Mèo Đông Kinh
Mèo Đông Kinh là một giống mèo nhà được tạo nên bằng cách lai giống giữa mèo Xiêm và mèo Miến Điện. Thành viên thuộc giống mèo này được phân biệt bằng hoa văn lông điểm xuyết với màu sắc đa dạng. Bên cạnh màu lông có sự biến đổi theo kiểu "nâu chồn", tức màu điểm xuyết pha loãng, giống mèo này hiện mang màu sắc cơ bản giống như mèo Xiêm và mèo Miến Điện: điểm xuyết với màu trắng và tổng thể thuần sắc (nâu mực).
| Mèo Đông Kinh | |
|---|---|
| Tập tin:Tonkinese Cat - Leo.jpg Mèo Đông Kinh đực | |
| Biệt danh thông thường | Tonk |
| Nguồn gốc | |
| Tiêu chuẩn giống | |
| CFA | tiêu chuẩn |
| TICA | tiêu chuẩn |
| ACF | tiêu chuẩn |
| ACFA/CAA | tiêu chuẩn |
| CCA-AFC | tiêu chuẩn |
| GCCF | tiêu chuẩn |
| Mèo nhà (Felis catus) | |
Giống mèo nổi tiếng nhất là mèo Đông Kinh lông ngắn, nhưng cũng có giống mèo lông dài vừa phải (đôi khi được gọi là mèo Tây Tạng) phổ biến hơn ở châu Âu, chủ yếu ở Hà Lan, Đức, Bỉ, Luxembourg và Pháp.
Lịch sử
Nguồn gốc
Giống mèo Đông Kinh hiện đại là sự tái tạo một giống mèo được đưa đến phương Tây vào thế kỷ 19.[1] Những con mèo này ban đầu được gọi là 'mèo Xiêm socola'.[2] Người nuôi mèo nhập khẩu từ Malaysia nhận ra một số con mèo có cặp mắt xanh ngọc và lông sẫm màu hơn mèo Xiêm. Năm 1901, Câu lạc bộ Mèo Xiêm đã công nhận chúng là mèo Xiêm thuộc kiểu 'socola'. [1]
Nhiều con mèo được dùng để tạo nên giống mèo Xiêm và mèo Miến Điện ở phương Tây được cho là mèo Đông Kinh, bao gồm cả Wong Mau. Mèo Đông Kinh vẫn được nhân giống nhưng được đăng ký là mèo Miến Điện hoặc mèo Xiêm. Mãi đến những năm 1950, giới nhân giống mới bắt đầu quan tâm đến giống mèo này. Người nhân giống đã hợp tác cùng nhau để phát triển các dòng giống với số mèo này và đến năm 1965, mèo Đông Kinh được công nhận ở Canada là một giống riêng biệt — từ đó tên gọi này ra đời.[1]
Mèo Đông Kinh hiện đại hơn là kết quả của chương trình lai giống của hai nhà nhân giống làm việc độc lập với nhau. Margaret Conroy, người Canada, và Jane Barletta, người Hoa Kỳ, đã lai giống mèo Xiêm và mèo Miến Điện, với mục đích tạo nên sự kết hợp lý tưởng giữa ngoại hình đặc trưng và tính cách hoạt bát từ cả hai giống bố mẹ. Những con mèo sinh ra theo cách này đã được chuyển từ phân loại lai giống sang một giống mèo chính thức vào năm 2001.[2] Tên gọi này gợi nhắc đến vùng Đông Kinh của Đông Dương, mặc dù chỉ mang tính gợi ý, vì giống mèo này không có liên hệ gì với khu vực trên.[2]
Ở phương Tây, mèo Đông Kinh dưới sáu tháng tuổi theo truyền thống được gọi là "mèo nhỏ" thay vì "mèo con" để phản ánh bản dịch trực tiếp hơn từ tiếng Miến Điện, mặc dù thuật ngữ này gần như đã lỗi thời kể từ giữa thế kỷ 20.
