Los Angeles
Los Angeles[lower-alpha 1] (thường được gọi tắt là LA) là thành phố đông dân nhất tại tiểu bang California và trung tâm thương mại, tài chính, văn hóa của Nam California. Với dân số ước tính là 3,88 triệu người trong ranh giới thành phố Bản mẫu:As of,[1] Los Angeles là thành phố đông dân thứ hai tại Hoa Kỳ, sau Thành phố New York, và thành phố lớn nhất tại Tây Hoa Kỳ. Los Angeles là một thành phố đa dân tộc, đa văn hóa và là thành phố chính của một vùng đô thị với dân số 12,9 triệu người (2024). Đại Los Angeles, một vùng thống kê kết hợp bao gồm Los Angeles và vùng đô thị Riverside–San Bernardino, là một đại đô thị với hơn 18,5 triệu cư dân.
Nền kinh tế Los Angeles đa dạng với nhiều ngành nghề. Thành phố là một trung tâm toàn cầu về điện ảnh và truyền hình,[2] nhưng đã giảm mạnh thị phần kể từ đại dịch COVID-19.[3] Cảng Los Angeles là một trong những cảng container sầm uất nhất của châu Mỹ.[4][5][6] Sau khi các doanh nghiệp rút khỏi trung tâm Los Angeles, khu vực trung tâm của thành phố đang phát triển thành một trung tâm văn hóa với bộ sưu tập kiến trúc lớn nhất thế giới do Frank Gehry thiết kế.[7] Năm 2024, tổng sản phẩm nội địa của vùng đô thị Los Angeles là hơn 1,295 nghìn tỷ đô la Mỹ,[8] là thành phố có GDP cao thứ ba trên thế giới, sau vùng đô thị New York và vùng đô thị Tokyo. Los Angeles đăng cai các Thế vận hội Mùa hè vào năm 1932, năm 1984 và sẽ đăng cai Thế vận hội Mùa hè năm 2028.
Nguồn gốc tên gọi
Thành phố được thành lập vào năm 1781 do người Tây Ban Nha tại México với tên là El Pueblo de Nuestra Señora Reina de los Ángeles de la Porciúncula ("Thị trấn của Đức Mẹ Nữ Vương của các Thiên thần của sông Porciúncula" trong tiếng Tây Ban Nha, porciúncula nghĩa là "phần nhỏ" và los Ángeles nghĩa là "những thiên thần").
Lịch sử
- Bài chính: Lịch sử Los Angeles, California
Khu vực bờ biển Los Angeles đã được cư dân Tongva (hay Gabrieleños), Chumash, và các bộ tộc của những người Thổ dân châu Mỹ sinh sống từ hàng ngàn năm. Những người châu Âu đầu tiên đến đây năm 1592, dẫn đầu là Juan Cabrillo - một người thám hiểm Bồ Đào Nha đã tuyên bố vùng đất này cho Đế quốc Tây Ban Nha nhưng không ở lại đó. Lần có người châu Âu tiếp xúc khu vực này là 227 năm sau khi Gaspar de Portolà cùng với Franciscan padre Juan Crespi, đã đến khu vực ngày nay là Los Angeles ngày 2 tháng 8 năm 1769.
Năm 1771, Cha Junípero Serra đã cho xây Mission San Gabriel Arcágel gần Whittier Narrows ở gần Thung lũng San Gabriel ngày nay. Ngày 4 tháng 9 năm 1781, một nhóm 52 người định cư từ Tân Tây Ban Nha là hậu duệ người châu Phi đã thiết lập phái đoàn San Gabriel để lập nên khu định cư dọc theo bờ của sông Porciúncula (ngày nay là sông Los Angeles). Những người định cư này có tổ tiên là người Philippines, Ấn Độ và Tây Ban Nha, 2/3 là người lai.
Năm 1777, thống đốc mới của tiểu bang California, Felipe de Neve, giới thiệu đến phó vương Tân Tây Ban Nha rằng nơi được phát triển thành tỉnh (thị trấn). Khu vực này được đặt tên là El Pueblo de Nuestra Señora la Reina de los Ángeles del Río de Porciúncula ("Thị trấn của Đức bà Nữ hoàng của các thiên thần của sông Porciúncula"). Nó vẫn là một thị trấn nhỏ trong nhiều thập kỷ, nhưng năm 1829 dân số đã tăng lên khoảng 650, khiến nó là cộng đồng dân sự lớn nhất ở California thuộc Tây Ban Nha. Ngày nay, outline của Pueblo vẫn được gìn giữ ở một tượng đài lịch sử quen được gọi là đường Olvera, trước đây là đường Rượu, được đặt tên theo Augustin Olvera.
