Les", in Encyclopedia of the History of the Ukraine (in Ukrainian)
- ^ "Kurbas Les", ABART database], Czech Ministry of Culture
- ^ "Les Kurbas. From revolution in the theater to execution for "bourgeois nationalism"".
- ^ a b c d e "Les Kurbas brief bio at Odesa film studio". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Berezil". www.encyclopediaofukraine.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Kharkiv Ukrainian Drama Theater". www.encyclopediaofukraine.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2022.
- ^ Sandarmokh. When the graves speak
- ^ Les Kurbas: the Revolutionary of the Theatre // The Ukrainian Week, 2012
- ^ Руслана Коцабы, Сергій Шевченко (ngày 29 tháng 10 năm 2005). "Лесь КУРБАС: «Силу нації не можуть вбити ніякі декрети»". День (bằng tiếng Ukraina). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2026.
- ^ "Про створення Державного центру театрального мистецтва імені Леся Курбаса". rada.gov.ua (bằng tiếng Ukraina). Верховна Рада України – Законодавство України. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2022.
- Irena R. Makaryk: Shakespeare in the Undiscovered Bourn: Les Kurbas, Ukrainian Modernism, and Early Soviet Cultural Politics, University of Toronto Press, 2004. ISBN 0-8020-8849-X
- The Last Address: Shooting executions of Solovki prisoners of Ukrainian origin in 1937–1938, Kyiv, Sfera, 2003. ISBN 966-7841-40-5 (Volume 1) ISBN 966-7841-68-5 (bằng tiếng Ukraina)
- Mayhill C. Fowler, Beau Monde on Empire's Edge: State and Stage in Soviet Ukraine FowlerMayhill C., Beau Monde on Empire's Edge: State and Stage in Soviet Ukraine, University of Toronto Press: Toronto, 2017; 304 pp.
Liên kết ngoài
- Trang của thành phố Kharkov trên Kurbas
- Bách khoa toàn thư Ukraina về Mykola Kulish
- Bách khoa toàn thư Ukraina về Berezil'
- Bách khoa toàn thư Ukraina về Vadym Meller
- Nhà hát Les Kurbas Lviv Lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2018 tại Wayback Machine
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).