Công nhận giống
Giống mèo này đã đạt được danh hiệu quán quân với Hiệp hội người yêu mèo vào năm 1984.[3] Hội đồng quản trị mèo cảnh (GCCF) đã công nhận giống mèo này vào năm 1991. Ngày nay, giống mèo này được công nhận ở hầu hết châu Âu, Úc, New Zealand, Hồng Kông, Nhật Bản và Nam Phi. Hơn 30 quốc gia có hình ảnh mèo Đông Kinh trên tem bưu chính.[1]
Mô tả
Diện mạo
Mèo Đông Kinh là một giống mèo cỡ trung bình, được xem là kiểu trung gian giữa mèo Xiêm hiện đại mảnh mai, thân dài và mèo Miến Điện-châu Âu với mèo Miến Điện-Mỹ "mập mạp" hơn, hoặc có cấu trúc chắc nịch hơn. Giống như tổ tiên Miến Điện của chúng, chúng có cơ bắp trông có vẻ nặng hơn nhiều so với dự tính khi được bế lên. Đuôi và chân thon nhưng cân đối với cơ thể, với bàn chân hình bầu dục đặc trưng. Chúng có đầu tròn nhẹ, hơi hình nêm và mõm tù, mắt có hình quả hạnh vừa phải và tai hướng ra phía ngoài đầu.[2]
Kiểu Mỹ có đặc điểm là đầu tròn nhưng tinh xảo với thân ngắn hơn và vẻ ngoài rắn chắn hơn, phản ánh kiểu dáng cổ điển của mèo Xiêm và mèo Miến Điện tròn trịa, nguồn gốc lai tạo ban đầu ở Mỹ. Mặc dù nhiều nhà lai giống Mỹ đã tránh sử dụng kiểu mèo Miến Điện "hiện đại" thái quá để ủng hộ kiểu mèo Miến Điện "truyền thống" ôn hòa hơn, nhưng tiêu chuẩn giống mèo Đông Kinh ban đầu lại dựa trên kiểu dáng tròn trịa thái quá của mèo Miến Điện có nguồn gốc từ Wong Mau.
Bộ lông và màu sắc
Giống mèo Đông Kinh có nhiều màu sắc khác nhau được liệt kê bên dưới.
- Đen (còn được người sành nuôi hoặc các tổ chức khác nhau gọi là “nâu”, “hải cẩu” hoặc “tự nhiên”)
- Xanh lam
- Socola (còn được gọi là “sâm panh”)
- Hoa cà (còn được gọi là “bạch kim”)
- Quế
- Nâu vàng
- Đỏ
- Kem
- Các thành phần pha loãng bổ sung (bao gồm “caramel”, “quả mơ”)
Mỗi màu lông cũng có ba biến thể về kiểu họa tiết điểm màu trên lông:
- "điểm xuyết" là đặc điểm cổ điển của mèo Xiêm: mặt, tai, chân và đuôi sẫm màu trên nền trắng hoặc kem tương phản, cùng với đôi mắt xanh lam;
- "thuần sắc" hoặc "nâu mực", tương tự như giống mèo Miến Điện, trong đó màu sắc về cơ bản đồng đều trên toàn thân với chỉ những điểm mờ nhạt và mắt có màu hổ phách hoàng kim hoặc xanh lục;
- "nâu chồn", một màu trung gian độc đáo giữa hai màu kia, trong đó màu nền mang sắc thái nhạt hơn nhưng vẫn hài hòa với màu điểm xuyết và mắt có màu xanh lục-lam nhạt hơn, được gọi là xanh berin.[2] Chúng có thể nằm ở bất kỳ đâu trên toàn bộ phổ xanh lục-lam đến xanh lam-lục.
Ngoài ra, tất cả màu đều có thể xuất hiện trong các kiểu hoa văn đồi mồi hoặc vằn.[4]
- Ví dụ về mèo Đông Kinh có màu sắc khác nhau
-
nâu chồn xanh lam, lông bán dài
-
nâu chồn vằn xanh lam
-
nâu chồn đỏ
-
nâu chồn đồi mồi socola
-
Mèo con nâu chồn hoa cà (trên) và điểm xuyết hoa cà (dưới), chú ý đến màu mắt khác nhau.