Tân Tây Ban Nha đã giành được độc lập khỏi Đế quốc Tây Ban Nha năm 1821 và tỉnh vẫn tiếp tục là một phần của Mexico. Sự cai trị của Mexico đã chấm dứt trong Chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ, khi người Mỹ giành được quyền kiểm soát từ người Californio sau một loạt các cuộc chiến. Trận chiến San Pascual, Trận chiến Dominguez và sau cùng là Trận chiến Rio San Gabriel năm 1847. Hiệp ước Cahuenga được ký ngày 13 tháng 1 năm 1847, chấm dứt thu địch ở California và sau đó Hiệp ước Guadalupe Hidalgo (1848), chính phủ Mexico đã chính thức nhượng Alta California và các lãnh thổ khác cho Hoa Kỳ. Những người châu Âu và Mỹ đã củng cố sự kiểm soát thành phố sau khi họ di cư đến California trong Cơn sốt vàng California và đảm bảo sự gia nhập sau đó của California vào Hoa Kỳ năm 1850.
Đường sắt đã đến khi Công ty đường sắt Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific Railroad) đã hoàn thành tuyến đường sắt đến Los Angeles năm 1876. Dầu mỏ được phát hiện năm 1892 và đến năm 1923, Los Angeles đã cấp ¼ lượng dầu mỏ thế giới. Một nhân tố góp phần phát triển thành phố là nước. Năm 1913, William Mulholland hoàn thành đường ống dẫn nước đảm bảo cho sự tăng trưởng của thành phố. Năm 1915, Thành phố Los Angeles bắt đầu sáp nhập thêm hàng chục cộng đồng dân cư xung quanh không tự cấp nước cho chính mình được. Một tài khoản được tiểu thuyết hóa rộng của Chiến tranh nước thung lũng Owens có thể được tìm thấy trong phim điện ảnh phố Tàu năm 1974.
Trong thập niên 1920, phim hoạt hình và ngành hàng không đã đổ xô đến Los Angeles đã giúp thành phố phát triển. Thành phố này là nơi đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1932 chứng kiến sự phát triển của Đồi Baldwin là Làng Olympic ban đầu. Thời kỳ này cũng chứng kiến sự di dân đến của những người lưu vong từ các căng thẳng hậu chiến ở châu Âu, bao gồm những nhà quý tộc như Thomas Mann, Fritz Lang, Bertolt Brecht, Arnold Schoenberg và Lion Feuchtwanger. Chiến tranh thế giới thứ hai mang đến phát triển và thịnh vượng mới cho thành phố này, dù nhiều người Mỹ gốc Nhật bị chở đến các trại tập trung trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến. Thời kỳ hậu chiến chứng kiến một sự bùng nổ lớn hơn khi sự lan ra của đô thị đã mở rộng đến Thung lũng San Fernando. Những cuộc bạo loạn Watts năm 1965 và "cơn giận" của Trường trung học Chicano cùng với sự tạm đình chỉ Chicano đã cho thấy sự chia rẽ chủng tộc sâu sắc hiện hữu trong thành phố này. Năm 1969, Los Angeles đã là một trong hai "nơi sinh" ra Internet khi sự truyền ARPANET được gửi từ UCLA đến SRI ở Menlo Park, California. Thế vận hội Mùa hè 1984 đã được Los Angeles đăng cai năm 1984. Thành phố lại được thử thách qua Bạo loạn Los Angeles 1992 và Trận động đất Northridge 1994 và năm 2002 sự cố gắng ly khai của Thung lũng Fernando và Hollywood đã bị thất bại trong cuộc bỏ phiếu. Sự tái phát triển và sự sang trọng hóa đô thị đã diễn ra ở nhiều nơi trong thành phố, đặc biệt là trung tâm.