-
Mèo con nâu chồn socola và điểm xuyết đen
Công nhận màu sắc và hoa văn
Tùy thuộc vào cơ quan đăng ký mèo, không phải tất cả các màu sắc và hoa văn đều được cho phép đối với giống mèo Đông Kinh. Mèo Đông Kinh hiện được Hiệp hội người yêu mèo (CFA) và Liên đoàn mèo thế giới (WCF)[5] chính thức công nhận chỉ với bốn màu cơ bản: đen (nâu, hải cẩu, tự nhiên), xanh lam, socola (sâm panh) và hoa cà (bạch kim). Cả bốn màu cơ bản đều được thừa nhận cho ba kiểu màu điểm. GCCF chấp nhận màu nâu, xanh lam, socola, hoa cà, quế và nâu vàng, đỏ, kem, cộng thêm caramel và mơ. Những màu này được cho phép trong kiểu hoa văn đồi mồi và vằn, và ngoài ra còn có ba kiểu hoa văn điểm màu.[4] Tương tự như GCCF, Hiệp hội mèo quốc tế (TICA) chấp nhận tất cả màu sắc và hoa văn có thể về mặt di truyền.[6]
Tính cách
Giống như cả hai giống bố mẹ, mèo Đông Kinh có tính năng động, hay kêu và thường hướng về con người, thích chơi đùa và quan tâm đến mọi thứ diễn ra xung quanh; tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là chúng dễ bị cô đơn hoặc buồn chán. Giọng của chúng có âm sắc tương tự như mèo Miến Điện, dai dẳng nhưng nhẹ nhàng và ngọt ngào hơn mèo Xiêm, tương tự tiếng quác nhẹ của một con vịt. Giống như mèo Miến Điện, mèo Đông Kinh được cho đôi khi có những hành vi giống chó như tha gom đồ vật và thích bật nhảy lên độ cao lớn.[7]
Thể chất
Trong một nghiên cứu tổng quan năm 2012 về hơn 5.000 ca sỏi tiết niệu do urat, giống mèo Đông Kinh chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ có một ca được ghi nhận thuộc giống mèo này trong tổng số 365 ca.[8]
Di truyền học
Mèo Đông Kinh là giống lai, màu lông và hoa văn hoàn toàn phụ thuộc vào việc cá thể đó mang gen Xiêm hay gen Miến Điện. Lai tạo hai con mèo Đông Kinh nâu chồn thường không tạo ra một lứa mèo con hoàn toàn có màu nâu chồn, vì kiểu hình trung gian này là kết quả khi có một gen cho kiểu hình đơn sắc của Miến Điện và một gen cho kiểu hình điểm xuyết của Xiêm.[9]
Màu sắc và hoa văn trong bất kỳ lứa nào đều phụ thuộc vào cả yếu tố ngẫu nhiên thống kê và di truyền màu sắc cũng như hoa văn của bố mẹ. Lai giữa hai con mèo có hoa văn nâu chồn sẽ, khoảng trung bình, tạo ra nửa số mèo con màu nâu chồn và một phần tư số mèo con điểm xuyết và nâu mực. Lai giữa một con mèo điểm xuyết và một con mèo nâu mực sẽ luôn tạo ra toàn bộ mèo con có hoa văn nâu chồn. Lai giữa một con mèo điểm xuyết với một con mèo nâu chồn sẽ tạo ra nửa số mèo con điểm xuyết và nửa số mèo con nâu chồn. Lai giữa một con mèo nâu mực với một con mèo nâu chồn sẽ tạo ra nửa số mèo con nâu mực và nửa số mèo con nâu chồn.[9]
Tham khảo
- ^ a b c d "Tonkinese". Governing Council of the Cat Fancy. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2024.
- ^ a b c d e Houle, Tori (ngày 15 tháng 12 năm 2014). "The Tonkinese". Pet Health Network (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2020.
- ^ "Cat Fancier's Association: Breed Profile: Tonkinese". Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2024.
- ^ a b "Tonkinese Standard" (PDF). Governing Council of the Cat Fancy. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2024.
- ^ "WCF - World Cat Federation". wcf.info. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2023.
- ^ The International Cat Association (ngày 1 tháng 5 năm 2004). "TICA: Tonkinese Breed Standard" (PDF). www.tica.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2024.
- ^ Helgren, J. Anne (1997). "6: The Recognized Breeds". Encyclopedia of Cat Breeds. Barron's Educational Series, Inc. tr. 220. ISBN 0-7641-5067-7.
- ^ Albasan, H.; Osborne, C. A.; Lulich, J. P.; Lekcharoensuk, C. (2012). "Risk factors for urate uroliths in cats". Journal of the American Veterinary Medical Association. 240 (7): 842–847. doi:10.2460/javma.240.7.842. PMID 22443437.
- ^ a b "Tonkinese Genetics: Color, Coat Pattern, Eye Color". Tonkinese Breed Association. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2020.
Đọc thêm
- Susie Page; The Complete Cat Owner's Manual; Fog City Press; ISBN 1-875137-84-X (hardback, 1997)
- Linda Vousden; Tonkinese Cats; TFH/Kingdom; ISBN 1-85279-087-3 (hardback, 1998)
- Linda Vousden; Tonkinese Cats A History; Grosvenor House Publishing; ISBN 978-1-907652-68-4 (softback, 2010)