Địa lý
Tổng diện tích Los Angeles là 498,3 dặm vuông (1.290,6 km²), trong đó 469,1 dặm vuông (1.214.9 km²) là diện tích đất và 29,2 dặm vuông (75,7 km²) là diện tích mặt nước, diện tích mặt nước chiếm 5,86%. Khoảng các cực bắc và cực nam là 44 dặm (71 km), khoảng các giữa cực đông-tây là 29 dặm (47 km), và chiều dài của biên giới thành phố là 342 dặm (550 km). Diện tích đất lớn thứ 9 trong các thành phố của Hoa Kỳ lục địa. Điểm cao nhất của Los Angeles là Đỉnh Sister Elsie (5.080 feet) thuộc phía xa về phía Tây Bắc của Thung Lũng San Fernando thuộc một phần của rặng núi Lukens. Sông Los Angeles là một con sông phần lớn là theo mùa chảy xuyên qua thành phố có thượng nguồn ở Thung lũng San Fernando. Suốt chiều dài của sông hoàn toàn bị kè bằng bê tông. Vùng Los Angeles khá phong phú về các loài thực vật bản địa. Với những bãi biển, đụn cát, vùng đất ngập nước, đồi, núi và sông, khu vực này chứa đựng một số quần cư sinh vật quan trọng. Khu vực rộng nhất là thảm thực vật bụi cây xô thơm ven biển bao bọc các sườn đồi ở chaparral dễ bắt lửa. Các loại cây bản địa bao gồm: cây thuốc phiện California, cây thuốc phiện matilija, toyon, cây sồi bờ biển, cỏ lúa mạch đen hoang dã khổng lồ, và hàng trăm loại khác. Thật không may, nhiều loài cây bản địa quá hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng như hoa hướng dương Los Angeles,...
Có nhiều loài hoa lạ và những cây có hoa nở hoa quanh năm với màu sắc huyền ảo và đa dạng,...
Địa chất
Los Angeles chịu động đất do gần đường đứt gãy San Andreas, cũng như các rãnh đứt nhỏ hơn San Jacinto và Banning. Trận động đất lớn gần đây nhất là Trận động đất Northridge 1994, có tâm chấn ở phía Bắc Thung lũng San Fernando. Chưa đến 2 năm sau các vụ bạo loạn 1992, Trận động đất Northridge đã là một cú sốc lớn cho dân Nam California và gây thiệt hại vật chất lên đến hàng tỷ dollar Mỹ. Các trận động đất khác ở khu vực Los Angeles bao gồm Trận động đất Whittier Narrows 1987, Trận động đất Sylmar 1971, và Trận động đất Long Beach 1993. Tuy nhiên, phần lớn các trận động đất là khá nhỏ. Nhiều khu vực ở Los Angeles trải qua từ một đến hai trận động đất nhỏ mỗi năm nhưng không có thiệt hại. Các dư chấn rất khó cảm nhận mà chỉ thông qua máy đo địa chấn được ghi nhận hàng ngày. Nhiều phần của thành phố cũng dễ bị ảnh hưởng bởi sóng thần Thái Bình Dương; các khu vực bến cảng đã từng bị hư hại bởi các đợt sóng từ Trận động đất Đại Chile năm 1960.
Cảnh quan thành phố
Thành phố ban đầu được chia ra nhiều khu dân cư, nhiều trong số đó đã bị sáp nhập khi thành phố ngày càng được mở rộng. Cũng có nhiều thành phố độc lập bên trong và xung quanh Los Angeles, nhưng các thành phố này thường được xếp nhóm vào thành phố Los Angeles, do Los Angeles nuốt chửng hoặc nằm bên trong vùng lân cận của nó.
Nói chung, thành phố được chia ra các khu vực sau: Trung tâm L.A., Đông L.A., Nam Los Angeles, Khu vực Cảng, Hollywood, Wilshire, Westside, và San Fernando và các thung lũng Crescenta.
Một vài cộng đồng của Los Angeles bao gồm Bãi biển Venice...
Khí hậu
Các vấn đề môi trường
Do vị trí địa lý, ô tô là phương tiện chính và phức hợp cảng L.A./Long Beach, Los Angeles bị ô nhiễm không khí dưới dạng sương khói. Lòng chảo Los Angeles và Thung lũng San Fernando nhạy cảm với nghịch nhiệt, giữ lại khói của xe ô tô, xe tải chạy diesel, tàu thủy, và các động cơ đầu máy xe lửa cũng như công nghiệp chế tạo và các nguồn khác.[9]
Mùa sương khói kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10.[10] Trong khi những thành phố khác nhờ mưa để rửa sạch sương khói, Los Angeles chỉ nhận được 15 inches (380 mm) mưa mỗi năm, do đó sương khói có thể tích tụ liên tục mỗi ngày. Điều này đã khiến cho bang California tìm kiếm các loại xe cộ có chất thải ít. Nhờ đó, mức ô nhiễm đã giảm trong những thập kỷ gần đây. Ngoài ra, nước ngầm đang bị đe dọa gia tăng bởi MTBE từ các trạm xăng và perchlorat từ nhiên liệu tên lửa.
Chính trị
Los Angeles là một thành phố tự trị với hiến chương thay vì một thành phố do luật định. Hiến chương hiện tại của thành phố được ban hành vào ngày 8 tháng 6 năm 1999 và đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần.[11] Chính quyền địa phương được tổ chức theo mô hình chính quyền thị trưởng-hội đồng, gồm có Hội đồng Thành phố Los Angeles, thị trưởng Los Angeles, city attorney (khác với công tố viên địa phương, một chức danh quận) và kiểm toán thành phố. Thị trưởng đương nhiệm là Karen Bass.[12] Hội đồng Thành phố gồm có 15 thành viên.
Các sở, ban, ngành của thành phố bao gồm Sở Cảnh sát Los Angeles,[13] Hội đồng Ủy viên Cảnh sát Los Angeles,[14] Sở Cứu hỏa Los Angeles,[15] Cơ quan Quản lý Nhà ở Thành phố Los Angeles,[16] Sở Giao thông vận tải Los Angeles[17] và Thư viện công cộng Los Angeles.[18]
Kinh tế
Nền kinh tế Los Angeles dựa trên thương mại quốc tế, truyền hình giải trí, điện ảnh, công nghệ âm nhạc, không gian, công nghệ, dầu khí, thời trang, trang sức, du lịch. Los Angeles cũng là trung tâm chế tạo lớn nhất Hoa Kỳ. Cảng Los Angeles và cảng Long Beach cùng nhau tạo thành cảng quan trọng ở Bắc Mỹ và là một trong những cảng quan trọng của thế giới và có vai trò quan trọng đối với thương mại trong Vành đai Thái Bình Dương. Các ngành quan trọng khác bao gồm truyền thông, tài chính, viễn thông, luật, y tế, vận tải.
Trong nhiều năm, cho đến giữa thập niên 1990, Los Angeles là nơi đóng trụ sở của nhiều định chế tài chính ở Tây Hoa Kỳ, bao gồm First Interstate Bank, đã được sáp nhập với Wells-Fargo năm 1996, Great Western Bank, sáp nhập với Washington Mutual năm 1998, và Security Pacific National Bank, sáp nhập với Bank of America năm 1992. Los Angeles cũng là nơi đóng trụ sở của Sở giao dịch chứng khoán Pacific cho đến khi ngưng hoạt động năm 2001.
Vùng đô thị Los Angeles có tổng sản phẩm nội địa 1.000 tỷ đô la Mỹ vào năm 2017,[19] là vùng đô thị kinh tế lớn thứ 3 thế giới, sau các vùng đô thị Tokyo và New York.[19] Los Angeles được xếp hạng là "thành phố toàn cầu alpha" theo một nghiên cứu năm 2012 bởi một nhóm tại Đại học Loughborough.[20]
Thành phố này là nơi đóng trụ sở của 3 công ty nằm trong Fortune 500 bao gồm nhà thầu không gian Northrop Grumman, công ty năng lượng Occidental Petroleum Corporation, và công ty xây nhà ở KB Home. Đại học Nam California (USC) là đơn vị tư nhân thuê nhân công lớn nhất thành phố.
Các công ty đóng trụ sở ở Los Angeles bao gồm Twentieth Century Fox, Latham & Watkins, Univision, Metro Interactive, LLC, Premier America, CB Richard Ellis, Gibson, Dunn & Crutcher LLP, Guess?, O'Melveny & Myers LLP, Paul, Hastings, Janofsky & Walker LLP, Tokyopop, The Jim Henson Company, Paramount Pictures, Robinsons-May, Sunkist, Fox Sports Net, Health Net, Inc., 21st Century Insurance, L.E.K. Consulting, và The Coffee Bean & Tea Leaf.
Vùng đô thị có trụ sở của nhiều công ty khác, nhiều trong số đó muốn rời khỏi thành phố để tránh thuế má cao. Ví dụ, Los Angeles đánh thuế tổng cộng trên phần trăm doanh thu kinh doanh, trong khi các thành phố xung quanh chỉ đánh một mức tỷ lệ cố định nhỏ. Do đó các công ty gần thành phố này tránh được thuế cao. Một vào công ty đóng ở Hạt Los Angeles là Shakey's Pizza (Alhambra), Academy of Motion Picture Arts and Sciences (Beverly Hills), City National Bank (Beverly Hills), Hilton Hotels (Beverly Hills), DiC Entertainment (Burbank), The Walt Disney Company (Fortune 500 – Burbank), Warner Bros. (Burbank), Countrywide Financial Corporation (Fortune 500 – Calabasas), THQ (Calabasas), Belkin (Compton), Sony Pictures Entertainment (parent of Columbia Pictures, located in Culver City), Computer Sciences Corporation (Fortune 500 – El Segundo), DirecTV (El Segundo), Mattel (Fortune 500 – El Segundo), Unocal (Fortune 500 – El Segundo), DreamWorks SKG (Glendale), Sea Launch (Long Beach), ICANN (Marina Del Rey), Cunard Line (Santa Clarita), Princess Cruises (Santa Clarita), Activision (Santa Monica), và RAND (Santa Monica).
Nhân khẩu
Tổng dân số, độ tuổi và giới tính
Theo kết quả thống kê dân số Hoa Kỳ năm 2020, dân số Los Angeles là 3.898.747 người.[21] Mật độ dân số là 8.304,2 người trên dặm vuông (3.168 người trên km vuông). 5,2% dân số dưới 5 tuổi, 19,5% dân số dưới 18 tuổi và 13,8% dân số trên 65 tuổi.[21] 50,2% dân số là nữ.[21]
Ngôn ngữ
Hơn 200 ngôn ngữ được sử dụng tại Los Angeles. Theo kết quả Khảo sát cộng đồng Mỹ năm 2021 của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, 56,8% dân số thành phố trên 5 tuổi sử dụng một ngôn ngữ không phải là tiếng Anh tại nhà.[22]
Chủng tộc
Theo dữ liệu năm 2023 của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, 47,2% dân số Los Angeles là người gốc Hispano và Latino, 28,3% là người da trắng không phải gốc Hispano, 8,5% là người gốc Phi, 12,0% là người gốc Á, 1,2% là người Mỹ bản địa và 0,1% là người gốc Quần đảo Thái Bình Dương.[23]
Tôn giáo
Bản mẫu:Bar boxTheo một nghiên cứu năm 2014 của Trung tâm Nghiên cứu Pew, 65% dân số Los Angeles theo Kitô giáo.[24][25] Tổng giáo phận Los Angeles là tổng giáo phận lớn nhất tại Hoa Kỳ.[26] Hồng y, Tổng giám mục Roger Mahony giám sát việc xây dựng Nhà thờ chính tòa Nữ vương thiên đàng tại trung tâm Los Angeles, khánh thành vào năm 2002.[27]
Thu nhập
Khoảng 66,5% dân số trên 16 tuổi của Los Angeles tham gia lực lượng lao động, trong khi tỷ lệ đối với phụ nữ trên 16 tuổi là 61,0%.[21] Năm 2022, ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống thu về 17.366.966 đô la Mỹ, ngành y tế và hỗ trợ xã hội thu về 46.297.839 đô la Mỹ, ngành vận tải và kho bãi thu về 25.410.257 đô la Mỹ, ngành bán lẻ thu về 81.351.523 đô la Mỹ. Người dân Los Angeles chi trung bình 21.281 đô la Mỹ cho mua sắm bán lẻ mỗi năm.[21] Từ năm 2019 đến năm 2023, thu nhập hộ gia đình trung bình tại Los Angeles là 80.366 đô la Mỹ (giá trị năm 2023), trong khi thu nhập bình quân đầu người trong 12 tháng qua là 46.270 đô la Mỹ.[21] 16,5% dân số Los Angeles có thu nhập dưới chuẩn nghèo liên bang.[21]
Vô gia cư
Đến tháng 1 năm 2024, có 45.252 người vô gia cư tại Los Angeles, chiếm 60% tổng số người vô gia cư tại Quận Los Angeles,[28] giảm 2,2% so với năm 2023 (giảm 0,3% so với tổng số người vô gia cư tại Quận Los Angeles).[29][30] Tâm điểm của tình trạng vô gia cư tại Los Angeles là khu dân cư Skid Row, có 8.000 người vô gia cư, một trong những khu vực vô gia cư ổn định nhất tại Hoa Kỳ.[31][32] Nguyên nhân của tỷ lệ vô gia cư gia tăng tại Los Angeles được cho là do thiếu nhà ở giá cả hợp lý[30] và lạm dụng chất.[33] Gần 60% trong số 82.955 người mới vô gia cư vào năm 2019 nói rằng họ vô gia cư vì khó khăn kinh tế.[29] Tại Los Angeles, người da đen có nguy cơ vô gia cư gấp khoảng bốn lần.[29][34]
Văn hóa
Los Angeles thường được quảng bá là thủ đô sáng tạo của thế giới. Một trong sáu cư dân thành phố làm việc trong lĩnh vực sáng tạo[35] và có nhiều nghệ sĩ, nhà văn, nhà làm phim, diễn viên, vũ công và nhạc sĩ sinh sống, làm việc tại Los Angeles hơn bất cứ thành phố nào khác trong lịch sử thế giới.[36] Văn hóa Los Angeles chịu ảnh hưởng mạnh của văn hóa México do California từng là một phần của México và trước đó là Đế quốc Tây Ban Nha.[37] Los Angeles cũng nổi tiếng vì những bức tranh tường phong phú.[38]
Thể thao
Giáo dục
Có nhiều trường đại học và cao đẳng công ở thành phố này, bao gồm Đại học California, Los Angeles, Đại học Tiểu bang California, Los Angeles, và Đại học Tiểu bang California, Northridge. Các trường đại học công gần Los Angeles bao gồm: Đại học Tiểu bang California, Long Beach, Đại học Tiểu bang California, Dominguez Hills và Bách khoa Cali Pomona.
Các thành phố kết nghĩa
Los Angeles có 25 thành phố kết nghĩa,[39] được liệt kê theo thứ tự thời gian theo năm đã tham gia: Bản mẫu:Colbegin
- Bản mẫu:Country data ISR Eilat, Israel (1959)
- Tập tin:Flag of Japan.svg Nagoya, Nhật Bản (1959)
- Bản mẫu:Country data BRA Salvador, Brazil (1962)
- Bản mẫu:Country data FRA Bordeaux, Pháp (1964)[40][41]
- Bản mẫu:Country data DEU Berlin, Đức (1967)[42]
- Bản mẫu:Country data ZMB Lusaka, Zambia (1968)
- Bản mẫu:Country data MEX Thành phố Mexico, Mexico (1969)
- Bản mẫu:Country data NZL Auckland, New Zealand (1971)
- Bản mẫu:Country data ROK Busan, Hàn Quốc (1971)
- Bản mẫu:Country data IND Mumbai, Ấn Độ (1972)
- Bản mẫu:Country data IRN Tehran, Iran (1972)
- Bản mẫu:Country data ROC Đài Bắc, Đài Loan (1979)
- Bản mẫu:Country data PRC Quảng Châu, Trung Quốc (1981)[43]
- Bản mẫu:Country data GRC Athens, Hy Lạp (1984)
- Bản mẫu:Country data RUS Saint Petersburg, Nga (1984)
- Bản mẫu:Country data CAN Vancouver, Canada (1986)[44]
- Bản mẫu:Country data EGY Giza, Ai Cập (1989)
- Bản mẫu:Country data IDN Jakarta, Indonesia (1990)
- Bản mẫu:Country data LTU Kaunas, Litva (1991)
- Bản mẫu:Country data PHL Makati, Philippines (1992)
- Bản mẫu:Country data CRO Split, Croatia (1993)[45]
- Bản mẫu:Country data SLV San Salvador, El Salvador (2005)
- Bản mẫu:Country data LBN Beirut, Liban (2006)
- Bản mẫu:Country data ITA Ischia, Campania, Ý (2006)
- Bản mẫu:Country data ARM Yerevan, Armenia (2007)[46]
Xem thêm
Ghi chú
Tham khảo
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênQuickFacts - ^ Maddaus, Gene. "Los Angeles Remains Top Filming Site as Global Production Volume Shrinks". Variety. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2026.
- ^ Josh Rottenberg (ngày 24 tháng 6 năm 2024). "Hollywood's exodus: Why film and TV workers are leaving Los Angeles". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2024.
- ^ LaRocco, Lori Ann (ngày 24 tháng 9 năm 2022). "New York is now the nation's busiest port in a historic tipping point for U.S.-bound trade". CNBC (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Port of NYNJ Beats West Coast Rivals with Highest 2023 Volumes". The Maritime Executive (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Port of New York and New Jersey Remains US' Top Container Port". www.marinelink.com. ngày 28 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
- ^ Roger Vincent (ngày 12 tháng 4 năm 2024). "Downtown L.A. is hurting. Frank Gehry thinks arts can lead a revival". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2024.
- ^ "Gross Domestic Product by County and Metropolitan Area". FRED. Federal Reserve Bank of St Louis. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ^ Stimson, Thomas E. (tháng 7 năm 1955). "What can we do about smog?". Popular Mechanics: 65. ISSN 0032-4558. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Smog Hangs Over Olympic Athletes". New Scientist: 393. ngày 11 tháng 8 năm 1983. ISSN 0262-4079. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Los Angeles, California Code Resources". American Legal Publishing. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015.
- ^ "About Mayor Karen Bass". Mayor of Los Angeles. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Los Angeles Police Department". lapdonline.org. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Police Commission – LAPD Online". lapdonline.org. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Los Angeles Fire Department". lafd.org. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Housing Authority of the City of Los Angeles – Services Locator lacounty.gov". locator.lacounty.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ "LADOT: Welcome – Los Angeles". ladot.lacity.org. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Los Angeles Public Library Website". Los Angeles Public Library. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2022.
- ^ a ă "Table 3.1. GDP & Personal Income". U.S. Bureau of Economic Analysis. 2018. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2019.
- ^ "The World According to GaWC 2012". Globalization and World Cities Research Network. Loughborough University. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014.
- ^ a ă â b c d đ "U.S. Census Bureau QuickFacts: Los Angeles city, California". U.S. Census Bureau QuickFacts. ngày 11 tháng 2 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2025.
- ^ "American Community Survey - S1601 - LANGUAGE SPOKEN AT HOME". United States Census Bureau (bằng tiếng English). Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ "QuickFacts Los Angeles city, California". United States Census Bureau. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Religious Landscape Study: Adults in the Los Angeles Metro Area". Pew Research Center. 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2023.
- ^ "America's Changing Religious Landscape". Pew Research Center: Religion & Public Life. ngày 12 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015.
- ^ Pomfret, John (ngày 2 tháng 4 năm 2006). "Cardinal Puts Church in Fight for Immigration Rights". Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011.
- ^ Stammer, Larry B.; Becerra, Hector (ngày 4 tháng 9 năm 2002). "Pomp Past, Masses Flock to Cathedral". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2011.
- ^ "2024 Greater Los Angeles Homeless Count Results (Long Version)" (PDF). lahsa.org. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
- ^ a ă â Cowan, Jill (ngày 12 tháng 6 năm 2020). "What Los Angeles's Homeless Count Results Tell Us". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2020.
- ^ a ă Cowan, Jill (ngày 5 tháng 6 năm 2019). "Homeless Populations Are Surging in Los Angeles. Here's Why". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2020.
- ^ Holland, Gale; Zahniser, David (ngày 29 tháng 5 năm 2019). "L.A. agrees to let homeless people keep skid row property — and some in downtown aren't happy". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
- ^ Cristi, Chris (ngày 13 tháng 6 năm 2019). "LA's homeless: Aerial view tour of Skid Row, epicenter of crisis". ABC7. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
- ^ Doug Smith; Benjamin Oreskes (ngày 7 tháng 10 năm 2019). "Are many homeless people in L.A. mentally ill? New findings back the public's perception". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2022.
- ^ "2823 – Report And Recommendations Of The Ad Hoc Committee On Black People Experiencing Homelessness". www.lahsa.org. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Is Los Angeles really the creative capital of the world? Report says yes". SmartPlanet. ngày 19 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Only In LA: Tapping L.A. Innovation". University of Southern California. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011.
- ^ Hayoun, Massoud. "Mexican LA: History, culture and resistance". Al Jazeera. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2025.
- ^ Shatkin, Elina (ngày 28 tháng 8 năm 2013). "Let the Renaissance Begin: L.A. Votes to Lift Mural Ban". Los Angeles Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Sister Cities of Los Angeles". Sister Cities Los Angeles. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Bordeaux– Rayonnement européen et mondial". Mairie de Bordeaux (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013.
- ^ "Bordeaux-Atlas français de la coopération décentralisée et des autres actions extérieures". Délégation pour l'Action Extérieure des Collectivités Territoriales (Ministère des Affaires étrangères) (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013.
- ^ "Berlin City Partnerships". Der Regierende Bürgermeister Berlin. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2013.
- ^ "Guangzhou Sister Cities". Guangzhou Foreign Affairs Office. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013.
- ^ "Vancouver Twinning Relationships" (PDF). City of Vancouver. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009.
- ^ "Gradovi prijatelji Splita" [Split Twin Towns]. Grad Split [Split Official City Website] (bằng tiếng Croatia). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Yerevan Twin Towns & Sister Cities". Yerevan Municipality Official Website. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013.
Thư mục
- Carey McWilliams (2009). Southern California: An Island on the Land (ấn bản thứ 9). Peregrine Smith. ISBN 9780879050078.
- Richard White (1991). It's Your Misfortune and None of My Own: A New History of the American West. University of Oklahoma Press. ISBN 9780806125671.
- David Rieff (1992). Los Angeles: Capital of the Third World. Touchstone. ISBN 9780671792107.
- Peter Theroux (1994). Translating LA: A Tour of the Rainbow City. Norton. ISBN 9780393313949.
- Paul Glover (1995). Los Angeles: A History of the Future. Greenplanners. ISBN 9780962291104.
- Leonard Pitt & Dale Pitt (2000). Los Angeles A to Z: An Encyclopedia of the City and County. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520205307.
- Kevin Starr and David Ulin (2009). Jim Heimann (biên tập). Los Angeles: Portrait of a City. Taschen America. ISBN 9783836502917.
- Reyner Banham (2009). Los Angeles: The Architecture of Four Ecologies (ấn bản thứ 2). Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520260153.
- Mike Davis (2006). City of Quartz: Excavating the Future in Los Angeles. Verso. ISBN 9781844675685.
- Robert M. Fogelson (1993). The Fragmented Metropolis: Los Angeles 1850–1930. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520082304.
- Norman M. Klein (1997). The History of Forgetting: Los Angeles and the Erasure of Memory. Verso. ISBN 9781844672424.
- Sam Hall Kaplan (2000). L.A. Lost & Found: An Architectural History of Los Angeles. Hennessey and Ingalls. ISBN 9780940512238.
- Torin Monahan (2002). "Los Angeles Studies: The Emergence of a Specialty Field". City & Society. Quyển XIV số 2. tr. 155–184. (available online)
- Acuña, Rodolfo (1996). Anything but Mexican: Chicanos in contemporary Los Angeles. Verso. ISBN 978-1-85984-031-3. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011.
- Lynell George (1992). No Crystal Stair: African Americans in the City of Angels. Verso. ISBN 9780860913894.
- Josh Sides (2006). L.A. City Limits: African American Los Angeles from the Great Depression to the Present. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520248304.
- Eduardo Obregón Pagán (2006). Murder at the Sleepy Lagoon: Zoot Suits, Race, and Riot in Wartime L.A. The University of North Carolina Press. ISBN 9780807854945.
- R. J. Smith (2007). The Great Black Way: L.A. in the 1940s and the Last African American Renaissance. PublicAffairs. ISBN 9781586485214.
- Lillian Faderman and Stuart Timmons (2006). Gay L. A.: A History of Sexual Outlaws, Power Politics, And Lipstick Lesbians. Basic Books. ISBN 046502288X.
- Daniel Hurewitz (2007). Bohemian Los Angeles: and the Making of Modern Politics. Berkeley: University of California Press. ISBN 0520249259.
- Marc Reisner (1986). Cadillac Desert: The American West and its Disappearing Water. Penguin Books. ISBN 9780140178241.
- Chip Jacobs and William Kelly (2008). Smogtown: The Lung-Burning History of Pollution in Los Angeles. Outlook Hardcover. ISBN 1585678600.
- David L. Ulin, biên tập (2002). Writing Los Angeles: A Literary Anthology. Library of America. ISBN 9781931082273.
- Cécile Whiting (2008). Pop L.A.: Art and the City in the 1960s. Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520256347.
Liên kết ngoài
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Tìm kiếm Wikiquote | Danh ngôn từ Wikiquote |
| Tìm kiếm Wikivoyage | Cẩm nang du lịch guide từ Wikivoyage |
- City of Los Angeles Official Website
- ExperienceLA.com
- Los Angeles Chamber of Commerce Lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2011 tại Wayback Machine
- Los Angeles Convention & Visitors Bureau
- Los Angeles magazine
- Los Angeles Neighborhood Councils Lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2010 tại Wayback Machine
- Los Angeles Online Magazine LA2day
- Historic Bridges of Los Angeles County Lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine
Bản mẫu:California Bản mẫu:Thành phố lớn của Hoa Kỳ Bản mẫu:Danh sách vùng đô thị đông dân nhất thế giới